Chương 24: Quẻ HỎA LÔI PHỆ HẠP

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ HỎA LÔI PHỆ HẠ

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

|::|:| Hỏa Lôi Phệ Hạp (噬嗑 shì kè)

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp, còn gọi là quẻ Phệ Hạp, đồ hình |::|:| (噬嗑 shi4 ke4), là quẻ thứ 21 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn hay Sấm (雷).

* Ngoại quái là ☲ (|:| 離 li2) Ly hay Hỏa (火).

Giải nghĩa: Khiết dã. Cấn hợp. Cẩu hợp, bấu víu, bấu quào, dày xéo, đay nghiến, phỏng vấn, hỏi han (học hỏi). Ủy mị bất chấn chi tượng: tượng yếu đuối không chạy được.

Tự quái truyện giảng: tình, lý có chỗ khả quan rồi sau mới hợp nhau được; nhưng muốn cho hợp nhau thì trước hết phải trừ sự ngăn cách đã, cho nên sau quẻ Quan, tới quẻ Phệ hạp. Phệ là cắn, là trừ (sự ngăn cách), hạp là hợp.

Thoán từ:

噬嗑: 亨, 利用獄.

Phệ hạp: Hanh, lợi dụng ngục.

Dịch: Căn để hợp lại, như vậy là hanh thông; dùng vào việc hình ngục thì có lợi.

Giảng: Quẻ Phệ hạp này nói về việc hình ngục.

Hào sơ và hào trên cùng là hai vạch liền, tượng như hàm trên và hàm dưới; ở giữa có ba vạch đứt, là miệng há ra; xen vào một vạch liền như một cái quẻ cản ngang miệng, làm gián cách hai hàm răng; Phải cắn gãy, trừ nó đi rồi hai hàm mới hợp với nhau được.

Trong xã hội, kẻ gián cách đó là bọn gian tà, sàm nịnh bưng bít kẻ trên người dưới mà trên không thông tới dưới, dưới không đạt tới trên. Cho nên phải dùng hình ngục để trừ chúng.

Hình ngục muốn có kết quả thì phải vừa uy, vừa sáng suốt. Nội quái Chấn là uy; ngoại quái Ly là sáng suốt.

Lại xét riêng hào 5, hào làm chủ trong quẻ; nó ở ngôi cao, âm nhu mà đắc trung, là có ý khuyên dùng hình ngục tuy phải uy, phải cương, nhưng vẫn nên có một chút nhu, hiếu sinh; nếu chỉ cương thôi thì hóa ra tàn khốc, hiếu sát mất.

Đó là đại ý Thoán truyện. Đại tượng truyện bảo tiên vương theo ý nghĩa quẻ Phệ hạp này mà làm sáng tỏ sự trừng phạt và răn bảo bằng pháp luật. (Tiên vương dĩ minh phạt, sắc pháp: 先王以明罰, 敕法 cũng có người hiểu là sắp đặt pháp luật hoặc ban bố pháp luật)

Hào từ

1. 初九: 屨校滅趾, 无咎.

Sơ cửu: Lí giảo diệt chỉ, vô cữu.

Dịch: Hào 1, dương : ví như chân đạp vào cái cùm mà đứt ngón chân cái, không có lỗi lớn.

Giảng: Trong quẻ này hào 1 và hào trên cùng là người không có chức vị, bị chịu hình; còn 4 hào kia là người có chức vị áp dụng hình pháp.

Hào 1 ở dưới cùng là hạng dân thường, mới làm bậy mà bị tội nhẹ (cùm chân, chặt ngón chân cái) thì sẽ sợ phép nước mà sau không làm điều ác nữa, cho nên không có lỗi lớn.

2. 六二: 噬膚, 滅鼻, 无咎.

Lục nhị: Phệ phu, diệt tị, vô cữu.

Dịch: Hào 2, âm: Cắn miếng thịt mềm, sứt cái mũi, không có lỗi.

Giảng: hào này cũng như ba hào sau, dùng chữ phệ (cắn) để trỏ người dùng hình pháp.

