Chương 11: Quẻ THỦY ĐỊA TỶ

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

Quẻ THỦY ĐỊA TỶ

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

::::|: Thủy Địa Tỷ (比 bǐ)

Quẻ Thủy Địa Tỷ, đồ hình ::::|: còn gọi là quẻ Tỷ (比 (bi3), là quẻ thứ 08 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☷ (::: 坤 kun1) Khôn hay Đất (地).

* Ngoại quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm hay Nước (水).

Giải nghĩa: Tư dã. Chọn lọc. Thân liền, gạn lọc, mật thiết, tư hữu riêng, trưởng đoàn, trưởng toán, chọn lựa. Khứ xàm nhiệm hiền chi tượng: bỏ nịnh dụng trung.

Sư là đám đông, trong đám đông người ta gần gũi nhau, liên lạc với nhau, cho nên sau quẻ Sư là quẻ Tỉ (tỉ là gần gũi, liên lạc).

Chúng ta để ý: quẻ này Khảm trên, Khôn dưới, ngược hẳn với quẻ trước Khôn trên, khảm dưới.

Thoán từ:

比 吉 . 原 筮 , 元 永 貞 , 无 咎 . 不 寧 方 來 , 後 夫 凶 .

Tỉ cát. Nguyên phệ, nguyên vĩnh trinh, vô cữu.

Bất ninh phương lai, hậu phu hung.

Dịch: Gần gũi thì tốt. Bói lần thứ nhì mà được như lần đầu (nguyên phệ) rất tốt, lâu dài, chính thì không có lỗi.

Kẻ nào ở chỗ chưa yên (hoặc gặp trắc trở) sẽ lại với mình (hoặc mình nên vời lại) l kẻ nào tới sau (trễ) thì xấu.

Giảng: Quẻ này là trên đất có nước, nước thấm xuống đất, đất hút lấy nước, cho nên có nghĩa là gần gũi, thân thiết, giúp đỡ nhau.

Lại thêm một hào dương cương, trung chính ( hào 5) thống lĩnh năm hào âm, có cái tượng ông vua (hay người trên) được toàn thể dân (hay người dưới) tin cậy, qui phục do lẽ đó mà gọi là “tỉ”. Nhưng hào 5 đó ở địa vị chí tôn nên phải thận trọng, tự xét mình kỹ càng (nguyên phệ) mà thấy có đủ những đức nguyên, vĩnh, trinh thì mới thật không có lỗi.

“Bất ninh phương lai”, Chu Hi giảng là trên dưới ứng hợp với nhau, chắc là muốn nói hào 5 (trên) và hào 2 (dưới), một dương một âm. Còn ba chữ “hậu phu hung” thì không sách nào cho biết là ám chỉ hào nào, có lẽ là hào trên cùng chăng?

Hào từ

1.初 六 : 有 孚 比 之 , 无 咎 . 有 孚 盈 缶 , 終 來 有 他 吉 .

Sơ lục: Hữu phu, tỉ chi, vô cữu.

Hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha cát.

Dịch: Hào 1, âm : (Mới đầu) có lòng thành tín mà gần gũi nhau thì không có lỗi. Nếu lòng thành tín nhiều như đầy một cái ảng thì có thêm điều tốt khác nữa.

2.六 二 : 比 之 自 內 , 貞 吉 .

Lục nhị: tỉ chi tự nội, trinh cát.

Dịch: Hào 2, âm: Tự trong mà gần gũi với ngòai, chính đáng thì tốt.

Giảng: hào này âm nhu, đắc trung và chính, ở nội quái, ứng hợp với hào 5 dương cương cũng đắc trung và chính ở ngoại quái, cho nên nói là tự trong mà gần gũi với ngoài. Hai bên thân nhau vì đạo đồng chí hợp (cùng trung, chính cả), chứ không phải vì 2 làm thân với bề trên để cầu phú quí, như vậy là chính đáng, không thất thân, nên tốt.

3.六 三 : 比 之 匪 人 .

Lục tam: Tỉ chi phỉ nhân

Dịch: Hào 3 âm: Gần gũi người không xứng đáng.

Giảng: Hào này âm nhu, không trung không chính, chung quanh lại toàn là âm nhu, cho nên ví với người xấu, không xứng đáng.

4. 六 四 : 外 比 之 , 貞 吉 .

Lục tứ: Ngoại tỉ chi, trinh cát.

