Chương 17: Quẻ HỎA THIÊN ĐẠI HỮU

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ HỎA THIÊN ĐẠI HỮU

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

||||:| Hỏa Thiên Đại Hữu (大有 dà yǒu)

Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu, đồ hình ||||:| còn gọi là quẻ Đại Hữu (大有 da4 you3), là quẻ thứ 14 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☰ (||| 乾 qian2) Càn hay Trời (天).

* Ngoại quái là ☲ (|:| 離 li2) Ly hay Hỏa (火).

Giải nghĩa: Khoan dã. Cả có. Thong dong, dung dưỡng nhiều, độ lượng rộng, có đức dầy, chiếu sáng lớn. Kim ngọc mãn đường chi tượng: vàng bạc đầy nhà.

Giải thích của người Việt: Bổ sung thêm tượng: sở hữu tài sản vật chất và tinh thần ở mức cao nhất.

Đã cộng đồng với mọi người thì mọi người về với mình, mà sở hữu của mình cũng lớn, cho nên sau quẻ Đồng nhân, tới quẻ Đại hữu (có lớn).

Thoán từ:

大有: 元亨.

Đại hữu: Nguyên hanh.

Dịch: Có lớn thì rất hanh thông.

Giảng: ☲ ở trên Càn là lửa ở trên trời, chiếu sáng mọi vật như vậy là “có lớn” Ly lại có nghĩa là văn minh, Càn là cương kiện, gồm cả văn minh và cương kiện cho nên rất hanh thông.

Theo Thoán truyện: Còn một cách giảng nữa: quẻ này chỉ có một hào âm, nó thống lĩnh quần dương, 5 hào dương đều theo nó, có nghĩa là mọi người về với nó, mà nó được “có lớn”. Sở dĩ nó thống lĩnh được vì nó ở ngôi tôn mà lại đắc trung. Nó ứng hợp với hào 2, dương ở giữa quẻ Càn, như vậy nó vừa văn minh vừa cương kiện, ứng với trời (Càn) mà hành động đúng với thời.

Đại tượng truyện khuyên: người quân tử trong quẻ này phải ngăn đón ngay điều dữ khi nó chưa phát hiện, và biểu dương điều tốt khi nó còn mập mờ để thuận mệnh tốt của trời (át ác dương thiện, thuận thiên hưu mệnh: chữ hưu ở đây là tốt).

Hào từ:

1.

初九: 无交害, 匪咎; 艱則无咎.

Sơ cửu: Vô giao hại, phỉ cữu; nan tắc vô cửu.

Dịch : Hào 1. dương : chưa làm việc gì tai hại, chưa có lỗi; nhưng phải (cẩn thận) cư xử như gặp lúc gian nan thì mới khỏi lỗi.

Giảng: Đại hữu là có lớn. Hào 1 như con một nhà giàu sang, còn trẻ, chưa làm gì tai hại thì chưa có tội, nhưng vì là con nhà giàu, ít người ưa, nếu lại kiêu căng xa xỉ thì sẽ gây oán ghét, cho nên Hào từ khuyên sống trong cảnh gian nan thì mới khỏi tội.

2.

九二: 大車以載, 有攸往, 无咎.

Cửu nhị: đại xa dĩ tái, hữu du vãng, vô cửu.

Dịch: Hào 2, dương : xe lớn chở nặng, đi chốn nào (ý nói làm gì) cũng được, không có lỗi.

Giảng: Hào này tốt nhất trong quẻ : dương cương mà đắc trung, vừa có tài vừa khiêm tốn, được hào 5, âm ở trên ứng hợp, như được vua hết sức tin dùng sẽ thành công, cho nên ví với cỗ xe lớn chở nặng đi đường xa, đâu cũng tới được.

3.

九三: 公用亨于天子, 小人弗克.

Cửu tam: Công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân phất khắc.

Dịch: Hào 3, dương : như bậc công (hầu) mở tiệc mời thiên tử hạng tiểu nhân không đương nổi việc đó.

Giảng: Thời xưa chữ [ 亨 ] đọc là hanh (nghĩa là hanh thông) mà cũng đọc là hưởng) nghĩa là hưởng dụng, dâng, yến tiệc, lễ lớn) Chu Hi hiểu là triều hiến. R.Wilhem hiểu là đem đất đai của cải dâng thiên tử, hoặc cho dân chúng.

