Chương 28: Quẻ THIÊN LÔI VÔ VỌNG

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ THIÊN LÔI VÔ VỌNG

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

|::||| Thiên Lôi Vô Vọng (無妄 wú wàng)

Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng, đồ hình |::||| còn gọi là quẻ Vô Vọng (無妄 wu2 wang4), là quẻ thứ 25 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn hay Sấm (雷).

* Ngoại quái là ☰ (||| 乾 qian2) Càn hay Trời (天).

Giải nghĩa: Thiên tai dã. Xâm lấn. Tai vạ, lỗi bậy bạ, không lề lối, không quy củ, càn đại, chống đối, hứng chịu. Cương tự ngoại lai chi tượng: tượng kẻ mạnh từ ngoài đến.

Đã trở lại thiên lý, chính đạo rồi thì không làm càn nữa, cho nên sau quẻ Phục, tới quẻ Vô vọng. Vọng có nghĩa là càn, bậy.

Thoán từ

无妄: 元亨, 利貞. 其匪正有眚, 不利有攸往.

Vô vọng: Nguyên hanh, lợi trinh.

Kì phỉ chính hữu sảnh, bất lợi hữu du vãng.

Dịch: không càn bậy thì rất hanh thông, hợp với chính đạo thì có lợi. Cái gì không hợp với chính đạo thì có hại, có lỗi, hành động thì không có lợi.

Giảng: Tượng quẻ này: nội quái là Chấn (nghĩa là động, hành động); ngoại quái là Càn (trời), hành động mà hợp với lẽ trời thì không càn bậy, không càn bậy thì hanh thông, có lợi.

Thoán truyện giảng rõ thêm:

Nội quái nguyên là quẻ Khôn, mà hào 1, âm biến thành dương, thành quẻ Chấn. Thế là dương ở ngoài tới làm chủ nội quái, mà cũng làm chủ cả quẻ vô vọng, vì ý chính trong Vô vọng là: động, hành động. Động mà cương kiên như ngoại quái Càn, tức là không càn bậy.

Xét về các hào thì hào 5 dương cương, trung chính ứng, ứng với hào 2 cũng trung chính, thế là hợp với thiên lý, rất hanh thông.

Ở thời Vô vọng (không càn bậy) mình không giữ chính đạo mà đi thì đi đâu được? Chữ đi (vãng) ở đây nghĩa rộng là hành động (nguyên văn: Vô vọng chi vãng, hà chi hĩ? Nên hiểu là : vô vọng: phỉ chính chi vãng, hà chi hĩ; chữ chi thứ nhì này có nghĩa là đi). Trái lẽ trời thì trời không giúp, làm sao đi được ?

Đại tượng truyện bàn thêm về cái đạo của trời (đất) là nuôi nấng, và thánh nhân cũng theo đạo đó mà nuôi nấng vạn dân. Chúng tôi cho là ra ngoài đề.

Hào từ

1. 初九: 无妄, 往吉.

Sơ cửu: vô vọng, vãng cát.

Dịch: Hào 1, dương: không còn bậy, mà tiến đi thì tốt.

Giảng: Hào này dương cương, làm chủ nội quái, là người có đức, cho nên khen như vậy.

2. 六二: 不耕穫, 不菑畬, 則利有攸往.

Lục nhị: Bất canh hoạch, bất tri dư, tắc lợi hữu du vãng.

Dịch: Khi cày thì không nghĩ tới lúc gặt, khi mới khai phá (tri) thì không nghĩ đến ruộng đã thuộc (dự), như vậy mà tiến tới thì có lợi.

Giảng: Lời hào này quá vắn tắt, hơn điện tín ngày nay nữa, nên tối nghĩa, có nhiều sách cứ dịch từng chữ; không thông.

Chu công muốn bảo: Khi cày mà không nghĩ tới lúc gặt, khi mới khai phá mà không nghĩ tới khi ruộng đã thuộc, có nghĩa là thấy việc chính đáng phải làm thì làm mà không nghĩ đến cái lợi rồi mới làm, không chỉ trông mong vào kết quả, như vậy mới tốt.

Hào 2, âm, vừa trung vừa chính, ứng với hào 5 cũng trung chính; nó vốn là âm có đức thuận ở trong nội quái Chấn là động, như một người tốt hành động hợp với trung, chính, cho nên Hào từ bảo như vậy mà tiến thì có lợi.

