Chương 18: Quẻ ĐỊA SƠN KHIÊM

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ ĐỊA SƠN KHIÊM

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

::|::: Địa Sơn Khiêm (謙 qiān)

Quẻ Địa Sơn Khiêm, đồ hình ::|::: còn gọi là quẻ Khiêm (謙 qian1), là quẻ thứ 15 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☶ (::| 艮 gen4) Cấn hay Núi (山).

* Ngoại quái là ☷ (::: 坤 kun1) Khôn hay Đất (地).

Giải nghĩa: Thoái dã. Cáo thoái. Khiêm tốn, nhún nhường, khiêm từ, cáo thoái, từ giã, lui vào trong, giữ gìn, nhốt vào trong, đóng cửa. Thượng hạ mông lung chi tượng: tượng trên dưới hoang mang.

Đại hữu là thời rất thịnh, không nên để cho quá đầy, mà nên nhún nhường, nên Khiêm.

Thoán từ

謙: 亨, 君子有終.

Khiêm: Hanh, quân tử hữu chung.

Dịch: Nhún nhường, hanh thông, người quân tử giữ được trọn vẹn tới cuối.

Giảng: Trên là đất, dưới là núi. Núi cao, đất thấp, núi chịu ở dưới đất là cái tượng nhún nhường. Khiêm hạ. Vì vậy mà được hanh thông.

Quẻ này chỉ có mỗi một hào dương, dùng nó làm chủ quẻ.

Thoán truyện bàn thêm: Khiêm là đạo của trời, đất và người .

Trời có đức khiêm vì ở trên đi xuống chỗ thấp mà sáng tỏ; đất có đức khiêm vì chịu ở dưới mà đi lên. Đạo trời, cái gì đầy thì làm cho khuyết đi, cái gì thấp kém (khiêm) thì bù đắp cho (Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm). Đạo đất, đạo quỉ thần cũng vậy. Còn đạo người thì ghét kẻ đầy, tức sự kiêu căng thỏa mãn, mà thích kẻ khiêm tốn (Nhân đạo ố doanh nhi hiếu khiêm). Hễ khiêm thì ở địa vị cao mà đạo càng sáng, ở địa vị thấp mà chẳng ai vượt mình được.

Đại tượng truyện. Khuyên người quân tử nên bớt chốn nhiều, bù chốn ít, để cho sự vật được cân xứng, quân bình (Biều đa ích quả, xứng vật bình thí).

Hào từ

初六: 謙謙君子, 用涉大川, 吉.

Sơ lục: khiêm khiêm quân tử, dụng thiệp đại xuyên, cát.

Dịch: Hào 1, âm – Nhún nhường, nhún nhường, người quân tử dùng đức ấy để qua sông lớn thì tốt.

Giảng: Hào này âm như mà lại ở dưới cùng, thật là khiêm hạ, dầu gặp hoàn cảnh hiểm nguy nào cũng vượt được.

Tiểu tượng truyện khuyên người quân tử trau giồi tư cách mình bằng đức khiêm hạ, (Khiêm khiêm quân tử, ti dĩ tự mục)

2 六二: 鳴謙, 貞吉.

Lục nhị: Minh khiêm, trinh cát.

Dịch: Hào 2, âm: Tiếng tăm lừng lẫy về đức khiêm, nếu chính đáng thì tốt.

Giảng: hào này nhu thuận, đắc trung, đắc chính, rất tốt, cho nên bảo là tiếng tăm lừng lẫy về đức Khiêm. Nhưng ngại tiếng tăm lừng lẫy thì dễ ham danh, mà hóa ra quá khiêm đến mức giả nhún nhường hoặc nịnh bợ), nên Hào từ khuyên phải giữ đức trung, chính (trinh) của hào 2 thì mới tốt.

3. 九三: 勞謙, 君子 有終, 吉.

Cửu tam: Lao khiêm, quân tử hữu chung, cát.

Dịch: Hào 3, dương : Khó nhọc (có công lao) mà nhún nhường, người quân tử giữ được trọn vẹn, tốt.

Giảng: hào này có đức dương cương, làm chủ cả quẻ, năm hào âm đều trông cậy vào, như người có địa vị (ở trên cùng nội quái), có tài năng (hào dương ) mà khiêm tốn (vì ở trong quẻ Khiêm), không khoe công, nên càng được mọi người phục, mà giữ được địa vị, đức độ tới cùng.

