Chương 33: Quẻ THUẦN LY

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ THUẦN LY

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

|:||:| Thuần Ly (離 lí)

Quẻ Thuần Ly, đồ hình |:||:| còn gọi là quẻ Ly (離 li2), là quẻ thứ 30 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☲ (|:| 離 li2) Ly hay Hỏa (火).

* Ngoại quái là ☲ (|:| 離 li2) Ly hay Hỏa (火).

Giải nghĩa: Lệ dã. Sáng chói. Sáng sủa, trống trải, trống trơn, tỏa ra, bám vào, phụ bám, phô trương ra ngoài. Môn hộ bất ninh chi tượng: tượng nhà cửa không yên.

Khảm là hãm, hãm thì phải có chỗ nương tựa, cho nên sau quẻ Khảm tới quẻ Ly. Ly [離 ] là lệ [ 麗] ; thời xưa hai chữ đó đọc như nhau, dùng thay nhau được, như nước Cao Ly (Triều Tiên) viết là [高麗 ]. Mà lệ có nghĩa là phụ thuộc vào (như từ ngữ lệ thuộc), dựa vào. Theo hình quẻ, một nét âm ở giữa dựa vào hai nét dương ở trên, dưới.

Ly còn nghĩa thứ nhì là sáng: nét ở giữa dứt, tức là ở giữa rỗng, rỗng thì sáng. Lửa sáng, mặt trời sáng, cho nên Ly có có tượng là lửa, là mặt trời.

Sau cùng Ly còn có nghĩa là rời ra, như chia Ly.

Kinh Dịch mở đầu bằng hai quẻ Càn, Khôn (trời đất); tới giữa Kinh. (cuối phần thượng của Kinh) là hai quẻ Khảm, Ly, vì hai lẽ.

Ba hào thuần dương là Càn, lấy một hào của Khôn thay vào hào giữa của Càn, thành Ly; ba hào thuần âm là Khôn, lấy một hào của Càn thay vào hào giữa của Khôn, thành Khảm; vậy Ly, Khảm là “thiên địa chi trung”, ở giữa trời, giữa đất; công dụng tạo hóa của trời đất nhờ lửa và nước (Ly và Khảm) cả. Khảm ở chính bắc, Ly ở chính nam; Khảm ở giữa đêm (giờ tí), Ly, ở giữa trưa (giờ ngọ).

Khảm, ở giữa là nét dương, liền, thực, cho nên đức của nó là trung thực. Ly ở giữa là nét đứt, hư, rỗng, cho nên đức của nó là sáng, là văn minh.

Thoán từ

離: 利貞, 亨.畜牝牛, 吉.

Ly: lợi trinh, hanh. Súc tẫn ngưu, cát.

Dịch: Dựa, lệ thuộc: chính đáng thì lợi, hanh thông. Nuôi bò cái thì tốt.

Giảng: Dựa vào chỗ chính đáng, chẳng hạn vào người quân tử thì hanh thông. Dựa vào người thì phải sáng suốt, và thuận theo người, vậy phải nuôi đức thuận, đức của con bò cái (loài này dễ bảo nhất) thì mới tốt.

Ly còn nghĩa là sáng. Quẻ thuần Ly, trên dưới đều là Ly, sáng quá, sáng suốt quá, tỏ mình hơn người thì ít người ưa, cho nên phải giấu bớt cái sáng đi mà trau giồi đức thuận.

Thoán truyện bảo phải có đức trung chính nữa như hào 2 và hào 5 (hào này chỉ trung thôi, nhưng đã đắc trung thì cũng ít nhiều đắc chính) như vậy mới cải hóa được thiên hạ, thành văn minh.

Hào từ

1. 初九: 履錯然, 敬之, 无咎.

Sơ cửu: Lý thác nhiên, kính chi, vô cửu.

Dịch: Hào 1, dương : Dẫm bậy bạ; phải thận trọng thì không có lỗi.

Giảng: hào dương này có nghĩa nóng nảy, cầu tiến qua, mà còn non nớt, chưa có kinh nghiệm, như đứa trẻ vội vàng dẫm bậy bạ (Phan Bội Châu hiểu là sỏ giày nhố nhăng), tất có lầm lỗi, nên khuyên phải thận trọng (kính chi).