Có lẽ chính vì ý nghĩa hào này mà Sử ký của Tư Mã Thiên chép tên quẻ là 无 望 (vô vọng :không mong) với nghĩa làm điều phải mà “không mong” có lợi, có kết quả. Hiểu như vậy cũng được.

3. 六三: 无妄之災, 或繫之牛, 行人之得, 邑人之災.

Lục tam: vô vọng chi tai, hoặc hệ chi ngưu,

Hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai.

Dịch: Hào 3, âm: không còn bậy mà bị tai vạ tự nhiên đến như có kẻ cột con bò ở bên đường (rồi bỏ đi chỗ khác), một người đi qua (thấy bò không có ai coi), dắt trộm đi, được bò, mà người trong ấp bị nghi oan là lấy trộm bò, mà mắc họa.

Giảng: cả 6 hào trong quẻ này đều là không càn bậy, nhưng hào này khác một chút là bất trung, bất chính, nên bị tai vạ; tai vạ đó chỉ là vô cớ mà mắc.

4. 九四: 可貞,无咎.

Cửu tứ: khả trinh, vô cữu.

Dịch: Hào 4, dương: nên giữ vững tư cách thì không có lỗi (hoặc: có thể giữ vững được tư cách, cho nên không có lỗi).

Giảng: chữ “Trinh” có hai nghĩa: chính đáng và bền. Ở đây nên hiểu là bền. Hào 4 này dương, không ứng hợp với hào nào cả. (vì hào 1 cũng là dương cương như nó), không nên họat động, nhưng nó cương kiện, có thể giữ vững được tư cách.

5. 九五: 无妄之疾, 勿藥, 有喜.

Cửu ngũ: vô vọng chi tật, vật dược, hữu hỉ.

Dịch: Hào 5, dương: Không càn bậy mà vô cớ bị bệnh (gặp tai họa) thì đừng uống thuốc, sẽ hết bệnh.

Giảng: Hào này ở địa vị cao, trung chính lại ứng với hào 2 cũng trung chính, vậy là rất tốt, chẳng may có bị bệnh (gặp tai họa) thì đừng uống thuốc (nghĩa bóng là đừng chạy chọt gì cả, cứ thản nhiên như Khổng tử khi bị giam ở đất Khuông) rồi sẽ tai qua nạn khỏi (như Khổng tử sau được thả ra, vì người Khuông nhận là rằng họ lầm ông với Dương Hổ, một người mà họ ghét.)

6. 上九: 无妄, 行有眚, 无攸利.

Thượng cửu: Vô vọng, hành hữu sảnh, vô du lợi.

Dịch: Hào trên cùng, dương. Không càn bậy, nhưng đi (hành động) thì bị họa, không lợi gì.

Giảng: Hào từ khuyên không nên hành động, mặc dầu vẫn là “vô vọng”, chỉ vì hào này tới cuối cùng của quẻ rồi, chỉ nên yên lặng chờ thời.

***

Quẻ này cũng nhấn mạnh vào lẽ tùy thời. Cả 6 hào đều là “vô vọng” cả, không càn bậy mà tùy thời, có lúc hoạt động thì tốt như hào 1, 2; có lúc lại nên thản nhiên, chẳng làm gì cả, như hào 5, có lúc không nên hành động như hào 4 (nếu hoạt động thì bị họa) và như hào trên cùng.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

25. 天 雷 無 妄  THIÊN LÔI VÔ VỌNG  

Vô Vọng Tự Quái無 妄  
Phục tắc bất vọng hỹ.復 則 不 妄矣
Cố thụ chi dĩ Vô Vọng故 受 之 以 無 妄

Vô Vọng Tự Quái

Phục rồi sẽ  hết lỗi lầm đơn sai.

Rồi ra Vô Vọng tiếp ngôi.

Quẻ Vô Vọng, về phương diện Đạo Học, là một quẻ rất quan trọng trong Kinh Dịch. Thực vậy, quẻ Vô Vọng dạy về đời sống của các bậc Thánh Nhân, sống kết hợp với Trời, theo con đường chí công, chí chính của Tạo Hóa, chứ không theo con đường tà ngụy của tâm tư. 

Trình tử giải Vô Vọng là: Hành động theo Thiên lý, là Chí Thành, Thiên đạo. Trình tử còn nói thêm: Thánh nhân hoạt động theo Trời, Hiền nhân hoạt động theo người.