Theo Hệ từ thượng truyện chương VIII, Khổng tử đọc hào này, giảng thêm: “Khó nhọc mà không khoe khoang, có công với đời mà chẳng nhận là ân đức, đức như vậy là cực dày”.

4. 六四: 无不利, 撝謙.

Lục tứ: vô bất lợi, huy khiêm.

Dịch: Hào 4, âm: Phát huy sự nhún nhường thì không gì là không lợi.

Giảng: Hào này nhu thuận mà đắc chính, tốt đấy, nhưng vì ở trên hào 3 là người có công lao, mà lại ở gần hào 5, là vua, nên càng phải phát huy thêm đức khiêm, mới tránh được mọi khó khăn mà không gì là không lợi.

5. 六五: 不富以其鄰, 利用侵伐, 无不利.

Lục ngũ: Bất phú dĩ kỳ lân, lợi dụng xâm phạt, vô bất lợi.

Dịch: Hào 5, âm: chẳng cần giàu (có thế lực) mà thâu phục đựơc láng giềng (được nhiều người theo); nhưng phải có chút uy, chinh phạt kẻ nào chưa phục mình thì mới không gì là không lợi.

Giảng: Hào này âm nhu, đắc trung, ở địa vị chí tôn, nên tự nhiên thâu phục được nhiều người, nhưng nếu nhu quá, thiếu uy thì không phải là tư cách một ông vua, nên Hào từ khuyên nên dùng uy võ đối với kẻ nào chưa phục mình. Hào này có thể dùng uy được vì ở vị dương (lẻ).

6. 上六: 鳴謙, 利用行師, 征邑國.

Thượng lục: Minh khiêm, lợi dụng hành sư, chính ấp quốc.

Dịch: Hào trên cùng, âm: Tiếng tăm lừng lẫy về đức Khiêm, được nhiều người theo có thể lợi dụng điều đó mà ra quân, nhưng cũng chỉ trị được những kẻ trong ấp của mình không phục mình thôi.

Giảng: hào này thể nhu, vị nhu, ở vào thời cuối cùng quẻ Khiêm, cho nên khiêm nhu cùng vực, tiếng tăm lừng lẫy, nhiều người theo đấy; nhân đó mà có thể ra quân chinh phạt những kẻ không theo mình, nhưng vì tài kém, nên chỉ trị được những kẻ trong ấp mình thôi, chưa thỏa chí được.

***

Quẻ này hào nào cũng tốt không nhiều thì ít, không kém quẻ Đại hữu bao nhiêu.

Đa số các triết gia Trung Hoa rất đề cao đức Khiêm, nhất là Khổng tử và Lão tử, vì họ cho rằng luật trời hễ đầy quá thì vơi, trong khi đầy phải nghĩ tới lúc sẽ vơi, phải khiêm hạ, đừng tự phụ.

Không thể dẫn hết những châm ngôn của Trung Hoa về đức khiêm được; trong quẻ này chúng ta đã thấy được mấy câu như Thiên đạo khuy doanh nhi ích khiêm, nhân đạo ố doanh nhi hiếu khiêm, khiêm khiêm quân tử, ti dĩ tự mục. Trong Đạo đức kinh, cũng rất nhiều câu, như: Hậu kỳ thân nhi thân tiên; Qúi dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ; Dục tiên dân tất dĩ thân hậu chi: Bất cảm vi thiên hạ tiên.

Nhưng khiêm nhu của Lão tử có vẻ triệt để, tuyệt nhiên không tranh hơn với ai, mà khiêm nhu trong Dịch thì không thái quá, vẫn trọng đức trung (hào 2).

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

15. 地 山 謙  ĐỊA SƠN KHIÊM    

Khiêm Tự Quái  
Hữu đại giả.有 大 者
Bất khả dĩ doanh.不 可 以 盈,
Cố thụ chi dĩ Khiêm.故 受 之 以 謙

Khiêm Tự Quái

Có nhiều, chớ có ỷ mình tự kiêu.

Quẻ Khiêm vì vậy tiếp theo. 