2. 六二: 黃離, 元吉.

Lục nhị: Hoàng ly, nguyên cát.

Dịch: Hào 2, âm : Sắc vàng phụ vào ở giữa, rất tốt.

Giảng: hào này ở quẻ Ly có đức văn minh, lại đắc trung, đắc chính, trên ứng với hào 5 cũng văn minh, đắc trung, nên rất tốt. Vì ở giữa, văn minh, nên ví với sắc vàng, đẹp, sắc của trưng ương như đã giảng ở hào 5 quẻ Khôn và hào 5 quẻ Phệ hạp.

3. 九三: 日昃之離, 不鼓 缶而歌, 則大耋之嗟, 凶.

Cửu tam: Nhật trắc chi Ly, bất cổ phẩu nhi ca, tắc đại diệt chi ta, hung.

Dịch: Hào 3, dương : mặt trời xế chiều lặn, (ý nói người già, tính tình thất thường, không đáng vui mà vui. Không đáng buồn mà buồn). Khi thì gõ cái phẫu (vò bằng đất, đựng rượu mà cũng dùng làm nhạc khí) mà hát, lúc lại than thân già nua; xấu , (Hồi xưa khi hát thì gõ nhịp bằng cái phẫu).

Giảng: Hào 3 này ở trên cùng nội quái ly, như mặt trời sắp lặn mà chưa lên ngoại quái Ly, chưa tới lúc mặt trời mọc (sáng hôm sau).

Câu: “bất cổ phẫu nhi ca, tắc dại diệt chi ta”, Chu Hi hiểu là “chẳng yên phận mà vui vẻ, mà lại than thở vì già nua, thế là không biết tự xử.”

4. 九四: 突如, 其來如, 焚如, 死如, 棄如.

Cửu tứ: Đột như, kì lai như, phần như, tử như, khí như.

Dịch: Hào 4, dương: thình lình chạy tới, như muốn đốt người ta vậy, thì sẽ chết, bị mọi người bỏ.

Giảng: Hão này dương cương, nóng nảy, bất chính, bất trung, mới ở nội quái lên, gặp hào 5 âm nhu, muốn lấn át 5, như một người ở đâu thình lình tới, lồn lộn lên muốn đốt người ta (hào 5) , táo bạo, vụng về như vậy làm sao khỏi chết, có ai dung được nó đâu.

5. 六五: 出涕沱若, 戚嗟若, 吉.

Lục ngũ: xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát.

Dịch: Hào 5, âm: Nước mắt ròng ròng, nhưng biết buồn lo than thở, nên tốt.

Giảng: Hào này âm nhu, ở ngôi tôn, trung những không chính, bị ép giữa hào hào dương, mắc vào hoàn cảnh khó khăn, cho nên bảo là “nước mắt ròng ròng”; nhưng nhờ đức văn minh của quẻ Ly, nên là người biết lo tính, than thở, tìm cách đối pó với hoàn cảnh được, cho nên rồi sẽ tốt.

6. 上九: 王用出征, 有嘉; 折首, 獲匪其醜, 无咎.

Thượng cửu: Vương dụng xuất chinh,

Hữu gia; chiết thủ, hoạch phỉ kì xú, vô cữu.

Dịch: Hào trên cùng, dương: vua dùng (người có tài, tức hào này) để ra quân chinh phạt, có công tốt đẹp, giết đầu đảng mà bắt sống kẻ xấu đi thì thôi, như vậy thì không có lỗi.

Giảng: Hào này dương cương lại ở trên cùng quẻ Ly, thế là vừa cương quyết vừa sáng suốt đến cực điểm, vua dùng tài ấy để trừ kẻ gian tà thì thành công lớn.

Nhưng vì cương quá thì dễ hóa tàn bạo, nên Hào từ khuyên dẹp loạn thì chỉ nên giết những kẻ đầu sỏ, còn những kẻ đi theo thì bắt sống thôi. Như vậy sẽ không có lỗi.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

30.  為 火  LY VI HỎA  

         BÁT THUẦN LY

Ly Tự Quái離 序 卦
Hãm tất hữu sở lệ.陷 必 有 所 麗
Cố thụ chi dĩ Ly.故 受 之 以 離
Ly giả lệ dã.離 者 麗 也

Ly Tự Quái

Gian truân nên mới lo phần dựa nương.