Lý Long Sơ nói:  Con người do tinh hoa Trời Đất mà sinh, nên có Thần Trời, sự quang minh của Trời, vốn là Chân Thiện Vô Vọng. Nhưng sau khi sinh ra đời, bị dẫn dụ bởi những điều ngụy tạo của người khác, nên vọng niệm mới sinh ra. Vì vậy cho nên quẻ Vô Vọng tiếp theo sau quẻ Phục:  Phục là trở về với đạo lý, nhìn thấy Thiên tâm, Thiên tính trong lòng mình. Vô Vọng là sống hồn nhiên theo đúng Thiên tính, Thiên lý, Thiên đạo. Quẻ Vô Vọng đề cập đến một trạng thái tâm thần cao siêu nhất của con người, nên những lời lẽ cũng trở nên khó hiểu.

Đọc Hào 2, 3, 5, y như thấy bàn đến:

–  Phúc bất kỳ   (Hào 2).

–   Họa bất kỳ    (Hào 3).

–   Bệnh bất kỳ   (Hào 5).

Nên nhiều nhà Bình Giải cho rằng: ngoài nghĩa chính yếu trên, Vô Vọng còn có nghĩa thứ hai là: Không cầu mà được, không ước mà nên, không muốn mà bị. 

 I. Thoán.

Thoán Từ.

 無 妄:元,亨,利,貞。 其 匪 正 有 眚,不 利 有 攸 往。

 Vô vọng. Nguyên, Hanh. Lợi, Trinh. Kỳ phỉ chính hữu sảnh.

Bất lợi hữu du vãng.

 Dịch.

Vô Vọng là nguyên tuyền, đẹp đẽ,

Tốt lành thay, hợp lẽ chính trung.

Chính rồi, mới được hanh thông.

Nếu không chính đáng, lâm vòng tội khiên.

Tội tình vọng động triền miên,

Làm gì cũng sẽ chẳng nên việc gì.

Thoán Từ đại khái nói rằng:  Con người mà đã đạt tới tình trạng Toàn chân, Toàn thiện, chí thành, chí mỹ rồi thì thực là một điều đại hạnh vậy. (Vô vọng nguyên hanh). Con đường đưa tới chí thành, chí thiện, tức là con đường công chính, nếu theo được mới hay, mới lợi (Lợi trinh). Hễ đã đi sai con đường công chính, tức đã đi vào con đường tà ngụy, như vậy tránh sao khỏi lỗi lầm (Kỳ phỉ chính hữu sảnh), như vậy thời làm sao mà hay, mà lợi được (Bất lợi hữu du vãng).  

Thoán Truyện.

 彖 曰 :  無 妄,剛 自 外 來,而 為 主 於 內。動 而 健,剛 中 而 應,大 亨 以 正, 天 之 命 也。其 匪 正 有 眚,不 利 有 攸 往。無 妄 之 往,何 之 矣?天 命 不 佑,行 矣 哉?

Thoán viết:

 Vô Vọng. Cương tự ngoại lai nhi vi chủ ư nội. Động nhi kiện.

Cương trung nhi ứng. Đại hanh dĩ chính. Thiên chi mệnh dã.

Kỳ phỉ chính hữu sảnh. Bất lợi hữu du vãng. Vô Vọng chi vãng.

Hà chi hĩ. Thiên mệnh bất hựu. Hành hĩ tai.

Dịch.

Vô Vọng là Cương từ ngoài đến, 

Tinh hoa Trời đã hiện bên trong,

Hiện ra, làm chủ cõi lòng,

Hành vi ám hợp Hóa Công từ rày,

Lòng ta, với lòng Trời ứng hợp,

Chính đáng thay, mà đẹp đẽ thay.

Thế  là Thiện Mỹ từ nay.

Thế là ý muốn của Trời bấy lâu,

Chẳng chính đáng, thời âu tội lỗi.

Vọng động rồi, khỏi nói nên công.

Trời kia đã ngự cõi lòng.

Ích gì tìm kiếm lung tung tơi bời.

Làm như vậy e Trời chẳng giúp,

Không ơn Trời đi được đến đâu.