Quẻ Khiêm là một quẻ tốt nhất trong kinh Dịch. Toàn thể quẻ từ Thoán đến Hào, toàn thấy Hanh, thấy Cát, thấy Lợi. Mới hay Thánh Hiền trọng nhất sự khiêm cung.

Quẻ Khiêm thủ nghĩa ở Hào Cửu tam và ở hình dung của quẻ: một Hào Dương tức là Dương Cương chi tài, mà chịu khuất lấp dưới Hào Âm, siêu việt như núi non mà chịu ẩn mình trong lòng đất, quán thế hiền tài mà sống thầm lặng trong lòng dân, giúp ích cho đời mà không khoe khoang nửa lời, nửa tiếng.

Quẻ Khiêm cũng còn nói lên một định luật hằng cửu của trời đất:

– Cái gì thấp (Khôn= Đất) sẽ được đưa lên cao.

– Cái gì cao ( Cấn= Núi) sẽ bị hạ xuống thấp.

Ta thấy nơi quẻ Khiêm: Khôn là đất lại ở trên, Cấn là núi lại ở dưới. Tất cả quẻ Khiêm đều đề cao sự cần thiết và ích lợi của sự khiêm cung. 

I. Thoán.

Thoán Từ.  

謙:亨,君 子 有 終。

Khiêm. Hanh. Quân tử hữu chung.

Dịch.

Khiêm là khiêm tốn, mới hay.

Việc người quân tử có ngày thành công.

Thoán Từ chủ trương Khiêm tốn rồi ra sẽ đem lại sự thành công mỹ mãn. 

Thoán Truyện.

謙,亨,天 道 下 濟 而 光 明,地 道 卑 而 上 行。天 道 虧 盈 而 益 謙,地 道 變 盈 而 流 謙,鬼 神 害 盈 而 福 謙,人 道 惡 盈 而 好 謙。謙 尊 而 光,卑 而 不 可 踰,君 子 之 終 也。

Thoán viết. Khiêm hanh. Thiên đạo hạ tế nhi quang minh. Địa đạo ti nhi thượng hành. Thiên đạo khuy doanh nhi ích Khiêm. Địa đạo biến doanh nhi lưu Khiêm. Quỷ thần hại doanh nhi phúc Khiêm. Nhân đạo ố doanh nhi hiếu Khiêm. Khiêm tôn nhi quang. Ti nhi bất khả du. Quân tử chi chung dã.

 Dịch. Thoán Truyện

Thoán rằng: Khiêm tốn mới hay.

Trời kia giúp dưới, nên đầy quang minh,

Đất kia chốn thấp, phận đành,

Thấp nên mới có công trình vươn cao.

Trời làm vơi chốn rồi rào,

Mà thêm vào những chỗ nào khiêm cung.

Đất soi mòn, bớt cao phong,

Để cho lòng biển, lòng sông thêm dày,

Quỷ thần hại kẻ no đầy,

Mà đem phúc lại cho người khiêm cung.

Người thường ghét kẻ thừa dùng,

Còn người khiêm tốn thật lòng, thời ưa.

Trên khiêm, thì sáng mãi ra,

Dưới khiêm, ai kẻ hơn ta được nào,

Khiêm cung, giữ vẹn trước sau,

Rồi ra, quân tử gót đầu hanh thông.

-Trên trời, thời mặt trời lên tới đỉnh đầu sẽ phải xế bóng, có lặn xuống lòng trời, thì mới có cơ tiến thăng. Mặt trăng tròn rồi lại khuyết, có vơi rồi lại đầy.

-Dưới đất, núi non thường bị soi mòn, mà lòng biển, lòng sông thời được bồi đắp thêm mãi.

-Trên đời ta thấy thịnh rồi lại suy, suy rồi lại thịnh, các tầng lớp người thay nhau hưởng phú quý, hoặc nếm phong trần, Nhung lụa thường cũng có lúc sa cơ, áo vải vẫn làm nên sự nghiệp. Y thức như Trời, Đất ghen ghét kẻ tài danh, kiêu ngạo, mà phù trợ những kẻ khiêm cung, tự lực, tự cường. Ca vịnh Magnificat cũng có đoạn đại khái như sau:

Xô kẻ quyền uy xuống khỏi ngôi,

Đem người khiêm tốn tới Quỳnh đài.

