Chương 20: Quẻ TRẠCH LÔI TÙY

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ TRẠCH LÔI TÙY

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

|::||: Trạch Lôi Tùy (隨 suí)

Quẻ Trạch Lôi Tùy, đồ hình |::||: còn gọi là quẻ Tùy (隨 sui2), là quẻ thứ 17 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn hay Sấm (雷).

* Ngoại quái là ☱ (||: 兌 dui4) Đoài hay Đầm (澤).

Giải nghĩa: Thuận dã. Di động. Cùng theo, mặc lòng, không có chí hướng, chỉ chiều theo, đại thể chủ việc di động, thuyên chuyển như chiếc xe. Phản phúc bất định chi tượng: loại không ở cố định bao giờ.

Dự là vui vẻ, vui vẻ thì có nhiều người theo nên tiếp sau là quẻ Tùy. Tùy là theo.

Thoán từ

隨: 元, 亨, 利, 貞, 无咎.

Tùy: Nguyên, hanh, lợi, trinh, vô cữu.

Dịch: Theo nhau: rất hanh thông, nhưng phải theo điều chính đáng, vì điều chính đáng (trinh) mới có lợi, không có lỗi.

Giảng: Đoài ở trên là vui vẻ, Chấn ở dưới là động; đó là cái tượng hành động mà được người vui theo.

Lại có thể giảng: Chấn là sấm, Đoài là chằm, sấm động ở trong chằm, nước chằm theo tiếng sấm mà cũng động, cho nên gọi là tùy.

Lời thoán từ quẻ này chỉ khác lời Thoán từ quẻ Càn vì có thêm hai chữ “vô cữu” (không có lỗi) ở sau, mà nghĩa thay đổi hẳn. Chúng tôi dịch như trên là theo Chu Hi: nguyên hanh (rất hanh thông) là “đức” (tính cách) của Tùy; còn trinh (chính đáng) là điều kiện để cho Tùy có lợi mà không có lỗi.

Phan Bội Châu hiểu hơi khác: cả nguyên, hanh, lợi, trinh đều là điều kiện để “Tùy” có lợi mà không có lỗi. Theo người nhưng phải theo cái hay, theo đạo ; người có rất thiện (nguyên) , việc có thông thuận (hanh), có cái lợi công (lợi), thì mới nên theo, và khi theo thì phải giữ tiết tháo (trinh) thì mới không có lỗi.

Đại khái ba cách hiểu đó cũng không khác nhau mấy. Mà quẻ Tùy so với quẻ Càn thì kém xa.

Thoán truyện bàn rộng thêm, đưa một điều kiện nữa: Theo mà phải đúng thời mới được. Ví dụ thời Hán, Vương Mãng cũng đã muốn làm một cuộc cách mạng xã hội; rất công bằng, tốt; nhưng thời đó sớm qua, nên thất bại. Tới đời Tống, Vương an Thạch cũng thất bại, như vậy là không hợp thời. Và Thoán truyện nhấn mạnh vào cái nghĩa tùy thời đó. (Tùy thời chi nghĩa đại hĩ tai!)

Hào từ;

1. 初九: 官有渝, 貞吉, 出門交有功.

Sơ cửu: Quan hữu du, trinh cát, xuất môn giao hữu công.

Dịch: Hào 1, dương: chủ trương thay đổi, hễ chính thì tốt, ra ngoài giao thiệp thì có công.

Giảng: chữ “quan” ở đây có nghĩa là chủ, chữ “du” có nghĩa là thay đổi . Chu Hi hiểu là chủ trương thay đổi. Phan Bội Châu hiểu là cái thể của mình thay đổi, vì hào 1 là dương đáng lẽ làm chủ hai hào âm ở trên, nhưng ngược lại phải tùy hai hào đó (vì hào dương ở dưới cùng).