Bây giờ cái Tinh Hoa của Trời Đất đã hiện bên trong, đã làm chủ chốt cho mọi hoạt động (Cương = Dương = Tinh hoa), (Cương tự ngoại lai nhi chủ ư nội). Mình làm  gì  cũng thuận  theo  ý  Trời, (Động nhi kiện). Luôn luôn  đem một tấm lòng tinh thành mà đối đãi với người (Cương trung nhi ứng). Luôn luôn theo đàng công chính, đó là đã thực hiện được một công chuyện tốt đẹp nhất, đó là đã theo đúng Thiên Mệnh (Đại hanh dĩ chính. Thiên chi mệnh dã).

Nếu không công chính thời có lỗi, sao hay, sao lợi được (Kỳ phỉ chính hữu sảnh. bất lợi hữu du vãng). Đã được Chân Thiện Mỹ, là đã được Trời rồi, mà còn ước muốn nữa, còn muốn đi nữa, thì đi đâu? (Vô vọng chi vãng. Hà chi hĩ). Như vậy sao mong được Trời giúp đỡ, phù trì. Mà Trời đã không giúp, thời đi được đến đâu? (Thiên mệnh bất hựu. Hành hĩ tai). 

II. Đại Tượng Truyện.

象曰 :  天 下 雷 行,物 與 無 妄 ; 先 王 以 茂 對 時,育 萬 物。

Tượng viết. 

Thiên hạ lôi hành. Vật dữ Vô Vọng. Tiên vương dĩ mậu đối thời dục vạn vật.

Dịch.

Tượng rằng: Sấm động dưới Trời,

Bao nhiêu ngang trái, lôi thôi, tiêu trừ.

Muôn loài vui sống, nhởn nhơ,

Hồn nhiên, vạn hảo, đúng như ý Trời,

Thánh nhân cũng biết tùy thời,

Giúp cho muôn vật, sống đời đẹp tươi.

Đại Tượng bình: Trời dùng Sấm động dưới Trời để tiêu trừ ngang trái, cho muôn vật được sống thảnh thơi. Cho nên, Tiên vương xưa cũng cố tùy thời, làm cho muôn vật được nuôi dưỡng, được sống an vui. Trời dùng biến hóa để dần dà thực hiện toàn mỹ cho vạn vật; để dần dà phát huy tiềm  năng, tiềm  lực  của  muôn vật. Thánh nhân cũng bắt chước Trời, mà tùy thời dưỡng dục vạn vật.  

III. Hào từ & Tiểu Tượng Truyện 

1. Hào Sơ Cửu.

初 九 :       無 妄,往 吉。

象 曰:      無 妄 之 往,得 志 也。

Sơ Cửu. Vô vọng vãng cát.

Tượng viết:

Vô vọng chi vãng. Đắc chí dã.

Dịch.

Hồn nhiên, Thiên đạo mới hay,

Sống đời hoàn thiện, thời may đã đành.

Tượng rằng:

Hành vi theo đúng luật Trời,

Lúc nào cũng sẽ thảnh thơi, phỉ nguyền.

Hào Sơ khuyến cáo con người luôn đi vào con đường thánh thiện, như thế sẽ luôn được thảnh thơi, phỉ chí. 

2.  Hào Lục nhị.

六 二 :      不 耕 獲,不 菑 畬,則 利 有 攸 往。

象 曰:     不 耕 獲,未 富 也。

Lục nhị. Bất canh hoạch. Bất chi dư. Tắc lợi hữu du vãng.

Tượng viết: 

Bất canh hoạch. Vị phú dã.

Dịch.

Chẳng cày, vẫn gặt, mới hay.

Chẳng cần ngả ruộng, mà nay ngấu thành. 

Việc gì cũng sẽ lợi danh.

Tượng rằng:

Chẳng cày, vẫn có mùa màng.

Là Tâm chẳng có vấn vương tiền tài.

Hào Lục nhị có ý nói:  Mình hãy cứ làm các công việc tốt,  nhưng không có lòng mong cầu lợi lãi. Những Thánh nhân các đạo giáo cũng nói như trên. Phúc âm Mathieu viết: Hãy xem các loài chim trời, chẳng có gieo gặt, cũng chẳng thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các ngươi nuôi nó. Các ngươi há chẳng trọng hơn loài chim sao?… Vậy các ngươi chớ lo lắng mà rằng: Chúng ta sẽ ăn gì?  Uống gì?  Mặc gì? Vì mọi điều đó, các dân ngoại thường tìm và cha các ngươi ở trên Trời vốn biết các ngươi cần dùng những điều đó rồi. Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Chúa và sự công chính của Ngài; thời Ngài sẽ trả cho các ngươi những điều ấy sau. (Matt. 6,  26  -33).