Hào 2 âm nhu đắc trung, chính lại được hào 5 ứng, tức là người được vua ủy cho quyền hình pháp, vì vậy dễ thu phục được kẻ có tội, công việc dễ như cắn miếng thịt mềm. Nhưng vì hào 2 cưỡi lên hào 1 dương cương, tức như gặp kẻ ương ngạnh, nên phải cưỡi lên hào 1 dương cương, tức như gặp kẻ ương ngạnh, nên phải quá tay một chút, kẻ bị tội chịu hình phạt khá đau, như bị cắn vào mũi, đó là lỗi của hắn chứ hào 2 vẫn là trung chính, không có lỗi.

3. 六三: 噬腊肉, 遇毒, 小吝, 无咎.

Lục tam: Phệ tích nhục, ngộ độc, tiểu lận, vô cữu.

Dịch: Hào 3, âm: Cắn phải miếng thịt có xương lại ngộ độc, đáng ân hận một chút, nhưng không có lỗi.

Giảng: Hảo 3, âm: Không trung chính, dùng hình ngục và không được người phục, có phần bị oán nữa, như cắn phải miếng thịt có xương lại ngộ độc; những ở vào quẻ Phệ hạp, dùng hình pháp để giữ trật tự cho xã hội, cho nên việc làm của mình tuy đáng ân hận, mà không có lỗi lớn.

4. 九四: 噬 乾胏, 得金矢, 利艱貞, 吉.

Cửu tứ: phệ can trỉ (có người đọc là tỉ)

Đắc kim thỉ, lợi gian trinh, cát.

Dịch: Hào 4, dương : Cắn phải thứ thịt liền xương mà phơi khô, được mũi tên đồng, chịu khó nhọc mà vững lòng giữ đường chính thì tốt.

Giảng: Hào này dương cương ở gần ngôi chí tôn (hào 5) là người cương trực, có trách nhiệm; lại ở ngoại quái Ly, nên có tài minh đóan, cho nên dù gặp kẻ ngoan cố cũng trị được dễ dàng, như cắn được miếng thịt liền xương (cứng) phơi khô, mà vẫn giữ được đạo cương trực, tượng bằng mũi tên bằng đồng.

Nhưng vì hào này cương, mà cương quyết thì e gặp khó khăn, nên Hào từ khuyên phải chịu khó nhọc, tuy cương mà vị lại nhu (hào thứ 4, chẳn), nên lại khuyên phải vững chí. Có hai điều kiện đó thì mới tốt.

5. 六五: 噬乾肉, 得黃金, 貞厲, 无咎.

Lục ngũ: phệ can nhục, đắc hoàng kim, trinh, lệ, vô cữu.

Dịch: Hào 5, âm: Cắn miếng thịt khô, được vàng (danh dự quí báu); phải giữ vững đạo, thường lo sợ, thì không có lỗi.

Có sách giảng về hai chữ “hoàng kim” như sau: kim là vật quí, tượng trưng ngôi chí tôn của hào 5, hoàng là sắc của đất, của trung ương (đen là màu của phương bắc, đỏ của phương nam, xanh của phương đông, trắng của phương tây), tượng trưng đức trung của hào 5.

6. 上九: 何校滅耳, 凶.

Thượng cửu: Hạ giảo diệt nhĩ, hung.

Dịch: Hào trên cùng, dương : cổ tra vào gông, bị tội cắt tai, xấu.

Giảng: Hào này lại nói về kẻ thụ hình như hào 1. Xấu hơn hào 1, vì dương cương lại ở cuối quẻ, trỏ hạng cực ác, nên bị tội nặng: đeo gông, cắt tai.

Theo hệ từ hạ truyện, chương V thì Khổng tử bàn như sau: “.. không tích lũy nhiều điều ác thì không đến nỗi bị diệt thân thể (như hào này). Kẻ tiểu nhân cho rằng (..) một điều ác nhỏ là vô hại, nên cứ làm; vì vậy mà các điều ác cứ tích lũy tới lúc (..) tội hóa lớn mà không thể tha thứ được”.