Hiểu theo cách nào thì vẫn : cứ chính đáng, theo lẽ phải, thì tốt (trinh cát). Đừng theo tư tình, mà theo người ngoài (xuất môn) nếu họ phải , thì thành công.

2. 六二: 係小子, 失丈夫.

Lục nhị: Hệ tiểu tử, thất trượng phu.

Dịch: Hào 2, âm: Ràng buộc với kẻ thấp kém (nguyên văn là : con nít) mà mất kẻ trượng phu.

Giảng: Hào này âm nhu,không biết giữ mình, gần đâu tùy đấy, nên ràng buộc với hào 1 dương (tiểu tử), mà bỏ mất hào 5 cũng dương , ở trên, ứng hợp với nó.

Quẻ này, hễ là hào âm thì không dùng chữ tùy là theo, mà dùng chữ hệ là ràng buộc, có ý cho rằng âm nhu thì vì tư tình, hoặc lợi lộc mà quấn quít, còn dương cương thì vì chính nghĩa mà theo.

3. 六三: 係丈夫, 失小子; 隨有求得, 利居貞.

Lục tam: Hệ trượng phu, thất tiểu tử;

Tùy hữu cầu đắc, lợi cư trinh.

Dịch: Hào 3, âm: Ràng buộc với trượng phu, bỏ kẻ thấp kém; theo như vậy cầu xin cái gì thì đựơc đấy, nhưng phải chính đáng mới có lợi.

Giảng: Hào này cũng âm nhu như hào 2, gần đầu thân cận đấy, cho nên thân với hào 4 dương cương, có địa vị ở trên (tức với trượng phu) mà bỏ hào 1 (tiểu tử). Nó xin 4 cái gì cũng được vì 4 hơi có thế lực; nhưng Hào từ khuyên đừng xu thế trục lợi, phải giữ tư cách chính đáng thì mới tốt.

4. 九四: 隨有獲, 貞凶.有孚, 在道, 以明何咎.

Cửu tứ: Tùy hữu hoạch, trinh, hung.

Hữu phu, tại đạo, dĩ minh hà cữu.

Dịch: Hào 4, dương : Theo thì thu hoạch được lớn đấy, nhưng dù lẽ vẫn ngay mà cũng có thể gặp hung được. Cứ giữ lòng chí thành, theo đạo lý, lấy đức sáng suốt mà ứng phó thì không có lỗi.

Giảng: Hào này như một vị cận thần, được vua tin cậy (5 và 4 cùng là dương cả), ở vào thời Tùy là thiên hạ theo mình, như vậy thu hoạch được lớn (có thể hiểu là được lòng dân, hoặc lập được sự nghiệp); nhưng chính vì vậy mà có thể gặp hung (chẳng hạn bị ngờ là chuyên quyền, bị vua ganh ghét như Nguyễn Trãi). Cho nên Hào từ khuyên giữ lòng chí thành theo đạo lý sáng suốt ứng phó (nghĩa là có đủ ba đức: tín, nhân, trí) thì mới khỏi lỗi.

5. 九五: 孚于嘉, 吉.

Cửu ngũ: phu vu gia, cát.

Dịch: Hào 5, dương. Tín thành với điều thiện thì tốt.

Giảng: Hào 5, dương cương, ở vị tôn, trung và chính, lại ứng hợp với hào 2, cũng trung chính, cho nên rất tốt. “Gia” , điều thiện, ở đây là đức trung chính.

6. 上六: 拘係之, 乃從維之.王用亨于西山.

Thượng lục: câu hệ chi, mãi tòng duy chi.

Vương dụng hanh vu Tây Sơn.

Dịch: Hào trên cùng, âm. Ràng buộc lấy, theo mà thắt chặt lấy; Thái Vương nhà Chu, được nhân tâm như vậy mới lập được nghiệp vương hanh thịnh ở Tây sơn (tức Kỳ sơn).