Đạo Đức Kinh viết: 

Vô vi huyền diệu khôn bì,

Không làm, mà chẳng việc chi không làm.

Vô vi mà được thế gian,

Càng xoay sở lắm, đời càng rối beng. (XLVIII) 

3. Hào Lục tam.

六 三 :      無 妄 之 災,或 系 之 牛,行 人 之 得,邑 人 之 災。

象 曰:    行 人 得 牛,邑 人 災 也。

Lục tam. Vô vọng chi tai. Hoặc hệ chi ngưu.

Hành nhân chi đắc. Ấp nhân chi tai.

Tượng viết: 

Hành nhân đắc ngưu. Ấp nhân tai dã.

Dịch.

Chuyện đâu tai họa bất ngờ, 

Trâu kia ai buộc vẩn vơ bên đường, 

Bộ hành trông thấy dắt càn,

Người làng, bỗng bị họa mang vào người.

Tượng rằng:

Người đi đường bắt được trâu,

Người trong làng ấp, họa đâu mang vào.

Đa số các nhà bình giải, giải Hào Ba này như sau: Ở đời lắm tai vạ bất ngờ. Người đi đường dắt trâu mang đi, người trong ấp lại bị bắt bớ tra hỏi. (Chu Hi)

Duy Trình tử đại khái giải rằng:  Đi ra Vọng, là đi theo mê lạc, đi theo Nhân dục, là điều tai hại dưới nhãn quan của các nhà Huyền học. Tam là Âm Nhu, tượng trưng cho bất trung, bất chính, nên là Vọng. Tam là ứng với Thượng Cửu, đó là tượng trưng cho dục tình, vì ứng là để tâm, để trí tới. Đã Vọng động như vậy, mà đắc âu là sẽ mất lại. Ta sẽ giải lời này rõ hơn bằng lời Thánh Kinh:  Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất là nơi mối, mọt nhấm nát được, nơi trộm cắp đào, khoét lấy mất được. Nhưng phải chứa của cải trên Trời, là nơi mối, mọt không nhấm nát, nơi trộm cắp không đào, khoét lấy mất được; vì của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi ở đó. (Matt, 6 ,  19 – 21). 

4. Hào Cửu tứ.

九 四 :     可 貞,無 咎。

象 曰:    可 貞 無 咎,固 有 之 也。

Cửu tứ. Khả trinh. Vô cữu.

Tượng viết: 

Khả trinh vô cữu. Cố hữu chi dã.

Dịch.

Nếu mà theo được đường ngay,

Theo đường đạo lý, thế này lỗi chi !

Tượng rằng:

Hay là theo được đường ngay,

Bền tâm, vững chí, chẳng thay đổi lòng.

Hào bốn khuyên 2 điều:

1) Hãy theo con đường công chính.

2) Hãy bền lòng, vững chí đến cùng.

5. Hào Cửu ngũ.

九 五 :  無 妄 之 疾,勿 藥 有 喜。

象 曰: 無 妄 之 藥,不 可 試 也。

Cửu ngũ. Vô vọng chi tật. Vật dược hữu hỷ.

Tượng viết:

Vô vọng chi dược. Bất khả thí dã.

Dịch.

Xá chi bệnh tật bất kỳ,

Chẳng cần thang thuốc; vui đi, lành rồi !

Tượng rằng: 

Chưa thang thuốc, bệnh đã lui,

Chớ nên thử thách, lôi thôi làm gì.

Hào năm tiếp tục chủ trương, đã đi đúng đường Trời, đừng có sợ những bệnh tật, những biến cố ngoại lai. Cũng vì vậy, khi đức Khổng bị vây ở đất Khuông, đã nói:  Nếu Trời chẳng muốn mất vẻ sáng, thì người đất Khuông làm gì nổi ta. Như vậy, nếu ta vững niềm tin, tật bệnh, tai ách bất kỳ đều qua khỏi hết, không việc gì phải sợ hãi, cầu cạnh. 

6. Hào Thượng Cửu.

上 九 :      無 妄,行 有 眚,無 攸 利。

象 曰:     無 妄 之 行,窮 之 災 也。

Thượng Cửu. Vô vọng hành hữu sảnh. Vô du lợi.

Tượng viết: 

Vô vọng chi hành. Cùng chi tai dã.