Chúng tôi theo Phan Bội Châu mà dịch như trên. Hào 3 này dương cương đắc chính, đứng trên cùng nội quái, cho nên ví với một bậc công; ở vào thời Đại hữu tất có nhiều đất đai, nhân dân; nên bậc thiên tử cũng nể, tới dự tiệc do vị công đó đãi. Những phải là người quân tử, có đức hạnh, không kiêu, mới làm như vậy được; còn hàng tiểu nhân, thấy thiên tử tới nhà mình càng kiêu căng, xa xỉ thì không đương nổi danh dự đó, mà chỉ hại thôi (tiểu nhân hại dã – lời Tiểu tượng truyện)

4.

九四: 匪其彭, 无咎.

Cửu tứ: phỉ kỳ bành, vô cữu.

Dịch: Hão, dương: đừng làm ra vẻ thịnh vượng (khoe của, sống sang quá) thì không có lỗi.

Giảng: Chữ bành [ 彭 ] ở đây, Trình tử hiểu là thịnh vượng; Phan Bội Châu dẫn câu “Hành nhân bành bành” trong Kinh Thi mà hiểu là rầm rộ. Chúng tôi châm chước hai nghĩa đó mà dịch như trên.

Hào này ở địa vị cao, gần hào 5, mà bất trung , bất chính, e có họa tới nơi, nên Hào từ khuyên phải khiêm tốn, tiết kiệm. Tiểu tượng truyện cũng khuyên phải phân biệt thị phi họa phúc cho rành thì mới khỏi lỗi.

5.

六五: 厥孚交如, 威如, 吉.

Lục ngũ: quyết phu giao như, uy như, cát.

Dịch: Hào 5, âm: Lấy đức tin, chí hành mà giao thiệp, và phải có uy thì tốt.

Giảng: Hào này ở vị chí tôn, đượccả 5 hào dương theo, nên phải đem đức tin, lòng chí thành mà đối đãi với người dưới. Nhưng vì là âm, nên ngại rằng quá nhu, nên Hào từ khuyên phải có chút uy mới được.

Tiểu tượng truyện cơ hồ hiểu khác, bảo phải dùng uy vũ, đừng khinh dị mà phải phòng bị đạo tắc (uy như chi cát, dị nhi vô bị dã) .

6.

上九: 自天祐之, 吉, 无不利.

Thượng cửu: tự thiên hựu chi, cát, vô bất lợi.

Dịch: hào trên cùng, dương : tự trời giúp cho, tốt, không có gì mà chẳng lợi.

Giảng: Ở thời Đại hữu, thịnh trị, hào dương cương này ở trên cùng mà chịu hạ mình theo hào 5, chỉ vì 5 có đức thành tín; như vậy là không kiêu, tuy thịnh mà không đầy tràn, nên được trời giúp cho, hóa tốt, chứ lẽ thường hào cuối cùng, Đại hữu đã đến màn cuối, khó mà tốt được.

Khổng tử đọc tới hào này bảo: “Trời sở dĩ giúp cho là vì thuận với đạo trời; người sở dĩ giúp cho là vì có lòng thành tín” . Ông muốn nói hào 5 được các hào khác giúp là vì có lòng thành tín; còn hào trên cùng được trời giúp vì thuận với đạo trời: trọng người hiền (hào 5) không kiêu.

Quẻ này khuyên chúng ta sống trong cảnh giàu có, nên khiêm, kiệm: giao thiệp với người , nên chí thành.

Phan Bội Châu nhận xét rằng trong 64 quẻ , không quẻ nào tốt đều như quẻ này: hào 1, 2, 3 đều không có lỗi, hào 4 được hanh thông, hào 5 tốt, hào 6 đã tốt hơn nữa, “không có gì mà chẳng lợi”. Ngay đến quẻ Càn, quẻ Thái hào cuối cùng cũng xấu, kém quẻ này. Đại hữu chính là thời thịnh trị sau thời đại đồng.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

14.  火 天 大 有  HỎA THIÊN ĐẠI HỮU  

Đại Hữu Tự Quái大 有 序 卦
Dữ nhân đồng giả.與人 同 者
Vật tất quy yên.物 必 歸 焉
Cố thụ chi dĩ Đại Hữu.故 受 之 以 大 有

Đại Hữu Tự Quái

Được người, vật cũng theo chân về mình.

Cho nên Đại Hữu mới sinh.