Giảng: Hào này ở cuối quẻ Tùy, là được nhân tâm theo đến cùng cực, như thắt chặt với mình, như vua Thái Vương nhà Chu, lánh nạn rợ Địch, bỏ ấp Mân mà chạy sang đất Kỳ Sơn (năm -1327), người ấp Mân già trẻ trai gái dắt díu nhau theo, đông như đi chợ.

Chúng tôi theo Phan Bội Châu mà dịch câu: “Vương dụng hanh vu Tây sơn” như vậy.

Chu Hi bảo chữ [ 亨 ] phải đọc là hưởng và hiểu là: vua dùng ý thành mà làm tế hưởng ở đất Tây Sơn.

J. Legge cũng dịch như Chu Hi. R.Wilhem cũng đọc là hưởng mà hiểu khác nữa: Vua cho những công thần được phụ hưởng (thờ chung với tổ tiên nhà Chu) ở nhà Thái Miếu tại Tây Sơn.

***

Quẻ này khuyên chúng ta chỉ nên theo chính nghĩa (chứ đừng vì tư tình, vì lợi) và biết tùy thời, như vậy thì tốt tới cùng được (hào cuối, đạt đến cực điểm mà vẫn không xấu.)

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

17. 澤 雷 隨  TRẠCH LÔI TÙY  

Tùy Tự Quái隨  
Dự tất hữu Tùy.豫 必 有 隨,
Cố thụ chi dĩ Tùy.故 受 之 以 隨

Trạch Lôi Tùy

Hân hoan hòa dự, thì thường người theo,

Quẻ Tùy vì thế nối điêu… 

I. Tùy với chữ Thời.

Quẻ Tùy là một trong 12 quẻ Dịch bàn về chữ Thời. Vì thế nơi quẻ Tùy, ta hãy duyệt lại vấn đề chữ Thời, vấn đề thời gian trong Kinh Dịch, cũng như trong cuộc đời…

Có thể nói được rằng thời gian sinh ra là do sự biến dịch, chuyển dịch của vạn hữu.

Trước tiên, tinh cầu và địa cầu chuyển dịch trên vòm trời, tạo nên tháng năm và tuần tiết: đó là Thời gian thiên văn.

Các tế bào trong người ta sinh sinh, hóa hóa, lúc thịnh, lúc suy, lúc tụ, lúc tán, cũng tạo nên một thứ thời gian: đó là Thời gian tuổi tác.

Tâm hồn ta chuyển dịch, biến thiên, vui vui, buồn buồn, lúc thì bừng sáng như bình minh, lúc thì ảm đạm như bóng tối. Sự chuyển dịch ấy cũng tạo nên một thứ thời gian: đó là Thời gian tâm lý. Thời gian đó co giãn không chừng, vì nếu vui thì: ngày vui ngắn chẳng tầy gang. Nếu mà buồn bã, hoặc nhớ Nhung, hay mong đợi, khắc khoải thì một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu.

Tâm tư, chí hướng, dân tình của mỗi dân, mỗi nước cũng biến thiên, tạo nên một thứ thời gian mới, là Thời gian lịch sử. Thời gian như là động cơ, mà không gian như là môi trường chuyển dịch. Thời gian, không gian cũng có thể nói chung là hoàn cảnh, mà tâm hồn ta sẽ băng qua trên lộ trình đi tìm chân lý, hay nói cách khác, trên lộ trình thực hiện con người chân thực của ta. 

II. Tùy với hai chữ: Tùy thời.

Bây giờ, ta trở về quẻ Tùy để giảng rộng 2 chữ Tùy thời. Như trên đã nói, thời gian chỉ là những giai đoạn, những công cụ, những điều kiện cần thiết để chúng ta đào luyện xác thân, trí não, tâm thần, để con người chúng ta trở nên hoàn hảo, toàn chân, toàn mỹ. Như vậy, ta cần phải xác định mục tiêu, và chí hướng của ta, sau đó phải biết quyền biến, tùy thời, xử thế, tùy nghi tiến thoái, để thực hiện mục tiêu ấy. 

