Chương 39: Quẻ ĐỊA HỎA MINH DI

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ ĐỊA HỎA MINH DI

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

|:|::: Địa Hỏa Minh Di (明夷 míng yí)

Quẻ Địa Hỏa Minh Di, đồ hình |:|::: còn gọi là quẻ Minh Di (明夷 ming2 yi2), là quẻ thứ 36 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☲ (|:| 離 li2) Ly hay Hỏa (火).

* Ngoại quái là ☷ (::: 坤 kun1) Khôn hay Đất (地).

Giải nghĩa: Thương dã. Hại đau. Thương tích, bệnh hoạn, buồn lo, đau lòng, ánh sáng bị tổn thương. Kinh cức mãn đồ chi tượng: gai góc đầy đường.

Tiến lên thì tất có lúc bị thương tổn, cho nên sau quẻ Tấn tiếp tới Minh di. Di [夷] nghĩa là thương tổn.

Thoán từ

明夷: 利艱貞.

Minh di: Lợi gian trinh.

Dịch: Ánh sáng bị tổn hại, chịu gian nan, giữ điều chính thì lợi.

Giảng: Quẻ này ngược với quẻ Tấn ở trên; mặt trời (ly) lặn xuống dưới đất (Khôn) ánh sáng bị tổn hại, tối đi (Minh di).

Người quân tử ở thời u ám này, gặp nhiều gian nan, chỉ có cách giữ đức chính trinh của mình thì mới có lợi. Muốn vậy thì ở trong lòng giữ đức sáng mà ở ngoài thì nhu thuận để chống với hoạn nạn như tượng của quẻ Ly là sáng văn minh ở nội quái, Khôn là nhu thuận ở ngoại quái. Vua Văn Vương bị vua Trụ nghi ngờ, giam vào ngọc Dữu Lý, tỏ vẻ rất nhu thuận, không chống đối Trụ, mà để hết tâm trí vào việc viết Thoán từ giảng các quẻ trong Kinh Dịch, nhờ vậy Trụ không có cớ gì để giết, sau thả ông ra.

Không những ở ngoài phải tỏ vẻ nhu thuận, mà có khi còn nên giấu sự sáng suốt của mình đi nữa mà trong lòng vẫn giữ chí hướng, như Cơ tử một hoàng thân của Trụ. Trụ vô đạo, Cơ Tử can không được, giả điên, làm nô lệ, để khỏi bị giết, mong có cơ hội tái tạo lại nhà Ân; khi nhà Ân mất, ông không chết với Trụ, cũng không bỏ nước ra đi. Võ vương – con Văn Vương – diệt Trụ rồi, trọng tư cách Cơ Tử, mời ra giúp nước, ông không chịu; sau Võ vương cho ra ở Triều Tiên, lập một nước riêng. Như vậy là Cơ Tử giấu sự sáng suốt của mình để giữ vững chí, không làm mất dòng dõi nhà Ân (Hối kì minh, nội nạn nhi năng chính kì chí – Thoán truyện).

Đại tượng truyện bảo quân tử gặp thời Minh di, muốn thống ngự quần chúng nên dùng cách kín đáo mà lại thấy được rõ (dụng hối nhi minh), nghĩa là dùng thủ đoạn làm ngơ cho kẻ tiểu nhân , đừng rạch ròi, nghiêm khắc quá mà sẽ bị hại, tóm lại là làm bộ như không biết để chúng không nghi ngờ mình và để lộ hết dụng tâm của chúng ra mà mình sẽ biết được. Cơ hồ tác giả Đại tượng truyện muốn dùng thuật của Hàn Phi.

Hào từ

1. 初九: 明夷, 于飛 垂其翼.君子于行, 三日不食, 有攸往, 主人有言.

Sở cửu: Minh di, vu phi thùy kì dực. Quân tử vu hành,

tam nhật bất thực, hữu du vãng, chủ nhân hữu ngôn.

Dịch: Hào 1, dương : ở thời u ám (ánh sáng bị tổn hại), hào này như con chim muốn bay mà cánh rũ xuống. Người quân tử biết thời cơ thì bỏ đi ngay, dù (không có tiền) phải nhịn đói ba ngày, mà đi tới đâu, gặp chủ cũ, cũng bị chủ cũ chê trách.

Giảng: Hào dương ở đầu thời Minh di, là người quân tử gặp thời hắc ám, có thể bị hại như con chim rũ cánh xuống. Cách xử thế là nên bỏ đi ngay, như Phạm Lãi bỏ nước Việt vì biết vua Việt là Câu Tiễn sẽ nghi ngờ mà hại các công thần, nhờ vậy tránh được cái hoạ bị giết như đại phu Chủng.