Đại Hữu là giàu to, có lớn. Khi đã đồng tâm, hiệp ý với người rồi, tự nhiên của cải sẽ theo về. Vì thế, được lòng người sẽ giàu to, có lớn. Do đó quẻ Đại Hữu tiếp sau quẻ Đồng Nhân. Đại Hữu quan niệm rằng cầm đầu dân nước mà được lòng lê thứ, được lòng các bậc hiền minh, anh kiệt trong nước sẽ trở nên giàu có vô ngần. Đó cũng là chủ trương của Đại Học. Quẻ Đại Hữu còn dạy cách đem lại phú cường cho đất nước.

Đại Hữu trên có Ly là tâm, dưới có Kiền là Trời. Cái giầu có lớn lao nhất mà con người có thể có được nơi trần gian này là làm sao trong tâm khảm có Trời.

Chúng ta sẽ dùng quẻ Đại Hữu làm chiếc chìa khóa thần, chẳng những là để mở khóa then các đạo giáo, để tìm cho ra kho tàng châu báu, đã bị chìm ngập dưới nhiều tầng lơp bóng hình, ngôn ngữ, mà cũng còn là để mở cừa kho tàng tâm hồn ta, để tìm cho thấy tinh hoa của trời đất, ngọc châu vũ trụ, khuất lấp sau những bức tường nhân dục, và những khóa then của u mê.

A. Tân Ước cho rằng: Nước Trời ở trong ta (Luc 17, 20).

B. Đạo Phật cho rằng: Ngọc châu viên giác nằm tại liên hoa tâm. Mà liên hoa tâm đây không phai là những bông hoa sen nghìn cánh nở trong ao, trong hồ trần thế, mà chính là não, là tâm con người.

Vì thế, trong khi mà Thiền tông cho rằng phải Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, thì kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh lại nói bóng bảy đến một người cùng tử, bó kho tàng châu báu muôn dật của nhà cha, mà đi làm tôi tớ ở phương xa. Người cha phải tốn công lắm mới tìm về được, du, dỗ lắm cuối cùng mới trao lại được cho hắn gia tài châu báu đó. Khi đã nhận được kho tàng rồi, người cùng tử đó mớ reo lên: ta vốn không lòng mong cầu, nay kho tàng châu báu này tự nhiên mà có.

Chúng ta chẳng hẹn mà gặp nhau nơi này, trên muôn vạn nẻo đường đời, truyền cho nhau những bí quyết của tiên nhân, rồi lại chia tay nhau, bước đi trên những con đường muôn vạn ngã, há chẳng phải vốn không có lòng cầu, mà nay kho tàng châu báu này tự nhiên mà đến hay sao.

C. Dở Áo Nghĩa Thư, Ấn Độ giáo mà suy, mà đọc, ta lại thấy bí quyết: Tâm nội hữu thiên = Hỏa Thiên Đại Hư hiện ra sáng quắc như vừng nhật giữa trong thanh.

Áo Nghĩa thư viết:

Dung quang Ngài khó mà cầu,

Mắt trần sau trước thấy sao được Ngài.

Biết Ngài trong dạ, ấy ai,

Tâm thần biết thế, muôn đời trường sinh.

Maitri Upanishad viết:

Tâm thường có 2 chiều, 2 vẻ,

Vẻ phàm phu và vẻ thanh cao.

Phàm phu, dục vọng rạt rào,

Lòng cố giữ thập phần tĩnh lãng,

Đứng ù lì, phá tán lòng ai.

Hòa đồng, hiệp nhất với Trời,

Ấy là tuyệt diệu, trên đời mấy ai.

Lòng chớ để pha phôi lạc lõng,

Tội tình chi, lóng ngóng Đông Tây,

Đáy lòng, giải thoát là đây,

Giác minh vô tận, cũng ngay đáy lòng.

Hãy cố gắng tập trung thần trí,

Thời oan khiên, phiền lụy tiêu tan,

Hòa đồng, phối hợp Atman,

Ấy là hạnh phúc muôn ngàn tả sao?

Diễm tuyệt ấy, lời nào tả xiết,

Chỉ tâm thần mới biết, mới hay.

Nước kia, nước nọ hòa hài,

Lửa phừng trong lừa, ai tài biện phân.

Khí pha khí, ai lần manh mối,

Đã hiệp rồi, khó nỗi hia ly,

Tâm thần mà nhập huyền vi,

Thời thôi trần cấu, còn chi bận lòng.