III. Tùy áp dụng vào nghệ thuật trị dân

Xã hội chẳng qua chỉ là một tập thể của con người. Cái tập thể ấy, không nên dùng những luật pháp vô nhân, những biện pháp hà khắc để cai trị. Trái lại, phải tổ chức sao cho mọi người đều nhận định ra được thiên chân, thiên lý, nhận định ra rằng mỗi người sinh ra,  kẻ nhanh, người chậm, đều cốt là tạo cho mình một đời sống lý tưởng, gồm đủ Chân, Thiện, Mỹ. 

I. Thoán.

Thoán Từ.

 隨:元 亨 利 貞,無 咎。

Tùy. Nguyên hanh. Lợi trinh. Vô cữu.

Dịch.

Tùy kia cao trọng biết bao,

Hanh thông, lợi ích, bề nào cũng hay.

Nếu mà theo trọn đường ngay,

Thời Tùy mới khỏi mỉa mai miệng đời.

Phương châm thứ nhất: Phải lấy Chân, Thiện, Mỹ, làm mục tiêu để vươn lên, phải lấy sự công chính làm cùng đích để đạt tới, rồi ra cuộc đời của mọi người cũng được hanh thông, cũng được lợi ích thật sự. 

Thoán Truyện.

隨,剛 來 而 下 柔,動 而 說,隨。大 亨 貞,無 咎,而 天 下 隨 時,隨 之 時 義 大 矣 哉!

Thoán viết:

Tùy. Cương lai nhi há Nhu. Động nhi duyệt tùy. Đại hanh trinh vô cữu. Nhi thiên hạ tùy thời. Tùy thời chi nghĩa đại hỹ tai.

Dịch. Thoán rằng:

Cứng xuống dưới mềm,

Đây vừa tác động, kia liền vui theo,

Dưới trên, hòa xướng, thương chiều.

Thời hay mãi mãi, khỏi điều chê bai,

Nếu mà thiên hạ tùy thời,

Tùy thời mà hiểu, lớn thôi không chừng.

Tùy thời dẫu sao cũng vô cùng quan trọng, vì nhờ thời gian và hoàn cảnh, với tất cả sự thách đố cam go của chúng, mà cốt cách của mỗi người, theo đà thời gian, dần dà sẽ được minh định bằng tầm hiểu biết, bằng cái yêu, cái ghét, cái thích thú đặc biệt của mỗi người; niềm tin tưởng, chí hướng, và sự quyết tâm thực hiện chí hướng ấy của mỗi người (Tùy thời chi nghĩa đại hỹ tai).

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰. 澤 中 有 雷,隨﹔ 君 子 以 嚮 晦 入 宴 息。

Tượng rằng: 

Trạch trung hữu lôi. Tùy. Quân tử dĩ hướng hối nhập yến tức.

Dịch. Tượng rằng:

Trong hồ, sấm lặng là Tùy,

Hiền nhân tối đến, lo về nghỉ ngơi. 

Như vậy, nhà vua cai trị dân không phải bằng ý riêng mình, mà chính là bằng ý Trời. Đem luật Trời hằng cửu mà ban cho dân, đem lý tưởng toàn thiện mà làm mục tiêu để cùng nhau tiến tới. Được như vậy là Tùy Thiên, Thuận Thiên.

Phương châm thứ hai: Bậc lãnh đạo dân là phải biết tùy theo ý muốn của toàn dân, vì dân đã muốn tức là Trời muốn, dân đã muốn tức là Trời sẽ theo, nhẽ nào nhà lãnh đạo dân đi ngược lại. Đó cũng là chủ trương của Đại Học. Đại Học viết: Vui sướng thay bậc quân tử, cha mẹ dân, dân ưa thích điều gì, nhà cầm quyền cũng ưa thích theo; dân chán ghét điều gì, nhà cầm quyền cũng chán ghét theo, vì biết thuận theo dân tâm, đó mới gọi là cha mẹ dân vậy.