Hồng ân, đói khổ ban rào rạt,

Bạc mệnh, giàu sang phận khiến xui…

Nhân tình cũng thường ghét kẻ kiêu căng, mà thương người khiêm tốn. Có khiêm cung, đường đời mới được hanh thông, và cuối cùng mới được giàu có.

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰.    地 中 有 山,謙 ﹔ 君 子 以 裒 多 益 寡,稱 物 平 施。

Tượng viết: 

Địa trung hữu sơn. Khiêm. Quân tử dĩ biều đa ích quả. Xứng vật bình thi.

Dịch. Tượng rằng:

Núi trong lòng đất là Khiêm,

Hiền nhân, nhiều bớt, ít thêm, mới là,

Những gì chênh lệch, quá đà,

Sửa sang, thêm bớt, cho vừa, cho cân.

Tượng Truyện cho rằng: Người quân tử khi trị dân cũng phải biết hạn chế quyền uy, giảm bớt tài sản của những kẻ sang giầu, đồng thời cũng phải biết nâng đỡ, khuyến khích những kẻ khó nghèo, ngu muội, như vậy mới giữ được thế quân bình cho xã hội. 

III. Hào từ & Tiểu tượng Truyện 

1.  Hào Sơ Lục.

初 六.     謙 謙 君 子,用 涉 大 川,吉。 

象 曰:   謙 謙 君 子,卑 以 自 牧 也。 

Sơ Lục. Khiêm Khiêm quân tử. Dụng thiệp đại xuyên. Cát.

Tượng viết: 

Khiêm Khiêm quân tử. Ti dĩ tự mục dã.

Dịch.

Quân tử khiêm cung, thế tốt rồi.

Vượt qua sông lớn dễ như chơi.

Tượng rằng: Quân tử  khiêm  nhường,

Nhún mình cốt  để  lo lường tu thân.

Các Hào bàn đến sự lợi ích của sự khiêm cung, cũng như phải khiêm cung thế nào cho hay, cho phải.

Hào Sơ bàn đến sự khiêm cung, nhũn nhặn của người quân tử, khi còn ở địa vị thấp; và cho rằng, nhờ sự khiêm cung ấy, sẽ lướt thắng được mọi sự khó khăn, sẽ dễ dàng tu thân, tu đạo.

2. Hào Lục nhị.

六 二.       鳴 謙,貞 吉。 

象 曰:     鳴 謙 貞 吉,中 心 得 也。 

Lục nhị. Minh Khiêm. Trinh cát.

Tượng viết: 

Minh Khiêm trinh cát. Trung tâm đắc dã.

Dịch.

Lục nhị khiêm cung hiện ra ngoài,

Ôn tồn ăn nói, tốt mấy mươi.

Tượng rằng: Khiêm hiện ra ngoài,

Là vì trong đã đầy rồi, phát ra.

Hào hai dạy rằng:  Khiêm cung phải làm sao cho thành khẩn, trung thực để sự khiêm cung ấy được thể hiện một cách tự nhiên vào lời ăn, tiếng nói. 

3.  Hào Cửu tam.

九 三.      勞 謙,君 子 有 終,吉。 

象 曰:    勞 謙 君 子,萬 民 服 也。

Cửu tam. Lao Khiêm quân tử. Hữu chung. Cát.

Tượng viết: 

Lao Khiêm quân tử. Vạn dân phục dã.

Dịch.

Công lao chất ngất, lại khiêm cung,

Quân tử làm nên việc đến cùng.

Lao Khiêm như vậy, có hay không.

Tượng rằng: Công lớn, lại Khiêm,

Làm cho dân chúng mọi miền, phục tuân.

Hào ba là Hào Dương duy nhất, lại cũng là chủ Hào, tượng trưng người quân tử công đức cao dầy với dân, với nước, mà vẫn khiêm cung một dạ, khiến cho mọi người phải khâm phục. Các nhà bình giải đã mang Hào này để tượng trưng cho vua Hạ Võ, hay Chu Công.

Hạ Võ ra tài trị thủy, đem thái thịnh lại cho chúng dân, mà vẫn không khoe công, cậy tài, cậy giỏi.

Chu Công trong thì phò ấu chúa, ngoài thì trị bình thiên hạ, mà vẫn một mực khiêm cung, một lòng vì vua, vì nước, không bao giờ để cho huyễn tượng công danh, lợi lộc lay chuyển được lòng trung nghĩa, sắt son. Lời lẽ này chẳng khác lời lẽ Thoán Từ bao nhiêu. 