Cho nên Ly mới tiếp luôn.

Ly là nương tựa, rõ ràng đâu chơi. 

Ly ở nơi quẻ Đơn, có nghĩa là lửa. Nơi quẻ Kép có nghĩa là dựa nương. Ly là dựa nương. Mà điểm tựa của con người là sự trung chính.

Ly trong hư, ngoài cương; trong nhu thuận (Âm), ngoài văn minh, sáng láng. Nếu tâm hồn con người luôn luôn thuận phục luật Trời, luôn luôn dựa nương vào sự công chính, thì sẽ một ngày một trở nên sáng láng. Nếu xét về căn cơ nội tại thì:

*Ly trong có 1 hào Âm, nên chính là Chân Âm, Tượng trưng cho Hồn, cho Tâm (cho lòng người).

*Khảm trong có 1 hào Dương, nên chính là Chân Dương, tượng trưng cho Đạo Tâm, cho Thần (lòng Trời).

(Quẻ Ly đơn, hào giữa là Âm. Tu luyện là biến Ly thành Kiền = thành Trời, tức là phải lấy hào Dương của quẻ Khảm đơn, mà thay thế vào Hào Âm của quẻ Ly, vì Hào Dương của Khảm tượng trưng cho Đạo tâm. Phương pháp này gọi là Dĩ Khảm điền Ly.

I. Thoán.

離 : 利 貞 . 亨 . 畜 牝 牛 . 吉 .

Thoán Từ.

Ly. Lợi trinh. Hanh. Súc tẫn ngưu. Cát.

Dịch. Thoán Từ.

Nương tựa chính trung, lợi lại hay,

Nhu thuận một lòng sẽ mắn may.

Ví như nuôi được con trâu cái,

Vừa khỏe, vừa ngoan, thật tốt thay.

Ly là dựa nương. Phải dựa nương vào sự công chính, mới hay, mới lợi (Ly. Lợi trinh. Hanh). Phải thuận phục lẽ Trời, mới tốt đẹp. Giữ tròn được tấm lòng nhu thuận, tuân phục lẽ công chính, cũng ví như nuôi được con trâu cái hiền lành, dễ bảo, như vậy là tốt, là hay. (Súc tẫn ngưu. Cát). 

Thoán Truyện.  

彖 曰 : 離 . 麗 也 . 日 月 麗 乎 天 . 百 谷草 木 麗 乎 土 . 重 明 以 麗 乎 正 . 乃 化 成 天 下. 柔 麗 乎 中 正 . 故 亨 . 是 以 畜 牝 牛. 吉 也 .

Thoán viết.

Ly. Lệ dã. Nhật nguyệt lệ hồ thiên. Bách cốc thảo mộc lệ hồ thổ. Trùng minh dĩ lệ hồ chính. Nãi hóa thành thiên hạ. Nhu lệ hồ trung chính. Cố hanh. Thị dĩ súc tẫn ngưu. Cát dã.

Dịch. Thoán rằng:

Ly là bám víu dựa nương,

Dựa nương, bám víu, lẽ thường đôi nơi.

Kim ô, ngọc thỏ, nương Trời,

Muôn loài thảo mộc, chẳng rời đất đai.

Quân thần,trung chính chẳng ngơi.

Thuần phong, mỹ tục khắp nơi thịnh hành.

Thuận theo trung chính, thời hanh,

Như nuôi trâu cái, tốt lành mấy mươi.

Ly là dựa nương. Đó là định luật của Trời đất.(Ly lệ dã). Nhật Nguyệt tinh cầu dựa vào Trời. Cỏ cây dựa vào Đất (Nhật Nguyệt lệ hồ Thiên. Bách cốc thảo mộc lệ hồ thổ). Vậy trong một xã hội, mà vua tôi, trên dưới đều dựa nương vào sự công chính, thì sẽ cải hóa được thiên hạ, sẽ đem được vạn dân tới chỗ tinh thành (Trùng minh dĩ lệ hồ chính. Nãi hóa thành thiên hạ). Nếu lòng con người, mà luôn luôn thuận phục Thiên lý, luôn luôn bám víu, luôn luôn dựa nương vào sự công chính, thì hay biết bao nhiêu (Nhu lệ hồ trung chính. Cố hanh. Thị dĩ súc tẫn ngưu cát dã).