Sướng thay là bậc trị dân,

Cùng dân yêu ghét, muôn phần chẳng sai,

Đáng làm cha mẹ muôn người. (Đại Học, X)

Mà ước muốn của dân thật là giản dị, làm sao có được một đời sống bình an, sung túc, đầm ấm, thuận hòa, không bị quấy nhiễu, bóc lột, tóm lại sống một cuộc đời đáng sống, không phải thở than, phải xót xa, phải cay đắng, cơ cực. Trị dân mà thuận lòng dân như vậy, thì bất kỳ đề xướng chuyện  gì  dân  cũng  vui  theo,  vì  họ biết đó  là  vì họ, vì  quyền lợi của con cháu họ sau này.

Phương châm thứ ba: Trị dân phải biết bắt chước Trời mà hành sự, lúc cần động thì động, cần tĩnh thì tĩnh, không bắt dân làm gì trái thời tiết, để cho dân luôn sống hòa mình cùng đại khối vũ trụ.

 III. Hào từ & Tiểu Tượng Truyện 

1.  Hào Sơ Cửu.

初 九.     官 有 渝,貞 吉。 出 門 交 有 功。 

象 曰:   官 有 渝,從 正 吉 也。 出 門 交 有 功,不 失 也。

Sơ Cửu. Quan hữu du. Trinh cát. Xuất môn giao hữu công.

Tượng viết: 

Quan hữu du. Tòng chính cát dã. Xuất môn giao hữu công. Bất thất dã.

Dịch.  Sơ Cửu:

Người trên đổi cảnh ở ăn,

Luôn theo lẽ chính, mới rằng là hay

Ra đời xử thuận với đời,

Chiều lòng đại chúng, ắt thời công lao.

Tượng rằng: Trên có đổi thay,

Để theo lẽ chính, nên hay đã đành.

Hào Sơ cho rằng: Trị dân phải có phương châm cao cả, là luôn luôn theo lẽ chính, theo chính đạo, theo lý tưởng. Trị dân mà lâng lâng vẹn sạch niềm tây, treo gương chính nghĩa, tùy thuận nhân tâm, thì còn gì hay hơn. 

2. Hào Lục nhị. 

六 二.      系 小 子,失 丈 夫。 

象 曰:    系 小 子,弗 兼 與 也。

Lục nhị.  Hệ tiểu tử. Thất trượng phu.

Tượng viết: 

Hệ tiểu tử. Phất kiêm dữ dã.

Dịch.

Nếu mà vương lấy kẻ hèn,

Thế nào cũng mất ngưởi hiền, người hay.

Tượng rằng: Vương lấy kẻ hèn,

Được đây , mất đó hai bên chẳng cùng.

Hào hai cho rằng: người trị dân có hai con đường thuận nhân tâm. Một là theo bầy bọn tiểu nhân, theo thị dục, thị hiếu của chúng, thì sẽ mất lòng những người quang minh, chính đại, những người hiền lương. Hai là theo đường lối người quân tử, như vậy sẽ mất lòng tiểu nhân. Không thể nào được lòng cả đôi bên được. 

3.  Hào Lục tam.

六 三 .      系 丈 夫,失 小 子。 隨 有 求 得,利 居 貞。 

象 曰:     系 丈 夫,志 舍 下 也。

Lục tam. Hệ trượng phu. Thất tiểu tử. Tùy hữu cầu đắc. Lợi cư trinh.

Tượng viết:

Hệ trượng phu. Chí xả hạ dã.

Dịch.

Bậc trượng phu, nếu mình giữ lấy,

Kẻ tiểu nhân thấy vậy sẽ xa.