Dịch: Hào 4, âm: Gần gũi với bên ngoài (hào 5) giữ đạo chính thì tốt.

Giảng: hào âm ở ngôi 4 đắc chính ,tốt hơn hào 3; lại ở gần hào 5, như vậy là thân với người hiền ( 5 trung và chính ) và phục tòng bề trên, cho nên tốt.

5.九 五 : 顯 比, 王 用 三 驅

Cửu ngũ: Hiển tỉ, vương dụng tam khu

Giảng: hào này ở ngôi chí tôn, dương cương mà trung chính, cho nên cả 5 hào âm (cả thiên hạ) đều phục tòng; đạo gần gũi như vậy, là rất quang minh. Ai tòng phục vua thì cứ tới, không tùng phục mà chống lại thì cứ rút lui, không ép ai cả; để cho mọi người tự do tới lui, cũng như đi săn, không bao vây cả bốn mặt mà chừa một mặt cho cầm thú thoát ra. Do đó người chung quanh được cảm hóa, không phải răn đe mà họ cũng giữ được đào trung chính như vua.

6. 上 六 : 比 之 无 首 , 凶 .

Thượng lục: tỉ chi vô thủ, hung.

Dịch: Hào trên cùng, âm: không có đầu mối để gần gũi, xấu.

Giảng: Hào âm này ở trên cùng bất trung, không sao gần gũi với những hào âm dưới được, thế là không có đầu mối, là vô thủy (thủ ở đây có nghĩa là thủy) mà vô thủy thì vô chung, cho nên xấu.

***

Quẻ này nói về phép nhóm bạn tìm thầy. Phải cẩn thận từ lúc đầu, thành tín, trung chính, vì đạo chứ không vì lợi. Và phải để cho tự do, không nên ép buộc.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

8.  水 地 比  Thủy Đa T 

Tỉ Tự Quái比 序 卦
Sư giả chúng dã師 者 眾 也
Chúng tất hữu sở Tỉ.眾 必 有 所 比
Cố thụ chi dĩ Tỉ.故 受 之 以 比
Tỉ giả Tỉ dã.比 者 比 也

Tỉ Tự Quái

Sư là quần chúng đua chen xa gần

Người đông, cần phải hợp quần.

Cho nên quẻ Tỉ theo chân tiếp liền,

Tỉ là tương hợp, tương liên.

Xưa nay, thường cắt nghĩa Tỉ  là: Thân tỉ, Thân phụ (thân cận, phụ giúp), nhưng những chữ này xưa này không còn âm hưởng đến ta nữa; cần phải dùng những danhtừ mới như tương liên, hợp quần, quy dân tụ chúng, mới nói lên được hêt ý nghĩa.

Hào Cửu ngũ ở đây là một vị lãnh đạo anh minh, thống xuất toàn dân thiên hạ.

Quẻ Tỉ đề cập đến sự hợp quần, tương liên, tương trợ, lập nhà, lập nước. Phàm con người sinh ra đều có khuynh hướng hợp quần, sống cùng nhau, chung lưng góp sức, đỡ đần nhau, để xây dựng cuộc đời, chống lại mọi nguy nan hiểm họa, để mưu cầu hạnh phúc. Vì vậy chữ Tỉ là hai chữ Nhân lộn trái lại.

I. Thoán.

Thoán từ

比 . 吉 . 原 筮 元 永 貞 . 無 咎 . 不 寧 方 來 . 後 夫 凶 .

Tỉ. Cát. Nguyên phệ nguyên vĩnh trinh. Vô cữu. Bất ninh phương lai. Hậu phu hung.

Dịch.

Tỉ là quần tụ mới hay,

Suy đi nghĩ lại xem nay thế nào?

Cầm đầu, được đấng anh hào,

Sắt son, chính trực trách sao bây giờ?

Xa, gần nô nức theo hùa,

Kẻ nào lấp lửng, chần chờ, ra chi.

Quẻ Tỉ lấy đề tài chính là quy dân, tụ chúng để dựng nước, lập nhà. Quy dân tụ chúng, mà thựC thi được 3 chữ:  Nguyên, Vĩnh, Trinh mới là hay.

Nguyên là vị quân vương có đức độ, tài ba.

 Vĩnh là mưu đồ được những công trình trường cửu.

Trinh là thực thi được chính đạo.

Người dưới thấy người trên thực thi được ba điều ấy, sẽ quy tụ về. Những ai sống lẻ loi, sẽ tự nhiên chiêu tai họa cho mình.