4. Hào Lục tứ.

六 四.      無 不 利,撝 謙。 

象 曰:    無 不 利,撝 謙 ﹔ 不 違 則 也。  

Lục tứ. Vô bất lợi. Vi Khiêm.

Tượng viết: 

Vô bất lợi vi Khiêm. Bất vi tắc dã.

 Dịch. Lục tứ:

Đức Khiêm hãy phát huy.

Rồi ra ích lợi chẳng thiếu gì.

Tượng rằng: Khiêm tốn cho hay,

Đừng Khiêm thái quá, phải tày phép khuôn.

Hào tứ dạy rằng: Khi ở vào bậc trọng thần, phải khiêm cung, thành khẩn, nhất là khi trên mình còn có một vì vua khiêm cung đức độ, dưới mình có một công thần quán chúng mà không kiêu ngạo, cậy mình. Khiêm cung nhưng đúng mực, không a dua, nịnh hót. 

5.  Hào Lục ngũ.

六 五.       不 富 以 其 鄰,利 用 侵 伐,無 不 利。 

象 曰:     利 用 侵 伐,征 不 服 也。 

Lục ngũ. Bất phú dĩ kỳ lân. Lợi dụng xâm phạt. Vô bất lợi.

Tượng viết: 

Lợi dụng xâm phạt. Chinh bất phục dã.

Dịch.

Chẳng ỷ giầu sang, được láng giềng,

Có khi chinh phạt, vẫn là nên.

Tượng rằng: Chinh phạt cũng nên,

Để ai chưa phục. phục quyền mới hay.

Hào năm dạy rằng: Khiêm cung không phải là Nhu nhược, như ở ngôi vị quân vương mà có những dân man, di, Nhung, địch không chịu qui phục mình, thì cũng nên dùng đến uy vũ mà chinh thảo, như vua Thuấn đánh Miêu, vua Võ  dẹp Hung Nô vậy. 

6. Hào Thượng Lục.

上 六.     鳴 謙,利 用 行 師,征 邑 國。 

象 曰:   鳴 謙,志 未 得 也。 可 用 行 師,征 邑 國 也。  

Thượng Lục. Minh Khiêm. Lợi dụng hành sư. Chinh ấp quốc.

Tượng viết:

Minh Khiêm. Chí vị đắc dã. Khả dụng hành sư. Chinh ấp quốc dã.

Dịch.

Thượng Lục: Khiêm cung hiện ra ngoài.

Dẹp loạn  khi cần, lợi hẳn thôi.

Tượng rằng: Khiêm hiện ra ngoài,

Ước nguyền chưa được vẹn mười thỏa thuê,

Tảo thanh trong xứ, ngoài quê,

Xuất sư chinh phạt, cũng khi phải dùng.

Hào Thượng Lục dạy thêm rằng: Khiêm cung nhưng phải khiêm cung cho lý sự, chứ không phải khiêm cung đến mức độ yếu mềm, hèn hạ. Khiêm cung nhưng lúc cần ra uy vũ, dẹp loạn, thì vẫn xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên.

ÁP DỤNG QUẺ KHIÊM VÀO THỜI ĐẠI 

Bất cứ ở vào Thời đại nào, sự Khiêm cung cũng là một đức tính, mà mỗi người trong chúng ta đều nên có. Khiêm cung là cơ vi của sự tồn vong, suy thịnh.

Ở đời  cố gắng mới thành công, có thận trọng mới tránh được họa, có chịu thu phục lòng người, mới có nhân tài cộng tác. Cho nên tương lai chỉ để dành cho những người có lý tưởng để vươn lên, có mục phiêu để đạt tới, tức là cho những người còn thấy mình khuyết điểm chưa hoàn bị. Còn những người tự hào, tự mãn, sống kiêu sa, cao ngạo, tự thị, khinh người, thì thế nào cũng đi vào con đường suy bại.

Các Thánh Hiền xưa nay, không phân Đạo giáo, đều tôn trọng đức Khiêm cung.

Nếu chúng ta có đức Khiêm cung:

Trong gia đình, thì cha mẹ vui lòng, anh em hòa thuận, vợ chồng êm ấm.