Theo người, muốn sẽ được mà,

Ở ăn chính đáng, mới là lợi lâu

Tượng rằng: Giữ lấy trượng phu,

Rắp lòng bỏ kẻ hạ ngu đã đành.

Còn như thuận theo ước vọng của những người hiền lương, công chính, thì những kẻ gian tà sẽ lánh mặt xa.

Theo được đường lối này, phải cho Cương quyết, bền gan, sau sẽ hay, sẽ lợi, vì có thể cảm hóa được những bọn tiểu nhân, tà ngụy. 

4. Hào Cửu tứ.

九 四.     隨 有 獲,貞 凶。有 孚 在 道,以 明,何 咎。 

象 曰:   隨 有 獲,其 義 凶 也。 有 孚 在 道,明 功 也。

Cửu tứ. Tùy hữu hoạch. Trinh hung. Hữu phu tại đạo. Dĩ minh. Hà cữu.

Tượng viết:  

Tùy hữu hoạch. Kỳ nghĩa hung dã. Hữu phu tại đạo. Minh công dã.

Dịch.

Chiều dân, dân sẽ theo mình,

Chiều dân thái thậm, âu đành chẳng hay.

Một lòng trung chính, thẳng ngay,

Khôn ngoan, khéo xử, thế này lỗi chi.

Tượng rằng: Chiều dân, dân sẽ theo mình,

Chiều dân thái thậm, âu đành chẳng hay,

Một lòng trung chính, thẳng ngay,

Ở ăn phải đạo, thế này là khôn.

Hào tứ cho rằng: cai trị thuận nhân tâm, không phải là cai trị mị dân. Hơn nữa một trọng thần mà được lòng dân, phải biết ăn ở cho phải đạo, để sao cho lòng luôn luôn giữ được sự tín thành, hành động luôn luôn hợp nghĩa lý, ngôi vị tuy cao trọng, mà không mang tiếng lấn vua, quyền thế tuy to tát mà vẫn không đi quá trớn, thế mới là sáng suốt, khéo léo. Đó là trường hợp Đức Trần Hưng Đạo, 3 lần cả phá quân Nguyên, phò vua, cứu nước mà vẫn giữ trọn được niềm thần tử. 

5. Hào Cửu ngũ.

九 五.      孚 于 嘉,吉。 

象 曰:    孚 于 嘉,吉 ﹔位 正 中 也。 

Cửu ngũ. Phu vu gia, cát.

Tượng viết: 

Phu vu gia, cát. Vị chính trung dã.

Dịch.

Cửu ngũ: Khi thịnh đạt, tín thành vẫn giữ,

Giữ tín thành, thế đó mới hay.

Tượng rằng:

Khi hay, mà vẫn tín thành,

Hay là ngôi vị của mình chính trung.

Còn  nhà  vua,  ở  ngôi  vị  cao, mà  luôn luôn  sống thuận theo đạo lý, bao giờ cũng tín thành, hợp lễ nghĩa, xử sự luôn đúng theo hai chữ chính trung, như vậy còn gì đẹp đẽ hơn. 

6. Hào Thượng Lục.

上 六.      拘 系 之,乃 從 維 之。 王 用 亨 于 西 山。 

象 曰:    拘 系 之,上 窮 也。

Thượng Lục. Câu hệ chi. Nãi tòng duy chi. Vương dụng hanh vu Tây Sơn.

Tượng viết:

Câu hệ chi. Thượng cùng dã.

Dịch.

Quấn quít, vấn vương, dính líu nhau,

Dường như thắt buộc chẳng rời nhau,

Thái Vương nhờ thế hưng cơ nghiệp,

Đi đến Tây Sơn, dựng nghiệp lâu.