Dịch.

Tinh thành còn muốn đi nao?

Vấn vương tội lỗi, tốn hao công trình.

Hào sáu kết luận rất khéo léo: đã được Trời còn muốn gì nữa. Đã được Tinh thành, còn muốn gì nữa?

ÁP DỤNG QUẺ VÔ VỌNG VÀO THỜI ĐẠI

Ngày xưa, các cụ thường răn con cháu: Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ. Ý muốn nói, chúng ta ở trên đời phải làm việc thì mới có ăn, nếu lười biếng thì đói. Ngược lại quẻ Vô Vọng lại nói, xem chừng như là nghịch lý.

Không cầy, vẫn gặt mới hay.

Chẳng cần ngả ruộng, mà nay ngấu thành. 

Theo tôi, thì chẳng có gì nghịch lý, mà ý quẻ chỉ muốn nói: chớ quá tham lam, đèo bòng. Ở đời có làm thì mới có ăn, nhưng không phải làm quá đáng, hoặc vơ vét quá nhiều, tích tụ của cải cho lắm, mà không còn nghĩ gì đến Đạo lý Thánh Hiền. Ta hãy nhìn xem các Chủng Viện Công Giáo, các Chùa Phật giáo, các nhà tu hành, nơi nơi, nhà nhà, họ chỉ miệt mài Đạo lý, nào đâu thấy ai suốt ngày lo làm việc để kiếm tiền. Nhưng ta có thấy ai trong đám người tu hành mà nghèo khổ? Trái lại,  họ còn thừa thãi của cải, đi đến đâu cũng được mọi người sùng kính hơn người thế gian. Sự thật, các Thánh nhân chỉ muốn khuyên ta chớ đắm chìm trong việc kiếm tiền, vì nó chỉ làm cho ta khổ sở, lao đao, càng kiếm lắm, càng mất nhiều, càng khổ sở. Thiên hạ chỉ vì danh, lợi, tiền tài mà sa vào vực thẳm, không lối thoát, chi bằng cứ vừa đủ ăn, mặc, nhưng lòng thênh thang lo đạo lý tốt hơn.

Đạo Đức Kinh chương LXIV viết:

Càng làm, càng lắm tan tành.

Càng ôm, càng mất, càng dành, càng vương,

Mới hay, đường lối Thánh nhân,

Chẳng làm, nên chẳng lo lường bại vong.

Thênh thang, dạ chẳng đèo bòng,

Khỏi điều mất mát, đỡ công tần phiền

Ngày nay, con người sống chạy theo đà văn minh vật chất, nên có nhiều nhu cầu đòi hỏi;  do đó chúng ta phải vất vả, bon chen với cuộc sống hàng ngày. Vì công việc làm, vì sinh kế, vì lo lắng giải quyết những công chuyện đã hoặc sắp xẩy ra, nên đầu óc chúng ta luôn mệt mỏi, có nhiều người trọn ngày không có lấy 1 giờ là của riêng mình, để mà sống cho yên tĩnh. Chúng ta sẽ như những chiếc lá  vàng bị cơn lốc đời lôi cuốn, không biết sẽ đi đến đâu, nếu chúng ta không chịu bình tâm suy nghĩ để thay đổi cách sống, cách suy tư.

Giàu nghèo Trời đã định, hoạn nạn có số phần. Thánh nhân cũng không tránh được những biến cố bất kỳ.

Ví dụ: Văn Vương bị nạn ở Dũ Lý, Khổng tử bị Thúc Tôn, Võ Thúc chê bai (LN,  XIX, 24).

Cho nên, tốt hơn hết chúng ta nên sống cho thoải mái, đừng quá tham mà làm khổ xác thân, đừng quá say mê chạy theo vật chất, mà quên mất sự bồi bổ tinh thần.

Nếu, khi đã tới tuổi 60, mà ta vẫn ham danh, lợi, tiền tài, vật dục, là ta đã đi nhầm đường rồi, phải kíp thời dừng bước, mà ngả theo Chính đạo, nếu không sẽ quá muộn, lúc trăm tuổi không biết sẽ về đâu, và rất lo sợ khi Tử thần tới rước.

Theo tôi, thể xác con người chỉ là 1 thứ người máy, hoạt động, suy tư được là nhờ có Thần nhập. Vậy tại sao ta không bồi bổ cho Thần của ta bằng cách suy tư, thánh thiện, mà lại chạy theo đường vật dục, để bồi bổ cho người máy của ta vậy?