Lẽ giải kết ở trong hoàn võ,

Đều do tâm, dây nhợ mối manh,

Lụy là, bám víu sự tình,

Tâm không lụy vật, âu đành thần tiên.

Và còn nhiều sách như; Đạo Đức Kinh, Đại Thừa Chân Giáo (Cao Đài), đều có chủ trương Tâm nội hữu thiên = Thiên nhân hợp nhất.

Sau khi đã nói qua về những bậc thánh hiền đắc Thiên, đắc đạo, ta trở về quẻ Đại Hữu, với những lời bàn giải thực dụng, thực tế là làm thế nào trở nên giàu có, hùng mạnh.

I. Thoán.

Thoán Từ.

大 有 . 元 亨 .

Đại Hữu. Nguyên Hanh.

Dịch:

Quẻ Đại Hữu vì hay nên tốt.

Thoán Từ cho rằng vị quốc quân phải hoàn thiện, rồi ra công việc mới trôi chảy được (Nguyên hanh).

Thoán Truyện.

彖 曰 . 大 有 . 柔 得 尊 位 . 大 中 而 上 下 應 之 . 曰 大 有 . 其 德 剛 健 而 文 明 . 應 乎 天 而 時 行 . 是 以 元 亨 .

Thoán viết: Đại Hữu. Nhu đắc tôn vị đại trung. Nhi thượng hạ ứng chi. Viết Đại Hữu. Kỳ đức cương kiện nhi văn minh. Ứng hồ thiên nhi thời hành. Thị dĩ nguyên hanh.

Dịch. Thoán rằng:

Quẻ Đại Hữu: nhu cư tôn vị,

Ngôi đại trung muôn vẻ gồm thâu.

Dưới, trên, ứng hợp hồi đầu,

Trong lòng mạnh mẽ, ngoài mầu văn minh.

Thuận Trời, lại thi hành đúng lúc,

Thế cho nên hạnh phúc, hay ho.

Thoán Từ cho rằng vị quốc quân muốn trở nên hùng cường, phú hữu thực sự, cần phải được dân thương, dân tin và trọng, nghĩa là cần phải có uy tín đối vơi dân, từ như Hào Âm ở ngôi tôn cho chúng Dương, tức là chúng dân chầu về (Nhu cư tôn vị đại trung. Nhi thượng hạ ứng chi. Viết Đại Hữu). Ngự Án đề cao quan niệm cần phải đắc hiền tài, mới đi đến Đại Hữu. Như vậy cần phải có một vị nhân quân hư tâm há hiền, như vậy là lợi dụng được cái thông minh, kiến thức của thiên hạ, đó là đường đi tới Đại Hữu.

Chính quyền phải cương quyết và sáng suốt, phải viết thuận lòng dân, lòng Trời, phải biết cải biến theo Trời, luôn luôn theo được đà tiến hóa của thời gian và Lịch sử, để lèo lái con thuyền quốc gia cho hẳn hoi, cho vạn hảo, như vậy mới đi đến phú cường, mới được hanh thông mọi mặt (Kỳ đức cương kiện nhi văn minh. Ứng hồ thiên nhi thời hành).

Muốn cho nước phú cường, quân dân phải thực hiện được chữ Đại Hòa, Đại thuận; vua quan thì như tim óc, dân gian thời như tay chân, tuyệt đối tin cậy lẫn nhau, mới có thể thực hiện Đại Hữu, thực hiện phong doanh, cường thịnh.

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰 . 火 在 天 上 . 大 有 . 君 子 以 竭 惡 揚 善 . 順 天 休 命 .

Tượng viết. Hỏa tại Thiên thượng. Đại Hữu. Quân tử dĩ át ác dương thiện. Thuận thiên hưu mệnh.

Dịch. Tượng rằng:

Đại Hữu là lừ trên Trời,

Hiền nhân xấu dấu, lành thời tán dương.

(Cho đời thêm đẹp, thêm hương).

Đúng theo đường lối, chủ trương của Trời.

Đại Học viết: Đức bản, tài mạt. Cái đức hạnh mới là cái chí quý trong một nước, cho nên bậc Nhân quân phải biết cổ xúy thiện, đức nơi con người, và phải biết kiềm chế, ức chế tính xấu trong dân. Dân có tinh thần mạnh mẽ, nước mới phú cường, dân có tinh thần bệnh hoạn, nước sẽ suy bĩ.