****

Quẻ này xét về việc hình ngục, đại ý khuyên:

– Người xử hình phải sáng suốt trước hết, cương quyết mà cũng cần có đức nhu (để bớt cương đi), có chút từ tâm, và luôn luôn phải giữ đạo chính, thận trọng (hào 5).

Hào 4 cũng tốt, vì vừa cương vừa nhu, có tài và có địa vị.

– Nên răn đe dân từ khi dân mới mắc phải tội nhỏ, nếu không dân sẽ quen làm bậy, ác cứ tích lũy mà mắc tội lớn.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

21. 火雷噬嗑  HỎA LÔI PHỆ HẠP   

Phệ Hạp Tự Quái噬 嗑  
Khả quan nhi hậu hữu sở hợp.可 觀 而 后 有 所 合
Cố thụ chi dĩ Phệ Hạp.故 受 之 以 噬 嗑
Hạp giả hợp dã.嗑 者 合 也

Phệ Hạp Tự Quái

Ngắm trông sẽ hợp, sẽ thân,

Cho nên Phệ Hạp theo chân hình thành.

Phệ Hạp là hợp đã đành

Phệ Hạp là nghiền nát để hợp. Nghiền nát đây là trừng trị những kẻ bất lương, những người ngang ngược, làm mất trật tự xã hội, làm cho dân tình ly tán, không hợp nhất được với nhau.

Phệ Hạp xét về tượng hình, y như cái mồm mắc vật cứng ở giữa, làm cho 2 hàm trên dưới không thể hợp nhau. Phải nghiền nát vật cứng nhiên hậu mới hợp nhau được.

Trong xã hội cũng vậy, cần phải diệt trừ nguyên do chia rẽ, nhân tình mới hòa hợp được. Vì thế cần phải dùng hình phạt. Hình phạt mà áp dụng cho trúng, đó là thương dân, vì nhờ vậy dân mới được yên ổn. (Ái bách tính, cố hình phạt trúng. Hình phạt trúng, cố thứ dân an.)

Trời dùng Sấm = Chấn = Lôi; Chớp = Ly = Hỏa, để đánh tan sự oi ả. Thánh nhân dùng hình phạt để dẹp tan mầm mống chia rẽ. Thế chính là Pháp Thiên, bắt chước Trời mà hành sự.

Phệ Hạp trên có Ly = Hỏa chỉ sự sáng suốt, dưới có Chấn = Sấm chỉ sự uy nghiêm. Sáng suốt nên không ai dấu được sự tình; uy nghiêm nên mọi người đều kiêng sợ. Đó chính là những đức tính của vị phán quan.

Quẻ Phệ Hạp tóm tắt lại cơ chế hình pháp đời xưa. Đời xưa, Lễ, Nhạc, Hình, Chính (chính trị), là 4 cách trị dân. Hình pháp cốt để giữ gìn trật tự, trừng trị những kẻ gây rối.  

I. Thoán.

Thoán Từ.

噬 嗑:亨。 利 用 獄。 

Phệ Hạp. Hanh. Lợi dụng ngục.

Dịch.   

Cản trước, rồi ra mới hợp sau,

Ngục hình dùng đúng, lợi biết bao.

Thoán Từ trước hết giải hai chữ Phệ Hạp, là nghiền nát để hợp. Ý muốn nói nghiền nát hay trừng trị  kẻ ngoan ngạnh trong xã hội, để xã hội được hoà hợp. Vì thế, Thoán Từ nói Phệ Hạp hanh. 

Thoán Truyện.

彖 曰:  頤 中 有 物,曰 噬 嗑,噬 嗑 而 亨。剛 柔 分,動 而 明,雷 電 合 而 章。柔 得 中 而 上 行,雖 不 當 位,利 用 獄 也。

Thoán viết:

Di trung hữu vật. Viết Phệ Hạp. Phệ Hạp nhi hanh. Cương Nhu phân.

Động nhi minh. Lôi điện hợp nhi chương. Nhu  đắc  trung  nhi thượng hành.

Tuy bất đáng vị. Lợi dụng ngục dã.

Dịch.

Vật cứng ngáng mồm là Phệ Hạp,

Cắn nghiền ra, rồi hợp mới hay.