Như vậy, Thoán đã dạy con người phải bám víu vào sự công chính mới là quý; chớ đừng nên bám vào tiền tài, chức vị, tha nhân, vì tất cả những thứ đó đều là phù du, ảo ảnh. 

II. Đại Tượng Truyện.

 象 曰 : 明 兩 作 離 . 大 人 以 繼 明 照 于 四 方.

Tượng viết. Minh lưỡng tác Ly. Đại nhân dĩ kế minh chiếu vu tứ phương.

Dịch. Tượng rằng:

Ly là sáng láng liên canh,

Đại nhân cố giữ lòng mình sáng trong.

Sáng soi cùng khắp non sông,

Sáng soi rạng rỡ, khắp cùng bốn phương.

Ly, trên dưới đều là minh, trước sau đều là minh. Người quân tử thấy vậy, nên chau chuốt cho tâm hồn mình, ngày một thêm rạng sáng; để ánh sáng của mình có thể chiếu soi khắp bốn phương. Kế minh, chỉ về thời gian, ý nói trước cũng như sau, con người đừng bao giờ quên làm bừng sáng ngọn đuốc thiên chân tiềm ẩn đáy lòng. 

III. Hào Từ & Tiểu Tượng Truyện 

1. Hào Sơ Cửu.

初 九 .     履 錯 然 . 敬 之 無 咎 .

象 曰 .     履 錯 之 敬 . 以 辟 咎 也 . 

Sơ Cửu. Lý thác nhiên. Kính chi. Vô cữu.

Tượng viết:

Lý thác chi kính. Dĩ tỵ cữu dã.

Dịch. Sơ Cửu.

Bỡ ngỡ đưa chân bước vào đời,

Phải nên cẩn trọng, khỏi lầm sai.

Tượng rằng: Cẩn thận bước đi,

Cho nên mới tránh được nguy, được lầm.

Hào Sơ bình rằng, tuy Ly là sáng láng, nhưng lúc con người thoạt mới bước chân vào đường đời, thời thiện ác còn hỗn tạp khó phân, cho nên bước đi còn dễ lầm lỗi (Sơ Cửu. Lý thác nhiên). Vậy phải biết trang trọng, kính úy, mới tránh được những điều lầm lỗi (Kính chi vô cữu).  

2. Hào Lục nhị.

六 二 .      黃 離 . 元 吉 .

象 曰 .      黃 離 元 吉 . 得 中 道 也 . 

Lục nhị. Hoàng Ly. Nguyên cát.

Tượng viết:

Hoàng Ly nguyên cát. Đắc trung đạo dã.

Dịch. Lục nhị.

Văn minh rực rỡ, huy hoàng,

Mà mình trung chính, đàng hoàng tốt thay.

Tượng rằng:

Huy hoàng, rực rỡ mà hay.

Là vì trung chính, thẳng ngay đạo Trời.

Hào hai tiếp tục dạy thêm: Nếu con người biết dựa nương vào sự công chính, tức là điều hay nhất, quí nhất.

Công chính là Thiên lý. Tư tà là nhân dục.

Vậy con người phải sống trong Thiên lý, mới là lý tưởng của cuộc đời. Con người chỉ đạt lý tưởng, khi đắc Trung đạo, tức là khi vào được tâm điểm vũ trụ và tâm hồn mình, thực hiện được Thiên đức, về được chính vị, về được tâm điểm bất dịch của vũ trụ, tức là hòa đồng được với Bản Thể của vũ trụ.

3. Hào Cửu tam.

九 三 :     日 昃 之 離 . 不 鼓 缶 而歌 . 則 大 耋 之 嗟 . 凶 .

象 曰 :     日 昃 之 離 . 何 可 久 也 . 