2. 六二: 明夷, 夷于左股, 用拯馬壯, 吉.

Lục nhị: Minh di, di vu tả cổ, dụng chửng mã tráng, cát.

Dịch: Hào 2, âm: Ở thời ánh sáng bị tổn hại, hào này như bị đau ở đùi bên trái, nhưng cũng mau khỏi, sẽ như con ngựa mạnh mẽ tiến lên, tốt.

Giảng: Hào này làm chủ nội quái Ly (sáng suốt), đắc trung, đắc chính , là bậc quân tử có tài, nhưng ở thời Minh di, hôn ám nên bị tiểu nhân làm hại ít nhiều, như bị thương ở đùi bên trái, nhưng rồi sẽ mau khỏi (dụng chửng), mà như con ngựa mạnh mẽ.

Tốt vì hào 2 trung, chính, lại vẫn thuận theo (vì là hào âm) phép tắc.

“dụng chửng mã tráng” R. Wilhelm giảng là : sẽ dùng sức con ngựa mạnh mà giúp đỡ người khác khỏi cơn nguy, J. Legge dịch là: tự cứu mình bằng sức một con ngựa mạnh. Chúng tôi theo Chu Hi và Phan Bội Châu.

3. 九三: 明夷, 于南狩, 得其大首, 不可疾, 貞.

Củu tam: Minh di, vu nam thú, đắc kì đại thủ, bất khả tật, trinh.

Dịch: Hào 3, dương: ở thời ánh sáng bị tổn hại, đi tuần về phương Nam, bắt được kẻ đầu sỏ, nhưng đừng hành động gấp, phải bền chí.

Giảng: Hào này ở trên cùng nội quái Ly là cực sáng suốt; nó là dương cương , ở vị dương, vậy là rất cương kiện, nó ứng với hào âm ở trên cùng quẻ Khôn (ngoại quái), hào này cực hôn ám. Nó sẽ đánh đổ hào âm đó. Nó cứ đem binh đi tuần về phương Nam (Nam thú: Phan Bội Châu giảng là đem quân tiến lên phía trước để trừ loạn) sẽ bắt được tên đầu sỏ phản loạn. Nhưng nó cương cường nóng nảy, nên phải khuyên: đừng gấp, phải bền chí giữ đạo chính.

4. 六四: 入于左腹, 獲明夷之心, 于出門庭.

Lục tứ: Nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình.

Dịch: Hào 4, âm: như vô phía bên trái của bụng (ý nói chỗ u ám); tấm lòng ở thời u ám (minh di) là nên bỏ nhà mà ra đi.

Giảng: Hào này âm nhu, ở vào thời Minh di, mà lại vượt quẻ Ly, sang quẻ Khôn rồi, tức bỏ chỗ sáng sủa, bước vào chỗ tối tăm, cho nên ví như vô phía bên trái của bụng. Nhưng hào này đắc chính (âm ở vị âm) nên có thể rút chân ra khỏi cảnh khốn nạn ấy được: cứ bỏ nhà ra đi, tức tránh cho xa cảnh đó, mặc nó.

Đó là hiểu theo Phan Bội Châu. Chu Hi nhận rằng không thấy được nghĩa hào này.

5. 六五: 箕子之明夷, 利貞.

Lục ngũ: cơ tử chi Minh di, lợi trinh.

Dịch: Hào 5, âm: như ông Cơ Tử ở thời u ám (Minh di), cứ bền giữ đạo chính thì lợi.

Giảng: Thường các quẻ khác, hào 5 là ngôi chí tôn, quẻ Minh di này hào trên cùng mới là ngôi chí tôn, hào 5 là người thân cận với ngôi chí tôn. Hào trên cùng là ông vua rất hôn ám như vua Trụ, hào 5 là người thân cận có đức trung, như ông Cơ Tử; ông giả điên để khỏi bị Trụ hại mà sau giữ được dòng dõi nhà Ân, như vậy là giữ vững đạo chính, ở ngoài làm ra vẻ hôn mê, mà trong lòng vẫn sáng suốt.

6. 上六: 不明晦, 初登于天, 後入于地.

Thượng lục: Bất minh di, sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa.

Dịch: Hào trên cùng, âm: không còn là ánh sáng bị tổn thương nữa, lên cao tới trời mà rồi sụp xuống đất.