Cứng, mềm, minh biện, phơi bầy,

Uy nghi, sáng suốt, ai tày phong quang.

Như sấm chớp rỡ ràng, lẫm liệt.

Tuy khoan Nhu, siêu việt ngôi trên.

Vị ngôi tuy chẳng ấm êm,

Nhưng khi gia phạt, cũng nên Nhu hòa.

Thoán Truyện nói: Phệ Hạp nhi hanh. Có trừng trị kẻ gây rối rồi, thì xã hội mới được hanh thông, an lạc.

Phệ Hạp có Ly = Nhu ở trên, Chấn = Cương ở dưới. Cương, Nhu lưỡng dụng đều đặn, phân minh. Ý nói khi áp dụng hình phạt, cũng như khi xử tội, phải áp dụng cả Cương lẫn Nhu (Cương Nhu phân).

Phệ Hạp có Chấn là Động, Ly là Minh, ý nói khi xử đoán tội tình cũng như thi hành hình phạt vừa minh, vừa uy (Động nhi minh). Minh, Uy phối hợp với nhau, sẽ như sấm chớp dẹp tan mọi chếch mác, đem hòa hợp và trị bình lại cho đất nước, vì thế nói: Lôi điện hợp nhi chương.   Thoán Truyện viết tiếp: Âm Nhu đắc trung nhi thượng hành. Âm mà ở ngũ, thời đâu có đáng ngôi vị, nhưng mà đối với các công cuộc hình án, thời nó là Nhu mà cư Cương. Lòng vốn tốt, nhưng nghiêm, Cương để bảo trì luật pháp cũng là hay rồi. Thoán Truyện, vì thế viết tiếp: Tuy bất đáng vị. Lợi dụng ngục dã. 

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰: 雷 電 噬 嗑 ﹔先 王 以 明 罰 敕 法。

Tượng viết: 

Lôi điện Phệ Hạp. Tiên vương dĩ minh phạt sắc pháp.

Dịch. Tượng rằng: 

Phệ Hạp chớp lóe, sấm vang,

Tiên vương,  hình phạt quyết mang răn đời,

Có răn, có phạt, hẳn hoi,

Dân gian sẽ sống theo đòi phép khuôn.

Tượng Truyện lại nhắc lại: Lôi điện là Phệ Hạp. Đó tức là uy minh lưỡng dụng. Các bậc Thánh Vương xưa thấy vậy, xác định lại hình phạt, chỉnh đốn lại luật pháp, để cho dân biết tôn trọng luật pháp. 

III. Hào Từ & Tiểu Tượng Truyện

Các Hào nói về cách áp dụng về hình phạt. Hào 1 và 6 vì vô vị nên tượng trưng cho người thụ hình, và cho tội nhân. Các Hào 2, 3, 4, 5 là những người có chức vị, có bổn phận phải thi hành hình phạt. 

1.  Hào Sơ Cửu.

初 九 :      履 校 滅 趾,無 咎。

象 曰:     履 校 滅 趾,不 行 也。

Sơ Cửu. Lý giáo diệt chỉ. Vô cữu.

Tượng viết: 

Lý giáo diệt chỉ. Bất hành dã.

Dịch.

Tra cùm, làm mất ngón chân,

Gia hình thế ấy, có lầm lỗi chi.

Tượng rằng:

Tra cùm, làm mất ngón chân,

Hết đi, hết dám sa vòng tội khiên.

Hào Sơ tượng trưng cho người mắc khinh tội, bị phạt nhẹ, bị cùm chân, bị mất ngón chân. Thế là phạt nhẹ, để ngăn tiểu nhân đi vào con đường gian ác.

2. Hào Lục nhị.

六 二:       噬 膚 滅 鼻,無 咎。

象 曰:     噬 膚 滅 鼻,乘 剛 也。

Lục nhị. Phệ phu diệt tị. Vô cữu.

Tượng viết:

Phệ phu diệt tị. Thừa Cương dã.

Dịch.

Nghiến da, nghiến mất mũi đi,

Gia hình thế ấy, chẳng chi lỗi lầm. 