Cửu tam. Nhật trắc chi Ly. Bất cổ phẫu nhi ca. Tắc đại điệt chi ta. Hung.

Tượng viết.

Nhật trắc chi Ly. Hà khả cửu dã.

Dịch.

Mặt trời đã xế ngang đầu.

Sao không gõ chậu, ca âu thanh nhàn.

Đời người còn được mấy gang,

Cái già xộc đến, phàn nàn nỗi chi.

Hào Ba chủ trương, khi đã già, khi mặt trời đã xế bóng, con người nên quẳng bớt gánh lo, thoát ly mọi tần phiền của thế sự, mà sống hồn nhiên trong cái vui Trời. Nếu lúc già cả, mà lòng chưa được an vui, còn xót xa, ta thán, thời khổ biết mấy mươi.

4. Hào Cửu tứ.

九 四 :     突 如 其 來 如 . 焚 如 . 死 如 . 棄 如 .

象 曰 :     突 如 其 來 如 . 無 所 容 也 .

Cửu tứ. Đột như kỳ lai như. Phần như. Tử như. Khí như.

Tượng viết:

Đột như. Kỳ lai như. Vô sở dung dã.

Dịch. Cửu tứ.

Từ đâu vụt đến, lố lăng.

Phừng phừng như muốn đốt phăng ngôi rồng,

Hung hăng sẽ bị tử vong.

Mọi người ruồng rẫy, ai dung cho nào.

Tượng rằng:

Từ đâu vụt đến lố lăng,

Mọi người ruồng rẫy, ai dung cho nào.

Ba Hào trước, đều dạy phải bám víu vào sự công chính, không được quá bám vào cuộc đời nhất là khi đã trở về già. Ba Hào sau, ý muốn thiên về nghĩa nóng nẩy hay sáng láng của quẻ Ly.

Hào Bốn là Dương cương, nên nóng nẩy, muốn tiến lên một cách ào ạt (Đột như kỳ lai như), phừng phừng như muốn thiêu hủy cả đấng quân vương trên mình (Phần như). Làm như vậy, là trái với sự sáng suốt, cho nên sẽ đi đến sự tử vong (Tử như), vì mọi người sẽ ruồng bỏ mình (Khí như).

Như vậy có minh triết, mới bảo thân (Trung Dung XXVII). Còn những người bạo hổ bằng hà, thường bất đắc kỳ tử (LN VII , 10; LN XI, 12). 

5. Hào Lục ngũ.

六 五 :     出 涕 沱 若 . 戚 嗟 若 . 吉 . 

象 曰 :     六 五 之 吉 . 離 王 公 也 . 

Lục ngũ. Xuất thế đà nhược. Thích ta nhược. Cát.

Tượng viết:

Lục ngũ chi cát. Ly vương công dã.

Dịch.

Đầm đìa nước mắt nhỏ sa,

U buồn than thở, rồi ra gặp lành.

Tượng rằng: Lục ngũ gặp lành,

Là vì ngôi vị của mình Vương công.

Hào Năm Âm nhu mà cư Dương vị, thế là thất vị, tuy vẫn đắc trung. Đã thất vị, mà dưới lại không ứng, không có phù ủng (Hào nhị là Hào ứng nhưng là Âm nên không ứng), nay lại ở gần kề Cửu tứ là Dương cương, như ngọn lửa phừng phừng bốc cháy lên để thiêu rụi mình, thời có khác nào một vị quân vương, tuy là hiền đức, nhưng đang bị bạo thần lăng bức đâu. Trong trường hợp ấy, nếu biết lo âu (Xuất thế đà nhược thích ta nhược), thời cũng là may, bởi vì biết lo họa hung, sẽ tiêu trừ được hung họa (cát). Lục ngũ sở dĩ cát, là vì đã được ngôi vị Vương công vậy (Lục ngũ chi cát. Ly Vương Công dã). 

6. Hào Thượng Cửu.

上 九 :     王 用 出 征 . 有 嘉 折 首 . 獲 其 匪 丑 . 無 咎 .

象 曰 :     王 用 出 征 . 以 正 邦 也 .