Giảng: Hào trên cùng, âm; ở cuối cùng thời Minh di, lại ở trên cùng ngoại quái Khôn, tức như người có địa vị tối cao mà lại hôn ám cùng cực; như vậy là tối mù mù, chứ không phải chỉ là ánh sáng bị tổn hại (Minh di), nữa, cho nên Hào từ bảo là “bất minh di”. Có cái tượng lên cao tới trời (địa vị tối cao) mà rồi sụp xuống đất.

***

Quẻ này khuyên người quân tử ở thời hắc ám quá thì có thể bỏ nhà, nước mà đi; hoặc muốn ở lại thì giấu sự sáng suốt của mình mà giữ vững đạo chính để chờ thời.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

36. 地 火 明 夷  ĐỊA HỎA MINH DI   

Minh Di Tự Quái明 夷 序 卦
Tấn giả tiến dã.晉 者 進 也.
Tiến tất hữu sở thương.進 必 有 所 傷.
Cố thụ chi dĩ Minh Di.故 受 之 以 明 夷.
Di giả thương dã.夷 者 傷 也.

Minh Di Tự Quái

Cho nên, quẻ Tấn vẽ đường tiến lên.

Tiến trình âu lắm oan khiên.

Minh  Di vì vậy, nói lên sự tình.

 Quẻ Minh Di, trái ngược với quẻ Tấn. Tấn là mặt trời mọc lên cao mãi, khỏi mặt đất. Minh Di là mặt trời chìm dần xuống lòng đất.

Tấn là một thời kỳ minh thịnh, trên thì có minh quân, dưới thì có hiền thần, cùng nhau tiến bước.

Minh Di, là một thời kỳ hôn ám, trên là hôn quân, dưới là quân thần thọ thương, thọ khổ.

Gọi là Minh Di, có nghĩa là ánh sáng bị thương tổn, quân tử bị thương tổn, tai nạn.

I. Thoán.

Thoán từ.

明 夷. 利 艱 貞.

Minh Di. Lợi gian trinh.

Dịch.

Minh Di mà biết nguy nan,

Lại luôn chính trực, mới gan, mới lời. 

Minh Di, là thời quân tử lâm nàn, nên Thoán từ mở đầu bằng một lời khuyên: Gian nan mà vẫn giữ được chính lý, chính đạo, mới hay: Minh Di. Lợi gian trinh.

Thoán Truyện.

彖 曰. 明 入 地 中. 明 夷. 內文 明 而 外 柔 順. 以 蒙 大 難. 文 王 以 之. 

利 艱 貞. 晦 其 明 也. 內 難 而 能 正 其 志. 箕 子 以 之.

Thoán viết:

Minh nhập địa trung. Minh Di. Nội văn minh nhi ngoại nhu thuận.

Dĩ mông đại nạn. Văn vương dĩ chi. Lợi gian trinh. Hối kỳ minh dã.

Nội nạn nhi năng chính kỳ chí. Cơ Tử dĩ chi.

Dịch.

Thoán rằng: sáng nhập đất rồi,

Minh Di là sáng chôn vùi tầng sâu.

Trong tuy sáng tỏ mặc dầu,

Ngoài thời nhu thuận, qua cầu gian nan.

Văn Vương gặp buổi tai nàn,

Đã theo lối đó, mới an mới lành.

Gian nan, mà vẫn trung trinh,

Thế thời ích lợi âu đành mấy mươi.

Giấu che thông sáng với đời,

Gặp cơn hoạn nạn, chẳng rời trung trinh.

Sắt son giữa buổi điêu linh,

Được như Cơ Tử, sử sanh mấy người.

Thoán Truyện giải hai chữ Minh Di là Minh nhập địa trung, nghĩa  là Ánh sáng đã vào lòng đất

Thoán Truyện bày cách cho người quân tử xử sự khi gặp thời buổi Minh Di,  khi  mà  hôn  quân những toan hãm hại mình. Lúc ấy người quân tử, tuy tâm thần bên trong sáng láng, nhưng bên ngoài phải tỏ ra phục tùng, nhu thuận. Đó là đường lối Văn vương đã theo, khi gặp đaị nạn, và bị Trụ Vương cầm tù bảy năm ở Dũ  Lý.

Thoán rằng: Nội văn minh. Nhi ngoại nhu thuận. Dĩ mông đại nạn. Văn Vương dĩ chi. Mông đây là gặp.