Thoán Truyện. Thoán viết:   

比 . 吉 也 . 比 . 輔 也 . 下 順 從 也 .  原 筮 元 永 貞 無 咎 . 以 剛 中 也 . 不 寧 方 來 . 上 下 應 也 .  後 夫 凶 . 其 道 窮 也 .

Tỉ. Cát dã. Tỉ phụ dã. Hạ thuận tòng dã.

Nguyên phệ nguyên vĩnh trinh vô cữu. Dĩ cương trung dã. Bất ninh phưong lai. Thượng hạ ứng dã. Kỳ đạo cùng dã.

Dịch:

Thoán rằng: Hiệp nhất mới hay,

Tưong liên, tương trợ, xưa nay lẽ thường,

Dưới thời trung thuận, mới đang,

Người trên thời phải đàng hoàng, thanh cao,

Bền gan, chính trực, mới hào,

Hỏi lòng được thế, ai nào trách chi.

Quang minh, chính trực, uy nghi,

Ở ngôi trung chính, ai bì được đâu.

Gần, xa, quy tụ trước sau,

Duới trên ứng đối, gót đầu tương thân.

Lần khân, chẳng muốn hợp quần,

Những người như thế dần dần bại vong.

Người ta không thể tự mưu lấy an ninh, nên muốn hợp quần, chung lưng, đấu sức để bảo vệ lẫn nhau. Cho nên lúc hiểm nghèo, bất an thì vội vàng liên đới, hợp quần. Nếu sống riêng rẽ, lừng chừng, không chịu đoàn kết với nhau, ắt sẽ gặp họa hung.

Kiến An Khâu Thị bình rằng:

Tiên vương xưa chia dân thành từng chòm xóm năm mười nhà; canh tác trong cùng mộ cánh đồng, uống nước trong cùng một giếng nước, ra vào bè bạn với nhau, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống thường nhật, phù trì nhau những lúc tật nguyền, thế cho nên được yên vui. Còn như để dân tan đàn, sẻ nghé, mỗi người bạt lạc một ngã, thì hung họa biết chừng nào.

II.  Đại Tượng Truyện.

象 曰 . 地 上 有 水 . 比 . 先 王 以 建 萬 國 . 親 諸 侯 .

Tượng viết:

Địa thương hữu thủy. Tỉ. Tiên vương dĩ khuyến vạn quốc, thân chư hầu.

Dịch. Tượng rằng:

Nước trên mặt đất mênh mang,

Tiên vương lập quốc, an bang theo đời.

Thân tình gieo rắc khắp nơi,

Chư hầu coi thể như người tình thân.

Tượng Truyện cho rằng xưa kia vua chúa trông thấy cảnh tượng đất, nưóc quấn quít lấy nhau, không hề rời nhau, xa nhau, bèn áp dụng ý niệm đó vào công việc tổ chức chính trị, xã hội, chia đất đai thành nhiều nước nhỏ, ủy nhiệm cho chư hầu cai trị, còn nhà vua thì cầm cân, nẩy mực ở trên, coi chư hầu như tay chân, coi dân chúng như mình mẩy, lúc nào cũng lo lắng, thương yêu dân. Thế là chia dân nước mình thành từng quốc gia, từng khu vực nhỏ, để dễ bề chăm sóc. Thật là chí tình vậy.

III. Hào Từ & Tiểu Tượng Truyện.

Các Hào bàn về những nguyên tắc chi phối sự hợp quần, tương thân, tương trợ:

1. Hào Sơ Lục.

初 六  .  有 孚 比 之 . 無 咎 . 有 孚 盈 缶 . 終 來 有 他 . 吉 .

象 曰 .   比 之 初 六 . 有 他 吉 也 .

Sơ Lục. Hữu phu tỉ chi. Vô cữu. Hũu phu doanh phẫu.

Chung lai hữu tha cát.

Tượng viết:

Tỉ chi sơ lục. Hữu tha cát dã.

Dịch.

Thành tâm tụ chúng mới hay,

Tâm thành như bát nước đầy tốt sao,

Rồi ra tốt tự ngoài vào,

Tượng rằng:

Thành tâm, tụ chúng tự ban đầu,

Tốt đẹp rồi ra sẽ đến sau.