Hào Thượng Lục cho rằng: Nếu vua và bách quan, ai nấy trước sau đều tha thiết một lòng thuận theo đạo lý, thuận theo chính nghĩa, chính đạo, thuận theo ước nguyện của dân, thuận theo nhân tâm mà trị dân, thì dĩ nhiên dân sẽ qui thuận, sẽ một dạ trung thành với vua, với chính quyền. Sự khắng khít, gắn bó ấy, dẫu chư thần cũng phải cảm động, như vậy lo chi giang sơn không bền vững. Đó là phương pháp lập nghiệp của Thái Vương xưa ở đất Kỳ Sơn vậy.

ÁP DỤNG QUẺ TÙY VÀO THỜI ĐẠI

Muốn cho cuộc đời ta thêm ý nghĩa, ta phải phác họa đạị khái cho ta những chiều hướng, những bước đường của ta sẽ đi, những giai đoạn mà ta muốn vượt, những công trình mà ta muốn làm từ đầu, đến cuối cuộc đời. Được như vậy,  ta  sẽ  sống  một  cuộc đời  thoải  mái, sung sướng, và

cuộc đời chúng ta sẽ là một mùa Xuân bất diệt, và  thời gian sẽ trở nên có ý nghĩa với ta. Ta không còn phải than thở như Lamartine trong bài thơ Le Lac của ông ta:

Phiêu dạt mãi tới bến bờ xa lắc,

Trong đêm tăm, trôi dạt biết về đâu.

Lênh đênh sống trên trùng dương thời khắc,

Chẳng buông neo dừng lại được ngày sao?

Nếu  ta hãy còn trong tuổi vị thành niên, chỉ còn ít tháng nữa là học hết bậc trung học, ta phải phác họa một tương lai cho ta.:

– Nếu dựng sự nghiệp bằng con đường học vấn: Ta phải chọn nghề nào mà năng khiếu ta thích hợp, dân chúng đang cần, và quan trọng nhất là ta có đủ thông minh, kiên nhẫn để  theo đuổi nó tới khi đạt được tới mục đích hay không?. Đó là ta phải tùy theo ngoại cảnh và hoàn cảnh của ta vậy.

– Dựng sự nghiệp bằng con đường thương mại: Ta phải biết tự kiểm xem ta có phải là người thành tín,  xã giao giỏi, có độ lượng, và nhất là phải có năng khiếu về thương mại không? Nếu có, thì ta chỉ cần biết Tùy thời xuất nhập, thì ta đã có thể thành công được rồi.

Bất kỳ làm chuyện gì đều phải dựa vào chữ Tùy, người biết hành động theo chữ Tùy, sẽ biết tiến, thoái, và như vậy trên bước đường đời sẽ dễ dàng giải quyết những chuyện khó khăn mà ta gặp phải hơn.

Ngày nay, chữ Tùy quả là rất cần thiết, và rất hữu dụng cho chúng ta, những người dân sống nơi đất lạ, quê người. Ta phải tùy theo hoàn cảnh, trình độ hiểu biết,  tài năng của mình mà tìm công ăn, việc làm, như vậy sẽ dễ dàng cho ta hơn. Điều quan trọng là ta phải luôn luôn kiên nhẫn và tự tin, đừng bao giờ nản lòng trước một hoàn cảnh khó khăn nào, thì trước sau gì ta cũng sẽ được toại lòng. 

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

17.Trạch lôi tùy

Ðại cương:

Tên quẻ: Tùy là Thuận (theo hoàn cảnh)

Thuộc tháng 7.

Lời tượng

Trạch trung hữu Lôi: Tùy. Quận tử dĩ hướng hối nhập yến tức.

Lược nghĩa

Trong đầm có sấm là quẻ Tùy. Người quân tử lấy đấy mà khi buổi tối đêm đến, nên đi vào sự an nghỉ.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp Giáp:

Canh: Tý, Dần, Thìn

Đinh: Hợi, Dậu, Mùi

Lại sanh tháng 7 là cách công danh phú quý, sanh từ tháng 2 đến tháng 8 cũng phúc dày. Sanh từ tháng 9 đến tháng 1 thì phúc kém.