Gặp thời buổi gian nan như vậy, phải biết che dấu sự thông sáng của mình, mà vẫn giữ tròn được chính đạo, thế mới là đường lối vẹn toàn. Cơ Tử đã theo được đường lối này. Lợi gian trinh. Hối kỳ minh dã. Nội nạn nhi năng chính kỳ chí. Cơ Tử dĩ chi. Gặp lúc hôn quân nghi kỵ, mà không dấu được sự thông minh sáng láng của mình, tất sẽ gặp hoạn nạn; bằng không giữ được lòng ngay chính, thì không phải là những trang hiền minh, trung liệt.

Người xưa nói: Người có nhân, không vì thịnh suy, mà đổi tiết, Người có nghĩa, không vì  còn,  mất mà  thay lòng. Thực đúng là trường hợp Cơ Tử. Văn vương và Cơ Tử chẳng những đã khéo xử, trong thời Minh Di, nên đã thoát được tay Trụ Vương hãm hại, mà còn lợi dụng đưọc thời Minh  Di, mà làm nên sự nghiệp.

Văn Vương, trong 7 năm bị giam cầm ở Dũ Lý, đã biết lợi  dụng  thời  gian đó mà làm Dịch. Còn Cơ Tử giả cuồng, giả dại, đem thân ở đợ cho  người, thời lại phát minh ra được vi ý Lạc Thơ của Đại Võ mà viết thành thiên Hồng Phạm Cửu Trù, truyền lại cho hậu thế. Như vậy chẳng đáng phục lắm sao?

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰. 明 入 地 中. 明 夷. 君 子 以 蒞 眾. 用 晦 而 明.

Tượng viết:

Minh nhập địa trung. Minh Di. Quân tử dĩ lỵ chúng. Dụng hối nhi minh.

Dịch. Tượng rằng:

Sáng vào lòng đất, Minh Di, 

Nên người quân tử cũng y tượng trời.

Xuề xòa đối đãi với người,

Bề trong sáng suốt, bề ngoài giả lơ.

Tượng Truyện nhân quẻ Minh Di, dạy chúng ta bài học trị dân. Dịch cho rằng: khi người quân tử đến với dân, không nên quá soi mói, tuy bề trong mình sáng láng, nhưng bề ngoài nhiều khi phải giả lơ như là không biết, không nghe. Thế tức là: Quân tử dĩ lỵ chúng. Dụng hối nhi minh.

Mũ miện của vua chúa xưa, thường có những bông tua rủ xuống trước mắt, trước tai, hoặc dùng bình phong che ngoài cửa, cốt tỏ muốn nhắm mắt bưng tai, làm ngơ bớt trước những lỗi lầm của kẻ dưới. 

III. Hào từ & Tiểu Tượng Truyện

1. Hào Sơ Cửu. 

初 九.      明 夷 于 飛 . 垂 其 翼 . 君 子 于 行. 三 日 不 食.

               有 攸 往. 主 人 有   言. 

象 曰:    君 子 于 行,義 不 食 也。

Sơ Cửu. Minh Di vu phi. Thùy kỳ dực. Quân tử vu hành.

Tam nhật bất thực. Hữu du vãng. Chủ nhân hữu ngôn.

Tượng viết: 

Quân tử vu hành. Nghĩa bất thực dã.

Dịch. Sơ Cửu.

Minh Di, tăm tối nguy thay,

Tìm đường cao chạy xa bay cho rồi.

Cố sao che được mắt người,

Như chim rũ cánh, vẻ ngoài thọ thương.

Ra đi quân tử lo lường,

Ba ngày ròng rã chẳng màng uống ăn.

Đi đâu, cũng bị tiếng tăm.

Miệng đời đàm tiếu, lăng nhăng quản gì.

Tượng rằng: quân tử ra đi,

Cố sao đi thoát, quản gì uống ăn.

Sơ Cửu tượng trưng cho ngươi quân tử gặp thời Minh Di, nhưng hãy còn xa hôn quân, xa họa hoạn.

Lúc ấy phải xử trí ra sao? Thưa phải tìm đường cao phi, viễn tẩu. Thế tức là Minh Di vu phi. Tống Bản thập  tam kinh giải chữ Vu phi, là theo một đường lối đặc biệt, để thoát nạn, là phải giả đò ốm đau, bệnh hoạn, để dễ bề rút lui, chẳng khác nào con chim bị thương, rũ cánh xuống;  Thùy kỳ dực.