Hào Sơ  cho rằng muốn quy dân, tụ chúng, cần phải có lòng thành khẩn, trung thực. Đó là đều kiện tiên quyết. Nếu mà mình xử sự với mọi người như bát nước đầy, thì mọi sự tốt đẹp sẽ do đó sinh ra.

2. Hào Lục Nhị.

六 二 .      比 之 自 內 . 貞 吉 .

象 曰 .      比 之 自 內 . 不 自 失也 .

 Lục nhị. Tỉ chi tự nội. Trinh cát.

Tượng viết:

Tỉ chi tự nội. Bất tự thất dã.

Dịch:

Đáp lời triệu thỉnh với tâm thành,

Chính đáng rồi ra sẽ tốt lành.

Tượng rằng:

Đáp lời triệu thỉnh với tâm thành,

Sẽ giữ chu toàn được tiết danh.

Hào Lục nhị. Nếu gặp được vị quốc quân cao minh tài đức, thì dĩ nhiên mình nên hưởng ứng, nên cộng tác. Nhưng hưởng ứng, cộng tác không phải là ca6`u cạnh, là tự hạ phẩm giá mình; ăn có mời, làm có khiến mới hay. Phải như Y Doãn, Khổng Minh, chờ cho có sự triệu thỉnh chân thành, rồi mới hưởng ứng.

3. Hào Lục tam.

六 三 .    比 之 匪 人 . 

象 曰 .    比 之 匪 人 . 不 亦 傷 乎 .

Lục Tam. Tỉ chi phi nhân

Tượng viết:

Tỉ chi phi nhân. Bất diệc thương hồ.

Dịch.

Kết liên với kẻ chẳng hay.

Tượng rằng:

Kết liên với kẻ chẳng hay,

Kết liên như thế, thương thay cho người.

Hào Lục tam cho rằng: Khi hợp quần hay kết liên, ca6`n phải liên kết với người hay, người tốt mới có lợi, có ích. Nhược bằng liên kết với phường vô lại, lưu manh, thì chỉ có tổ họa hại mà thôi. Thật vậy, hợp quần, liên kết với những hạng vô luân, vô lại, nhỏ thì thành côn quãng, du đãng, lớn thì thành cướp, thành giặc, còn gì đáng sợ hơn.

4.  Hào Lục Tứ

六 四 .    外 比 之 . 貞 吉 .

象 曰 .    外 比 於 賢 . 以 從 上 也 .

Lục tứ. Ngoại tỉ chi. Trinh cát

Tượng viết: 

Ngoại tỉ ư hiền. Dĩ tòng thượng dã.

Dịch.

Kết liên với bậc hiền minh,

Thế thời chính đáng, tốt lành biết bao.

Tượng rằng:

Bên ngoài, liên kết hiền minh,

Tức là theo bậc trên mình đó thôi.

Hào Lục tứ cho rằng: Đã ở ngôi vị cậ thần, mà biết quên những lợi lộc, những tư tình nhỏ nhen, để hoàn toàn phục vụ minh chúa, thì còn gì hay hơn nữa. Đó là hiền thần mà gặp minh quân, chung lưng, góp sức mà xây dựng quốc gia.

5. Hào Cửu ngũ.

九 五 .      顯 比 . 王 用 三 驅 . 失 前 禽 . 邑 人 不 誡 . 吉 .

象 曰 .      顯 比 之 吉 . 位 正 中 也 . 舍 逆 取 順 . 失 前 禽 也 .

                邑 人 不 誡 . 上 使 中 也 .

Cửu ngũ. Hiền tỉ. Vương dụng tam khu. Thất tiền cầm.

Ấp nhân bất giới. Cát.

Tượng viết:

Hiền tỉ chi cát. Vị chính trung dã.Xả ngịch thủ thuận.

Thất tiền cầm dã. Ấp nhân bất giới. Thượng sử trung dã.

Dịch.

Tụ chúng, quy dân, phép rõ ràng.

Vua vây ba mặt, bắt chim muông,

Phía trước chim bay, đành bỏ mất.

Dân không thắc mắc, mới là ngoan.

Tượng rằng:

Chiêu dân, phép đã rõ ràng,

Là nhờ trung chính, đành hoàng, mới hay.

Chẳng ưng, ta chẳng ép người,

Người nào ưng chịu, ta vời về ta,

Chim bay trước mặt bỏ qua,

Người không thuần phục, vét vơ làm gì.

Dân không thắc mắc điều chi,

Vì ta trung chính, không vì, không thiên.