III. Hào Từ & Tiểu Tượng Truyện.

1. Hào Sơ Cửu.

初 九 .       無 交 害 . 匪 咎 . 艱 則 無 咎 . 

象 曰 .       大 有 初 九 . 無 交 害 也 .

Sơ Cửu. Vô giao hại. Phỉ cữu. Gian tắc vô cữu.

Tượng viết:

Đại hữu sơ cửu. Vô giao hại dã.

Dịch. Sơ Cửu:

Không sa đọa vào vòng tệ hại,

Thế là hay, là phải, lỗi chi.

Sống mà chẳng quản gian nguy,

Rồi ra sẽ khỏi điều chê, tiếng cười.

Tượng rằng;

Thuở Đại Hữu còn thời Sơ Cửu,

Không lâm vòng tệ hại  nhiễu nhương.

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, nên nước chỉ phú cường khi mỗi người dân biết nhất quyết không bao giờ làm điều gì di hại cho kẻ khác, và không ngại gian khổ.

2. Hào Cửu Nhị.

九 二 .      大 車 以 載 . 有 攸 往 . 無 咎 .

象 曰 .      大 車 以 載 . 積 中 不 敗 也 .

Cửu nhị. Đại xa dĩ tải. Hữu du vãng. Vô cữu.

Tượng viết:

Đại xa dĩ tải. Tích trung bất bại dã.

Dịch.

Xe lớn sinh ra là để chở,

Phải làm gì, khỏi hổ với ai.

Tượng rằng: Xe lớn chở chuyên,

Chở đầy đức hạnh, há gì rủi ro.

Nước chỉ phú cường, nếu mỗi người có tài, có đức, đều sẵn sàng phục vụ quốc gia, cố lo nho mình trở nên người có thực tài, thực đức, gánh vác nổi được những nhiệm vụ giao phó, chứ không đến nỗi đức bất xứng kỳ vị, mà nếm mùi thất bại chua cay.

Thân hệ bang gia chung hữu dụng,

Thiên sinh hào kiệt mạc ưng hư.

                                 (Nguyễn Công Trứ)

3.  Hào Cửu tam.

九 三 .       公 用 亨 于 天 子 . 小 人 弗 克 .

象 曰 .       公 用 亨 于 天 子 . 小 人 害 也 .

Cửu tam. Công dụng hưởng vu Thiên tử. Tiểu nhân phất khắc.

Tượng viết: 

Công dụng hưởng vu Thiên tử. Tiểu nhân hại dã.

Dịch.

Hào Cửu tam; Công hầu chức trọng

Vì quân vương triều cống, chẳng sai,

(Một lòng trung nghĩ, chẳng ngơi)

Tiểu nhân noi nổi gương người được sao.

Tượng rằng: Công tước tuy cao,

Vẫn vì Thiên tử, há nào riêng tây.

Tiểu nhân ở dịa vị này,

Âu đành họa hại, tự tay chuốc vời.

Nước chỉ phú cường, khi chư hầu, hay những người có một phương, một cõi, không có đầu óc sứ quân, mà chỉ dốc lòng tận trung, báo quốc, luôn luôn tâm nệm rằng mọi sự mình dùng, mình hưởng, đều là ơn vua, lộc nước.

4. Hào Cửu tứ.

九 四 .      匪 其 彭 . 無 咎 .

象 曰 .      匪 其 彭 . 無 咎 . 明 辨 晰 也 .

 Cửu tứ. Phỉ kỳ bành. Vô cữu.

Tượng viết:

Phỉ kỳ bành vô cữu. Minh biện triết dã.

Dịch.

Hào Cửu tứ: giầu có mà không ỷ,

Không ỷ mình, ai kẻ kêu ca,

Tượng rằng: giầu chẳng ỷ mình,

Mới là thông suốt, liễu minh chuyện đời.

Nước chỉ hùng mạnh khi mà các bậc đại thần không có ỷ sang, ỷ thế; ở ngôi cao không lấy làm vinh, mà chỉ lo phục vụ dân, lo sao thực hiện được phú cường, thái thịnh cho đất nước. Thế mới là sáng suốt.

5. Hào Lục ngũ.

六 五 .      厥 孚 交 如 . 威 如 ﹔吉 .

象 曰 .      厥 孚 交 如 . 信 以 發 志 也 . 威 如 之 吉 . 易 而 無 備 也 .