Thượng Cửu. Vương dụng xuất chinh. Hữu gia. Triết thủ. Hoạch phỉ kỳ xú. Vô cữu.

Tượng viết:

Vương dụng xuất chinh. Dĩ chính bang dã.

Dịch.

Vua dùng chinh thảo cũng hay,

Giết người đầu đảng, tha bầy côn quăng.

Giết, tha, minh bạch đàng hoàng,

Việc mình, ai dám phàn nàn, chê bai.

Tượng rằng: Vua dụng xuất chinh.

Cốt là dẹp loạn, trị bình, giang san.

Hào Sáu nói lên sự chinh phạt để đem trị bình lại cho đất nước. Chu Hi cho rằng Hào Thượng Cửu của quẻ Ly tức là sự cương cường quang minh đã lan tới xa, quyền uy đã chấn động, nhưng hình phạt vẫn không bị lạm dụng, là vì chỉ trừng trị kẻ cầm đầu phản loạn (Triết thủ), còn thì tha cho bọn  dư đảng (Hoạch phỉ kỳ xú).

ÁP DỤNG QUẺ LY VÀO THỜI ĐẠI

Xưa hay Nay, bất cứ ở thời đại nào cũng vậy, loài người khi mới bắt đầu hiểu biết, đã nhận biết được cái gì là đúng, là sai, là hay, là dở. Nhưng dần dần con người va chạm nhiều với xã hội, rồi bị ô nhiễm, bị tư dục làm mờ mắt, nên sự phán đoán, suy xét dần dần lầm lạc, nên con người cứ từ từ bị sa đọa. Nhất là, đà văn minh vùn vụt tiến, con người bị quá nhiều nhu cầu vật chất đòi hỏi, và phải cố đáp ứng nhu cầu cho đầy đủ như: xe hơi, tủ lạnh, bếp ga, máy lạnh v.v… Những thứ này lại còn biết bao thứ bên cạnh nó như: có xe hơi, phải mua bảo hiểm, mua xăng chạy xe, có tủ lạnh thì phải lo tiền điện hàng tháng v.v…, đó là chưa kể thời gian càng văn minh, thì con người làm việc càng như cái máy, do đó cũng cần phải nghỉ ngơi, tẩm bổ cho cơ thể lại sức, nên con người lại cần phải lo kiếm tiền cho nhiều, rồi từ cái này dần đến cái khác, con người bị sa đọa lúc nào không hay, có nhiều lúc bừng tỉnh lại, thấy mình cũng quá đáng, nhưng vì bản năng quá yếu hèn, hoặc nhu cầu vật chất đòi hỏi quá mạnh, nên lương tri chỉ vụt qua, mà không ở lại được.

Nên nếu ta ở vào thời buổi văn minh này, mà ta thắng được vật dục cám dỗ, không để con người ta bị sa đoạ, lỗi lầm, như vậy là ta luôn theo được đường công chính, ngay thẳng. Ngay thẳng từ suy nghĩ tới việc làm, đó là ta đã đi được quá nửa đường của Thánh nhân vậy.

Đến tuổi xế chiều, ta từ từ bỏ bớt công việc ngoài đời, lo việc tu thân, và nên luôn tự hỏi: Ta là ai? Từ đâu tới? Và cố gắng trở về nơi cội nguồn của mình một cách tự hào, thanh thản, lo việc giúp người, giúp đời một cách vô tư như mình thở khí Trời vậy, và với nụ cười luôn nở trên môi. Nếu là người có kiến thức sâu rộng, hiểu biết hơn người, nên lo viết sách dạy dân, truyền lại sự hiểu biết cho người đời sau. Đó là ta đã biết đi đúng đường Trời, đó là ta đã có vẻ sáng chung quanh như quẻ Ly đơn vậy.

Còn nếu như ta dùng cái thông minh, tài giỏi của ta, để mưu cầu tư lợi, cưỡng đoạt của người, hoặc hãm hại người để tranh quyền, đoạt vị, thì ta đã đi lầm đường, trước sau gì ta cũng bị suy vong, nếu không thì sẽ bị miệng thế cười chê. Thật không đáng vậy!

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

30.Ly vi hỏa

Ðại cương:

Tên quẻ: Ly là Lệ (sáng đẹp, văn minh).