Tượng rằng:

Nghiến da, nghiến mũi, mất trơn,

Gặp người quá bướng, nghiêm hơn đã đành.

Hào hai tượng trưng cho một quan chức ngôi vị xứng kỳ đức, thi hành hình phạt theo đúng lẽ phải, cho nên dễ làm cho người phục; y như cắn vào da mềm vậy. Tuy nhiên, đôi khi cũng gặp phải những kẻ ương ngạnh, ngang ngược (Thừa Cương), nên phải dùng hình phạt nặng hơn (diệt tị =cắt mũi), mới trị được họ. 

3. Hào Lục tam.

六 三 :     噬 臘 肉,遇 毒 ﹔小 吝,無 咎。

象 曰:    遇 毒,位 不 當 也。

Lục tam. Phệ tích nhục ngộ độc. Tiểu lận. Vô cữu.

Tượng viết:

Ngộ độc. Vị bất đáng dã.

Dịch.

Phường gian ngoan khi cần sửa phạt,

Khó như là day nát thịt khô.

Thịt khô dai ngoách, cứng đơ.

Phạt người chẳng nổi, hóa ra hại mình.

Trường hợp ấy,  âu đành rắc rối,

Nhưng riêng mình, nào lỗi chi đâu.

Tượng rằng:

Phạt người mà hóa hại mình,

Là vì ngôi vị, quyền hành dở dang.

Hào Lục tam đề cập đến một vị phán quan chưa đủ uy tín, mà đã xử tội một kẻ gian ngoan, có quyền thế. Gặp trường hợp này có khác nào nhai phải miếng thịt khô, lại còn cả xương; nên nhai đã chẳng được, nhiều khi còn nhiễm độc, nhiễm hại. 

4. Hào Cửu tứ.

九 四 :     噬 乾 胏,得 金 矢,利 艱 貞,吉。

象 曰:    利 艱 貞 吉,未 光 也。

Cửu tứ. Phệ can chĩ. Đắc kim thỉ. Lợi gian trinh. Cát.

Tượng viết:

Lợi gian trinh cát. Vị quang dã.

Dịch.

Thịt khô cắn nát như thường,

Thịt khô còn dính cả xương cũng nghiền.

Bắt người nộp cả vàng, tên.

Khó khăn mấy, cũng chu tuyền công phu.

Tượng rằng:

Gian nan, vất vả mới xong,

Uy danh chiếu rạng chưa cùng khắp nơi.

Cửu tứ trái lại là một vị phán quan Cương nghị. Tội nhân ngang ngạch bất trị như miếng thịt khô dính xương, cũng nghiền nát được. Chẳng những vậy, còn bắt phải nộp đủ lệ bộ án phí. Xưa nộp án phí bằng vòng vàng (kim câu), và tên bắn (Thúc thỉ= 1 bó 50 cái). 

5. Hào Lục ngũ.

六 五:      噬 乾 肉,得 黃 金,貞 厲,無 咎。

象 曰:   貞 厲 無 咎,得 當 也。

Lục ngũ. Phệ can nhục.  Đắc hoàng kim. Trinh lệ. Vô cữu.

Tượng viết:

Trinh lệ vô cữu. Đắc đáng dã.

Dịch.

Thịt khô nào khó cắn nghiền,

Lại còn được cả hoàng kim của người.

Tuy nhiên, chớ có dể ngươi,

Đề cao cảnh giác, vậy thời mới hay.

Tượng rằng: Chẳng có dể ngươi,

Vì ta chính vị, chính ngôi đã đành.

Hào Lục ngũ vì đắc trung nên có đủ quyền uy để xét xử, trừng phạt những vụ hình án lớn. Nói là hình án lớn, vì đây tội nhân phải xuất kim (nộp vàng, nộp kim câu làm án phí ). 

6. Hào Thượng Cửu.

上 九 :     何 校 滅 耳,凶。

象 曰:    何 校 滅 耳,聰 不 明 也。

Thượng Cửu. Hà giáo diệt nhĩ. Hung.

Tượng viết:

Hà giáo diệt nhĩ. Thông bất minh dã.

Dịch.  

Mang gông mà mất cả tai,

Sự tình như thế, hung tai còn gì.