Hào Cửu Ngũ là một vị minh quân, minh chính, lỗi lạc như Bắc Thần, để muôn sao hướng về. Vị minh quân đó lấy tài sức, chính nghĩa của mình làm chiêu bài để quy tụ dân, chứ không dùng sự khủng bố áp bức, ai muốn theo thì theo, không cưỡng ép.

Thế tức là:

Tiễn đưa người muốn ruỗi rong,

Sẵn sàng đón rước kẻ mong về minh.

Người có đức, tâm thành khen ngợi,

Người vô năng, cảm nỗi xót thương.

Dĩ nhiên hiền đức tu phương,

Mến ta, họ sẽ tìm đường về ta.

             (Trung Dung Cửu Kinh)

Người xưa gọi thế là: Lai giả bất cự, khứ giả bất truy. (Tới không ngăn, đi không bắt).

6. Hào Thượng Lục.

上 六  .     比 之 無 首 . 凶 .

象 曰 .      比 之 無 首 . 無 所 終 也 .

Thượng lục. Tỉ chi vô thủ. Hung.

Tượng viết:

Tỉ chi vô thủ. Vô sở chung dã.

Dịch:

Tụ dân chẳng có mối manh,

Không manh, không mối, tốt lành làm sao.

Tượng rằng:

Tụ dân, mà hỏng từ đầu

Lúc đầu đà hỏng, thời sau còn gì?

Hào Thượng Lục kết thúc vấn đề quy dân, tụ chúng bằng một nhận xét tinh tế: nếu quy dân, tụ chúng lúc ban đầu thiếu chính nghĩa, không ra gì, thì chung cuộc cũng chẳng ra chi.

ÁP DỤNG QUẺ TỈ VÀO THỜI ĐẠI

Quẻ Tỉ áp dụng một định luật tự nhiên vào đời sống xã hội: đó là định luật vạn vật hấp dẫn. Định luật vô hình ấy được thể hiện nơi đất và nước. Đất và nước bao giờ cũng tương thân, tương trợ. Suy ra con người phải tương thân, tương trợ, phải thành khẩn để chung lưng, góp sức cùng nhau, mới có thể xây dựng cho mình một tương lai hạnh phúc và lý tưởng.

Để trình bầy lại những nguyên tắc chi phối sự quy dân, tụ chúng theo từ ngữ hiện thời, chúng ta có thể nói như sau:

1. Người được ủy nhiệm có sứ mệnh tổ chức chính trị, hành chánh trong nước phải là người tài ba lỗi lạc, chứ không phải là những hạng chính trị gian ngoan, giảo quyệt.

a) Làm rồi, xin lỗi, rồi giải thích

b) Làm rồi chối, rồi đổ lỗi cho người.

c) Chia rẽ để mà trị (Tức là gây rối loạn trong hàng ngũ ngưòi, trong dân nước người, để đứng ngoài thủ lợi).

2. Quy dân, tụ chúng, dựng nước, dựng nhà, tổ chức xã hội phải có mục đích cao đại lâu dài, đó là đem lại tự do, hạnh phúc cho dận chúng, và giúp cho mọi người có điều kiện thuận tiện để thực hiện nhân vị, nhân cách mình. Quẻ Tỉ có mục đích đề cao tình tương thân, tương trợ giữa vua tôi, sự đoàn két nhất trí giữa các phần tử nắm chánh quyền để phục vụ chúng dân, sự thành khẩn trong khi giao tiếp, đối đãi, và sự đồng tâm, nhất trí của mọi người trong thiên hạ, để tiến tới thái bình thịnh trị, tiến tới lý tưởng.

Thánh nhân xưa đã có ý niệm: bốn bể là một nhà, muôn nước là một nhà. Nếu sau này mọi người đều chủ trương tương thân tương ái, đoàn kết, trọng nhân, trọng nghĩa, coi biên cương bờ cõi quốc gia nhỏ hẹp như là một cách tổ chức để mọi người được săn sóc một các chu đáo hơn, cẩn thận hơn, nếu mọi người sau này thực tình lấy đạo nghĩa mà đối xử vói nhau, thực tình đoàn kết với nhau, thì chiến tranh sẽ hết và một thời đại thân ái, hoà mục sẽ có trên hoàn võ này.

Chương 10: Quẻ ĐỊA THỦY SƯ
Chương 12: Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc
Chia Sẻ Bài Viết