Ngoài xã hội, thì được lòng người, dễ làm ăn hơn.

-Về phương diện Quốc gia, nếu người lãnh đạo mà có đức Khiêm cung, thì dễ thu phục lòng người, và sẽ có nhiều nhân tài tới cộng tác với mình hơn.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

15.Ðịa sơn khiêm

Ðại cương:

Tên quẻ: Khiêm là thoái (thoái nhượng, lùi nhường bước, nhũn nhặn).

Thuộc tháng 9.

Lời tượng

Địa trung hữu sơn: Khiêm. Quân tử dĩ hiền đa ích quả, xứng vật binh thi.

Lược nghĩa

Trong đất có núi là quẻ Khiêm (nhún nhường). Người quân tử lấy đất mà bớt chỗ nhiều, bù chỗ ít, làm cho vật cân bằng.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp Giáp:

Bính: Thìn, Ngọ, Thân

Quý hay Ất: Sửu, Hợi, Dậu

Lại sanh tháng 9 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Lẽ đời lo ngại nhiễu phiền

Tấm gương chiếu rọi nhơn tiền hư không

Hào 1:

Khiêm khiêm quân tử,dụng thiệp đại xuyên, cát. Ý hào: Nhún nhường mới đạt được chí.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Biết lẽ khiêm cung, vượt đường nguy nan, trên tin dưới cậy, giữ được đất đai tu dưỡng an nhân.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Lười, thoái bộ, vụng thi thố tài năng, cam tâm Phận dưới.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: giữ chức châu quận, gần dân. _Giới sĩ: chờ được triệu mời. _Người thường: khách buôn, rộng bước giang hồ. Số xấu bị thương tổn.

Hào 2:

Minh khiêm trinh cát. Ý hào: Danh dự lên cao mà vẫn giữ đức chinh.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có tài đức, không xiểm nịnh. Dễ giữ chức ngôn luận, giảng viên, thông tin..

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Ðược tiến cử.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: thăng trật hoặc đổi chức vụ. _Giới sĩ: tiến, thủ, thành danh. _Người thường: không khinh động, nhưng chộp được dịp may.

Hào 3:

Lao khiêm, quân tử hữu chung, cát. Ý hào: Nhường công, góp mặt.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài đức vượt người, lập công to.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng trung thực, được kính mến nơi hương thôn, có đức không khoe, làm ơn không cần báo.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: lên cao. _Giới sĩ: gặp dịp. _Người thường: được lợi nhưng cũng lao tâm tổn sức.

Hào 4:

Vô bất lợi: huy khiêm. Ý hào: Làm đến đâu được đến đấy, mà vẫn nhũn.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có đức tài, lại biết lập ngôn, mà vẫn nhũn nhặn, không giả trá; hưởng phú quí.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng thân cận người hiền, làm gương nơi làng xóm.

XEM – TUẾ – VẬN: Sĩ nông công thương đều thông đạt mà vẫn nhũn nhặn.

Hào 5:

Bất phú dĩ kỳ lân, lợi dụng xâm phạt. Ý hào: Ðức khiêm ở ngôi tôn cũng cần phải biến hóa.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Vì khiêm nhường mà các nhân tài về với mình, công nào chẳng thành, nghiệp nào chẳng vững.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng thành công văn võ, giầu về làng, uy phục được kẻ ngoan cố.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: văn võ kiêm toàn, có binh quyền. _Giới sĩ: đỗ đạt. _Người thường: gặp quí nhân, lợi bội thu, nhưng phòng kiện tụng.

Hào 6:

Minh khiêm, lợi dụng hành sự, chinh ấp quốc. Ý hào: Khiêm nhường và dùng tài có giới hạn thôi.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Theo cổ, Sử sự có đạo lý, làm vũ chức được như ý.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Có nhiều tri kỷ, nhưng ít người giúp mình. Qui mô nhỏ hẹp nơi gia đình thôi.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: được giao quyền quân sự coi bên trong. _Giới sĩ: thi bằng nhỏ, danh cao dần dần. _Người thường: có kiện tụng, nhưng tự nhiên minh giải được.

Chương 17: Quẻ HỎA THIÊN ĐẠI HỮU
Chương 19: Quẻ LÔI ĐỊA DỰ
Chia Sẻ Bài Viết