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

25.Thiên lôi vô vọng

Ðại cương:

Tên quẻ: Vô vọng là vô dục vọng (phóng nhậm tự nhiên).

Thuộc tháng 2.

Lời tượng

Thiên hạ lôi hành, vật dữ vô vọng.

Tiên vương dĩ mậu đối thời, dục vạn vật.

Lược nghĩa

Dưới trời sấm động, mọi vật được bẩm tính, đó là quẻ Vô vọng (tự nhiên). Đấng Tiên Vương lấy đấy mà đem cái thịnh vượng từng thời tiết để nuôi muôn loài.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp Giáp:

Canh: Tý, Dần, Thìn

Nhâm: Ngọ, Thân, Tuất

Lại sanh tháng 2 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Thân này bằng cấp cũng không,

Anh hùng đồ điếu lập công phi thường

Hào 1:

Vô vọng, cát. Ý hào: Lấy lòng thành mà tác động thì việc gì chẳng được.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Ðại triển chí hướng, là nhân vật quan trọng của nước, hưởng, phúc, lộc, vinh.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng là người tốt, thành thực, bình sinh không vọng động, sống an ổn.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ðược trên yêu dưới kính. _Giới sĩ: Tiến thủ thành danh. _Người thường: Hoạch lợi.

Hào 2:

Bất canh hoạch, bất tri dư, tắc lợi hữu du vãng. Ý hào: Lòng công bằng, việc làm lợi ích.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Vừa ngay thẳng, vừa hiếu thuận. Chẳng kể công mà công đến, phú quí tự nhiên, bình sinh an nhàn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Chí hướng vô định, lưu đãng, tự kiêu, sinh kế khó khăn.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Tiến tới. _Giới sĩ: Ðỗ trung khoa. Không phải lao tâm lao lực mà nên giầu sang. Buôn bán ra ngoài hoạch lợi. _Người thường: Chỉ được những lợi lặt vặt.

Hào 3:

Vô vọng chi tai, hoặc hệ chi ngưu, hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai. Ý hào: Vốn không làm nên vạ mà vạ tự nhiên đến.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Ðức đủ để cầu tránh được tai vạ, hưởng phú quí, phúc trạch.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Chạy chọt, quỷ quyệt, thường đeo vạ.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Lợi có quận, hại có cấp. _Giới sĩ: Khó tiến thủ, nhà nông tăng súc vật của cải, đi buôn thêm lợi. _Người thường: Việc tự đâu đâu làm tổn tài thiệt thân.

Hào 4:

Khả trinh, vô cữu. Ý hào: Giữ chính thì ít lầm lỗi.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Quân tử, một mình giữ được điều thiện, phúc trạch rộng lớn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Bình sinh thong thả, y thực phong túc.

XEM – TUẾ – VẪN: _Quan chức và giới sĩ: Giữ chức vụ cũ. _Người thường: Giữ nghiệp cũ, thực tế, đừng hão huyền.

Hào 5:

Vô vọng chi tật, vật dược, hữu hỹ. Ý hào: Trên dưới hào hợp, nếu ngoài ý muốn có xẩy chuyện gì, êm ngay.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài đức, cứu nguy giúp nước ích nhà, làm tiêu chuẩn cho đời sau.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng có phúc, tai không, mừng đến.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Tiến tới. Dù có sự bất ngờ chẳng tốt, tự nhiên sáng tỏ. _Người thường: Bệnh không thuốc thì khỏi, việc thành, sự sinh nở tốt lành.

Hào 6:

Vô vọng, hành hữu sảnh, vô du lợi. Ý hào: Tin chắc quá thì rồi hết cả tin.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Giữ nhưng thông biến thì mới phòng được nguy, bảo vệ được phúc trạch.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Chí lớn mà mưu vụng nên tất tả ngược xuôi, cô độc tai vạ đến.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Không đi đúng đường lối chính trị nên bị truất giáng, hay phải trốn tránh trách nhiệm. _Giới sĩ: Không đạt lý. _Người thường: Không hiểu việc, không biết gió chiều nào che chiều ấy. Số xấu có thể nguy đến thân.

Chương 27: Quẻ ĐỊA LÔI PHỤC
Chương 29: Quẻ SƠN THIÊN ĐẠI SÚC
Chia Sẻ Bài Viết