Thuộc tháng 4.

Lời tượng

Hai lần sáng làm quẻ Ly (văn minh) bậc đại nhân lấy đấy mà tiếp nối đức sáng suốt soi ra 4 phương.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp Giáp

Kỷ: Mão, Sửu, Hợi, Dậu, Mùi, Tỵ.

Lại sanh tháng 4 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Ngán lâu, nay thấy sáng ngời,

Hoàn cầu hội mới mở thời văn minh

Hào 1:

Lý thác nhiên, kính chi vô cữu. Ý hào: Làm bậy, phải cẩn thận.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Kính thận xét kỹ cơ sự, trỏ về điều chính thì công nghiệp cũng thành, được người ngưỡng mộ.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Sửa đổi rồi cũng được ít nhiều thụ hưởng.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Phòng nông nổi, bất cẩn mà bị lỗi. _Giới sĩ: Phòng sai ngoa, xuyên tạc. _Người thường: Vượt kỷ Phận, bị lôi thôi, hoặc trượt cẳng đau.

Hào 2:

Hoàng ly nguyên cát. Ý hào: Giúp sức xây nền văn minh.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Uyển chuyển khiêm nhường giúp người trên, hoá người dưới thành nề nếp văn minh, hưởng phúc lớn rộng.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng thành thật, nghiệp nhà hưng thịnh, hưởng phúc.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Giữ vị cao ở trung ương. _Giới sĩ: Thi đỗ khôi khoa. _Người thường: Hưởng lợi tức.

Hào 3:

Nhật trắc chi ly, bất cổ phẫu nhi ca, đắc đại diện chi ta, hung. Ý hào: Vận đã suy không cứu vãn được.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Hiểu rõ tính thịnh suy vơi đầy, nên an Phận sống vui thì cũng không tổn hại phúc trạch.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Thương thân, tổn tài, hình thê.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Cáo hưu. _Giới sĩ: Phòng bị bôi nhọ. _Người thường: Vui quá hóa buồn, gian nan đến nỗi bất nhật táng vong.

Hào 4:

Ðột như kỳ lai như, phần như, tử như, khí như. Ý hào: Cậy cương mạnh để làm biến cách chính trị thì chỉ chóng đi đến chỗ chết.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Nếu thủ cựu an thường, trên tuân pháp luật, dưới không gây oán thù thì có thể bảo vệ được thân mình và gia đình.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Không trung chinh, lăng bức trên, làm bậy, tội đến chết.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Bị nghi lộng quyền. _Giới sĩ: Có tài lầm tưởng là ta thông suốt. _Người thường: Ngỗ ngược phạm thượng, hoặc chết vì binh đao, hoặc cực khổ trăm điều.

Hào 5:

Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát. Ý hào: Bậc nguyên thủ phải hết đạo lo việc nước thì mới được yên.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Mềm dẻo, khiêm tốn, biết lo xa thì kẻ cường bạo mới không chen được vào khe hở, mới bảo vệ được phúc trạch an toàn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Nhu nhược hôn ám, quyền ở tay người khác. Hoặc biết phụ lực vào với đại nhân thì đạt chí được phần nào và trước khó sau dễ.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ðương hiển thì đắc chí, thoái chức mà còn gian nan. _Giới sĩ: Tiến thủ khó. _Người thường: Kinh doanh đình trệ. Vận xấu. Khó tránh buồn rầu than khóc.

Hào 6:

Vương dụng xuất chinh. Hữu gia chiết thủ, hoạch phỉ kỳ xú, vô cữu. Ý hào: Việc chinh phạt đem lại sự chính đáng.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Văn võ toàn tài, mở vận hội thái bình.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Hoặc làm binh sĩ, khách buôn, vất vả ngược xuôi, hoặc đau đầu, mất thanh danh.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Xuất hay xử cũng nên công. _Giới sĩ: Tiến thủ, đứng đầu danh sách. _Người thường: Kinh doanh đắc lợi.

Chương 32: Quẻ THUẦN KHẢM
Chương 34: Quẻ TRẠCH SƠN HÀM
Chia Sẻ Bài Viết