Tượng rằng:

Mang gông, đến mất cả tai,

Khôn thời đã vậy, ngoan thời chẳng ngoan.

Hào Thượng Cửu ám chỉ một tội nhân, vì đã đi quá trớn, đã làm điều xằng bậy quá lớn, nên bị trọng hình, mang gông mà mất cả tai.

ÁP DỤNG QUẺ PHỆ HẠP VÀO THỜI ĐẠI

Như trên ta đã biết, quẻ Phệ Hạp nói về luật pháp đời xưa. Vậy trước khi so sánh luật pháp xưa và nay, ta hãy tìm hiểu chúng. Trước tiên ta phải hiểu rõ, là bất kỳ ở Thời đại nào cũng vậy, hình pháp đặt ra cốt để giữ gìn trật tự, trừng trị những kẻ gây rối. Lễ Ký viết: Những người dũng cảm, sức lực, thay vì dùng sức lực mình để thi hành lễ nghĩa, hoặc chiến thắng ngoại thù, mà lại dùng nó vào việc tranh dành ẩu tả, thời gọi là những kẻ gây rối. Khi hình phạt được thi hành trong nước, những kẻ gây rối sẽ bị trừng trị trước tiên. Như vậy dân mới phục lệnh, mới sống hẳn hoi, và nước nhà mới yên.  

Đối với hình án, người xưa rất nghiêm minh và thận trọng. Ví dụ: Vua Đại Võ và Cao Dao đã đặt mấy nguyên tắc cho nền hình pháp như sau:

1)  Phán quan phải khoan hậu.

2)  Không được phạt tới con cháu.

3)  Tha các tội phạm vì vô tình.

4)  Nhân nhượng đối với nghi tội.

4)  Lỗi án lệ, còn hơn giết oan người.

5)  Phán quan phải tỏ cho dân biết đức hiếu sinh của nhà vua ( Kinh thư,  Đại Vũ Mô  tiếp 12 ).

Người xưa coi 5 hình phạt sau đây là nặng nhất gọi là ngũ hình:

1)  Mặc = Thích chữ vào trán hay vào mặt.

2)  Tị = Sẻo mũi.

3)  Ngoạt = Cắt chân.

4)  Cung = Hoạn đối với con trai dâm loạn, cấm cố đối với con gái dâm loạn.

5) Đại tịch = Chém đầu.

Theo Lễ ký, mỗi khi phải áp dụng ngũ hình, vị phán quan hết sức cẩn trọng:

– Phải để ý tình cha con, nghĩa vua tôi.

– Phải cân nhắc tội trạng cho hẳn hoi.

– Xét tâm tư tội nhân cho tinh tế.

– Phải dùng hết tài trí thông minh, và lòng trung ái của mình khi xét xử.

– Phải lưu ý dến mọi trường hợp.

– Khi nghi ngờ, phải hỏi ý dân. Dân mà nghi không chắc, mình sẽ tha.

– Phải khảo lại các án lệ trước. (Lễ ký,  Vương chế ,   IV, tiết 13 ).

Mỗi khi gặp hình án quan trọng, Lục sự phải trình hồ sơ lên phủ đường. Phủ đường xét hồ sơ rồi đệ lên Đại Tư Khấu (Tổng Trưởng Tư Pháp). Đại Tư Khấu xét hồ sơ xong,  đệ lên nhà vua. Nhà vua giao cho Tam Công xét lại. Tam công xét xong, đệ lên lại cho nhà vua, bấy giờ mới quyết định hình phạt. 

Ngày nay, ở các nước văn minh, những người bị tội nhẹ như ẩu đả, trôm cắp v v … thì bị xét xử nơi Tòa Tiểu hình, tội nhân sẽ bị phạt tiền, hoặc bị giam giữ ngắn hạn. Còn những tội như cướp của, giết người, gây rối trị an, lường gạt, bội tín sẽ bị coi là những trọng tội, và sẽ bị xét xử nơi Tòa Đại Hình, tùy theo tội nặng nhẹ mà bị giam giữ lâu, hay chóng, còn như giết người, tối đa sẽ có thể bị tử hình, chứ không có những hình phạt dã man như ngày xưa.