THƠ RẰNG:

Âm dương xuất xứ phải bày

Tâm can tùng bách coi gì tuyết sương

Hào 1:

Quan hữu du, trinh cát, xuất môn giao hữu công. Ý hào: Tuỳ người tuỳ việc để thay đổi, chỉ cần giữ công bằng ngay thẳng thì không lỗi.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài to đức lớn, giải quyết đại sự.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Có chỗ quyền thế để dựa, giữ công tâm thì không thất bại, nhiều người thuê, hoặc ra ngoài kinh doanh cũng được việc.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: có thay đổi để làm việc chánh đáng. _Giới sĩ: có cơ hội tốt. _Người thường: hoạch lợi .

Hào 2:

Hệ tiểu tử, thất trượng phu. Ý hào: Mất đường lối chữ Tuỳ.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài nhỏ, tính bất định, không thân cận người quân tử. Nữ mệnh lấy chồng quí hiển, được con thứ giúp đỡ.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Làm nô tỳ thay chức thấp kém (tuỳ phái).

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: nên lui bước, không được an ổn, bị điều tiếng, có thể bị giam giữ. Mọi người nên tri cơ, tuỳ hoàn cảnh mà tiến thoái.

Hào 3:

Hệ trượng phu, thất tiểu tử, tuỳ hữu cầu đắc, lợi cư trinh. Ý hào: Ðã tuỳ được điều chính và nhân có thế, lợi được.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Gặp người trên, được như ý. Nhưng bầy nô tộc tiểu nhân nói xấu, cứ từ từ đừng nôn nóng.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Có danh lợi nhưng đường con cái kém. Nữ mệnh được chồng làm nên, nhưng khắc tử tức.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: được tiến cử vinh hiển. _Giới sĩ: gặp quí nhân nên danh phân. _Người thường: doanh mưu đắc lợi, cần giữ nhân nghĩa cần khẩu thiệt.

Hào 4:

Tuỳ hữu hoạch, trinh hung. Hữu phu tại tạo. Dĩ minh, hà cữu. Ý hào: Ðạo tuỳ, dù có đi đến chỗ nguy, nhưng cứ thành thực chính đáng thì không lỗi gì.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Hợp tình hợp lý, vị ở cao mà không lộng quyền.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Tuy có lộc vị, nhưng không tránh được điều xấu, hoặc bị khiển trách, nghi kỵ, hoặc bán buôn xuôi ngược vất vả.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: chuyên quyền _Giới sĩ: tiến thủ, nên danh _Người thường: được đề cử, xấu biến thành tốt.

Hào 5:

Phu vu gia, cát. Ý hào: Còn lòng thành dùng người hiền, nên có kết quả.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Thân hiền, nên nhiều người theo, lập được công.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng là người trung chính, không ai ghen ghét.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: mừng thăng ngạch trật. _Giới sỉ: đỗ đạt được tiến cử. _Người thường: nhiều việc vui mừng.

Hào 6:

Câu hệ chi, nã tòng duy chi, vương dụng hanh vu tây sơn. Ý hào: Lấy lòng thành mà dùng đạo tuỳ, có thể thông cảm được với thần minh.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Thành thực, ôn lương, huệ minh, cảm phục được lòng người, nên đạt chí, thông thần.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Càng hoạt động chỉ khốn cùng gian nan. Duy ẩn ở sơn lâm thì tốt.

XEM – TUẾ – VẬN: Phàm gặp hào này thì hay lo lắng tội vạ, chí không đạt, tuổi thọ không lâu. _Quan chức: hay bị dèm pha _Giới sĩ: bị bôi nhọ. _Người thường: phòng tổn hại hoặc bị giam giữ.

Chương 19: Quẻ LÔI ĐỊA DỰ
Chương 21: Quẻ SƠN PHONG CỔ
Chia Sẻ Bài Viết