 Lục ngũ. Quyết phu giao như. Uy như cát.

Tượng viết:

Quyết phu giao như. Tín dĩ phát chí dã. Uy như chi cát. Dị nhi vô bị dã.

Dịch.

Hào Lục ngữ: thành tâm đối xử.

Lại uy nghi, muôn sự sẽ hay.

Tượng rằng: Đối xử thành tâm,

Phát huy được chí chúng nhân xa gần,

Uy nghi hay, mới vẹn phần

Khiến người chẳng dám lần khân, khinh thường.

Nước chỉ phú cường khi mà con người trên có đủ tài năng, đức độ, có đủ lòng thành tín, gây được sự tin tưởng cho dân, và có đủ uy nghi để dân kính phục. Có uy tín, bậc lãnh đạo dân mới thực thi thái thịnh cho dân, cho nước được.

6.  Hào Thượng cửu.

上 九 .       自 天 佑 之 . 吉 無 不 利 .

象 曰 .        大 有 上 吉 . 自 天 佑 也 .

Thượng Cửu. Tự nhiên hựu chi. Cát. Vô bất lợi.

Tượng viết:

Đại Hữu thượng cát. tự nhiên hựu dã.

Dịch.

Hào Thượng Củu: Trời cao phù hộ

Nên lợi, hanh, vẹn cả mọi bề.

Tượng rằng: Đại Hữu trên hay,

Là vì được sự tiếp tay của Trời.

Khi mà trong nước có đạo nghĩa hẳn hoi, dân chúng đua nhau theo điều hay, lẽ phải. Trên dưới một lòng cải tiến nhân sinh, cải tiến quốc gia, xã hội, để cho đời sống cộng đồng ngày thêm hoàn hảo, thêm thái thịnh, thì dĩ nhiên là thêm hoàn hảo, thêm thái thịnh, thì dĩ nhiên là theo đúng ý Trời. Đã thuận lòng Trời, dĩ nhiên là được Trời thương, Trời giúp, như vậy mà không hay sao được.

ÁP DỤNG QUẺ ĐẠI HỮU VÀO THỜI ĐẠI

Ngày nay, muốn tiến tới Đại Hữu, tức là tới phú cường, là phong thịnh, tới sự đồng tâm nhất trí của mọi người, là muốn chi đất nước giầu có, ta cần phải có một lành tụ anh minh, làm được cho mọi người nô nức, phấn khởi.

Lại nữa, mọi người cần phải có một khối óc sáng suốt, một tấm thân mạnh mẽ, biết tổ chức, biết chịu đựng, biết các định luật của Trời đất, của vạn vật, ngõ hầu có thể chế ngự, khai thác được ngoại cảnh, phải đồng tâm, hiệp lực, tùy thời, tùy thế mà hành động, dưới sự dìu dắt khôn ngoan của vị Nguyên thủ. Khi mà mọi tổ chức đã tinh tế, đã hoàn hảo, thì còn lo gì mà mọi sự chẳng xuôi. vả lại, một nước giầu có không phải nguyên vì tài vật bên ngoài phong doanh, phú thịnh, mà chính vì dân trong nước có một tâm hồn khang kiện, theo đúng được định luật Trời đất, đi theo được đường ngay, nẽo chính.

Cho nên muốn đánh giá mức giàu có của một dân nước, chẳng những phải bắc cân gia; trị các tài nguyên, các kỹ nghệ, các vấn đề kinh tế bên ngoài, mà cần phải dựa vào tiêu chuẩn tinh thần, đức độ nữa.

Hơn nữa, mọi người dân cũng đều phải giỏi giang, tháo vát, phải cố gắng lao tác, thì nước nhà mới đi tới phúc cường được. Ta hãy nhìn xem nước Hoa Kỳ, nước Nhật bản hiện nay, mọi người dân làm việc hết sức chịu khó, siêng năng. Họ hợp tác chặt chẽ với Chính Phủ, và tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ, đồng thời Chính phủ cũng giúp đỡ, khuyến khích con dân phát triển tài năng đến mức tối đa: Cấp học bổng, cho vay dài hạn tiền cho những sinh viên ưu tú để ăn học cho tới lúc thành tài, để có thể mang tài năng của mình mà đóngười góp cho quốc gia, xã hội. giúp đỡ các nhà bác học để họ có đủ phương tiện mà theo đuổi nghiên cứu, phát minh ra những sáng kiến, ngõ hầu có thể giúp ích cho nhân loại mai sau.