Tóm lại, ở Thời đại nào, chính quyền đặt ra luật pháp cũng chỉ cốt là bảo vệ dân. Vậy làm dân, chúng ta tốt nhất là phải tôn trọng luật pháp, và bảo vệ luật pháp.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

21.Hoả lôi phệ hạp

Ðại cương:

Tên quẻ: Phệ hạp là khiết hợp (cắn ngậm lại, ngục hình)

Thuộc tháng 9.

Lời tượng

Lôi điện: phệ hạp. Tiên vương dĩ minh phạt sắc pháp.

Lược nghĩa

Sấm điện là quẻ Phệ Hạp. Đấng tiên vương lấy đấy mà làm sáng tỏ hình phạt, sắp đặt pháp luật.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp Giáp:

Canh: Tý, Dần, Thìn

Kỷ: Dậu, Mùi, Tỵ

Lại sanh tháng 2, tháng 8 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Ngục tù phép tắc có minh.

Thì đời mới có tiến trình phong quang.

Hào 1:

Lũ giáo diệt chỉ, vô cữu. Ý hào: Ác nhỏ, biết trừng trị ngay thì đỡ lỗi.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Trước ở vị thấp sau lên cao, cũng là quí nhân.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Tầm thường nhu nhược hoặc tật chân.

XEM – TUẾ – VẠN: _Quan chức: bị truất giáng. _Giới sĩ: không gặp may. _Người thường: đề phòng hình phạt, tật bệnh.

Hào 2:

Phệ phu, diệt tỵ, Vô cũu. Ý hào: Trị người khó tránh làm thương tổn người. (Hào 2 có quyền hình phạt)

MỆNH – HỢP – CÁCH: Người lớn làm việc hình phạt lớn, hoặc nhỏ nhất, cũng làm chức có quyền hình phạt người.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Da thịt bị tổn thương, mai danh ẩn tích, nên làm tăng đạo.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Hình phạt người dân vô kỷ luật mà cũng bị phiền nhiễu. _Giới sĩ: Không gặp may. _người thường: Nhiều việc buôn tẩu vất vả, điêu nọ tiếng kia, tổn thương da thịt.

Hào 3:

Phệ tích nhục, ngộ độc, tiểu lận vô cữu. Ý hào: Ðức không đủ để trị người, nên có sự bất phục.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài nhỏ, chí cương, công danh nhỏ thôi.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Hễ động làm là có hối, cơm áo phải lo

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Nhỏ lại hay rắc rối. _Giới sĩ: Tài thường còn bị bôi xấu. _Người thường: Việc khó xong, hoặc tai nạn ở tim, bụng, kinh khủng.

Hào 4:

Phệ can trị (1) đắc kim thỉ, lợi gian trinh, cát. Ý hào: Có quyền dùng hình phạt, mà biết khéo dùng.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Bậc đại quí nhân, giữ việc lớn, chính trực không sợ gì.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Chỉ là trọc phú.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Vinh thăng. _Giới sĩ: Ðược tiến cử, thành danh. _Người thường: Buôn bán có lời.

Hào 5:

Phệ can nhục, đắc hoàng kim, trinh lệ, vô cữu. Ý hào: Trị dân phòng kẻ ngoan cố.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Thông minh có tài dẹp loạn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Giầu có lớn.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Dùng pháp luật trừ gian. _Giới sĩ: Thành danh. _Người thường: Hoạch lợi, bệnh khỏi, nạn giải.

Hào 6:

Hà giảo diệt nhỉ, hung. Ý hào: Ác lớn, tội nặng.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Giầu sang nhưng phải lo nhiều

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cường bạo, nguy, tội vạ luôn.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Bị dèm pha, truất dáng. _Giới sĩ: Bị sấu hổ. _Người thường: Kiện tụng. Số xấu: Tai mắt kém, khí huyết hư hoặc tổn vong.

Chương 23: Quẻ PHONG ĐỊA QUAN
Chương 25: Quẻ SƠN HỎA BÍ
Chia Sẻ Bài Viết