Tổ chức được một xã hội văn minh, tinh tiến, đoàn kết, phú cường như vậy, thực là một điều quý báu nơi trần gian, vì thế gọi là Đại Hữu.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

14.Hoả thiên đại hữu

Ðại cương:

Tên quẻ: ĐẠI HỮU là khoan (rộng lớn)

Thuộc tháng 1.

Lời tượng

Hỏa tại thiên thượng: Đại Hữu, quân tử dĩ át ác dương thiện, thuận thiên hưu mệnh.

Lược nghĩa

Lửa ở trên trời là quẻ Đại Hữu (khoan rộng). Người quân tử lấy đấy mà ấn đều ác xuống, dương thiện lên, thuận theo mệnh tốt của trời.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp giáp:

Giáp hoặc Nhâm: Tý, Dần, Thìn

Kỷ: Dậu, Mùi, Tỵ

Lại sanh tháng 1 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Bụi đời đắm đuối bao phen

Gặp dê hội mới, mới lên dần dần,

Lo sao chân thực mọi phần

Có người Mộc Khẩu ân nhân đấy mà

(Yêu cầu chân dữ thực. Mộc khẩu thị ân nhân)

Hào 1:

Vô giao hại, phỉ cữu, gian tắc vô cữu. Ý hào: Ðã giàu có, không nên quá ham, chịu cực nhọc thì tránh được tai hoạ.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài đức chưa đắc dụng, thừa của mà thiếu danh.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Nhục nhã, gian nan, cố giữ cho khỏi tội lỗi.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: tri cơ, lui ngay, chớ tham lộc vị. _Giới sĩ: đừng vội tiến. _Người thường: kẻ dưới lăng loài người trên. Có sự tai biến, cố trì thủ thì khỏi đổ vỡ.

Hào 2:

Ðại xa dĩ tải, hữu du vãng vô cữu. Ý hào: Làm thành việc lớn.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có tài đức, thời loạn lập công to.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng hưởng phúc thọ, giầu có, chẳng lo sợ gì.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: được phong tướng, xuất sư lập công trạng. _Giới sĩ: tiến tới, thành danh. _Người thường: kinh doanh lợi lớn. Người già giảm thọ.

Hào 3:

Công dụng hưởng vu thiên tử. Tiểu nhân phất khắc. Ý hào: Ông lớn được cấp trên tin dùng.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài cao đức lớn, tận tụy làm việc nước.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Tham có hại, thành khó, bại dễ.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: làm nổi trọng trách. _Giới sĩ: Ðỗ ưu hạng. _Người thường: tại nạn, kiển trệ, lăng nhờn người trên.

Hào 4:

Phỉ ký bành, vô cữu. Ý hào: Chức vụ lớn mà biết dẹp bớt sự kiêu mãn của mình thì đỡ lầm lỗi.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Không kiêu dâm, đã minh lại triết, trước sau tốt lành.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Tham nhỏ chóng đầy, coi bị họa thoán đoạt.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: giữ yên chức vị thì không ai đụng chạm đến. _Giới sĩ: đợi thời thì không bị tước đoạt. _Người thường: an Phận, đau mắt.

Hào 5:

Quyết phu giao như, uy như, cát. Ý hào: Ở ngôi trên phải có oai để trị dân.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Ân uy đi đôi, xa gần đều ứng, lập công to, hưởng phú quí.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Ủy mị, để bị khinh nhờn, ra ơn mà thành oán.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: tri cơ thì thoái. _Giới sĩ: thừa cơ nên tiến(1). _Người thường: xem thời mà động tĩnh, nhưng không nên kiêu mãn mà chịu tai vạ.

Hào 6:

Tự thiên hựu chi; cát, vô bất lợi. Ý hào: Biết khéo sử ở thời Ðại hữu nên trời cũng giúp cho.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Làm lớn mà vẫn khiêm nhường, trời cũng thương, phú quí lâu bền.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng là kẻ sĩ có đạo đức, phong hậu, bình tĩnh, không bị tai họa.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: ngồi vững vàng. _Giới sĩ: tiến, thành danh. _Người thường: kính trên được che chở, nhà nông thịnh vượng.

Chương 16: Quẻ THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN
Chương 18: Quẻ ĐỊA SƠN KHIÊM
Chia Sẻ Bài Viết