Đã đi trốn được rồi, phải đi cho cấp tốc, kẻo bị bắt lại; đừng kể chi đến ăn uống nữa, dầu nhịn đói ba ngày mà cứu được mạng mình, cũng nên nhịn mà trốn. Quân tử vu hành. Tam nhật bất thực. Khi hiểm nguy chưa biểu lộ, mà mình lo đi gấp, âu sẽ có nhiều người chê cười, cho là hèn nhát, là điên cuồng. Nhưng người quân tử phải kiến cơ nhi tác, chứ không đợi nước đến chân mới nhẩy. Vì thế Hào từ viết thêm: Hữu du vãng. Chủ nhân hữu ngôn. Chữ Chủ nhân đây không nhất thiết phải là chủ nhân của mình, mà cũng có thể hiểu trống là người ta. Trình tử cũng giải thích rằng: Mình ra đi, mà có người nói xấu sau lưng mình.

Khi Mục Sinh, rời nước Sở, thì Thân Công, Bạch Công, đều chê là chẳng phải, chứ đừng nói chi đến người thường, nhưng có biết đâu Mục Sinh ra đi để lánh nạn Tư Mỹ. Các nhà bình giải Quẻ Minh Di, cũng thường lấy chuyện các hiền thần đời vua Trụ, mà giải các Hào.

Hào Sơ này làm ta liên tưởng đến Bá Di, chạy lên biển Bắc; Thái Công Vọng, chạy ra biển Đông, để lánh nạn Trụ Vương. Bầy mưu, tính kế, để cao chạy xa bay, đó là cách thế người xưa thường dùng.

Đọc Tây Hán Chí, ta thấy Bái Công, Trương Lương và Trần Bình, phải tốn bao tâm cơ, mới được Hạng Võ cho phép vào Hán Trung. Và khi đã được Hạng Võ chấp thuận rồi, Bái Công đã vội vã ra đi, thoát nanh vuốt Hạng Võ, sớm chừng nào hay chừng nấy. Thật đúng là:  Quân tử vu hành. Nghĩa bất thực dã.

 2. Hào Lục nhị.

六 二.      明 匈 . 夷 于 左 股 . 用 拯 . 馬 壯 . 吉. 

象 曰.      六 二 之 吉. 順 以 則 也 .

Lục nhị. Minh Di. Di vu tả cổ. Dụng chửng. Mã tráng. Cát.

Tượng viết: 

Lục nhị chi cát. Thuận dĩ tắc dã.

Dịch.

Minh Di phải buổi nhiễu nhương,

Làm cho đùi trái thọ thương mất rồi.

Ngựa hay, sẽ cứu được người,

Ruổi rong lưng ngựa, may thời ắt may.

Tượng rằng: Lục nhị gặp may,

Vì theo phép nước, chẳng thay đổi lòng.

Lục nhị đây là một bậc hiền minh chi tài, gặp thời Minh Di, mà biết ăn ở theo lẽ trung chính, lại bên ngoài, biết tỏ vẻ nhu thuận, phục tùng.

Những người như vậy, dẫu gặp hoàn cảnh éo le, nguy hiểm, vẫn biết thuận thời tự xử, chờ tới khi có người đến cứu thoát, cũng y thức như một người mới bị thương, và chân trái tuy không đi được, nhưng nếu có ngựa hay, ngựa mạnh, vẫn có thể cưỡi mà trốn thoát. Vì thế, Dịch mới nói: Lục nhị. Minh Di. Di vu tả cổ. Dụng chửng. Mã tráng. Cát. Đó là trường hợp Văn Vương, khi bị cầm tù ở ngục Dũ Lý. Ngài một niềm trung thuận, giữ trọn đạo bầy tôi.

Sau này, Tán Nghi Sinh sai Thái Diên và Hoàng Yêu dâng vàng bạc, châu báu, cho Vưu Bồn, Bí Trọng, để hai tên gian thần này bảo tấu với Trụ Vương, mà xin tha cho Văn Vương.

Thế tức là: Lục nhị chi cát. Thuận dĩ tắc dã.

3. Hào Cửu tam.

九 三.      明 夷 于 南 狩. 得 其 大 首. 不 可 疾 貞.

象 曰.      南 狩 之 志. 乃 大 得 也.

Cửu tam. Minh Di vu nam thú. Đắc kỳ đại thủ. Bất khả tật trinh.

Tượng viết:

Nam thú chi chí. Nãi đại đắc dã.

Dịch.  

Minh Di săn thú phía nam,

Gặp ngay chủ chốt, bắt mang trở về.

Dân tình vất vưởng, ủ ê,

Chớ nên vội vã, ép bề phép khuôn.

Tượng rằng: Săn thú phía nam,

Cho nên việc lớn đã làm nên công.

Cửu tam là chí minh, nên khắc với Hào Thượng Lục là ám. Vì thế nên Hào Cửu tam chính là những người anh tài, như Thang, Võ sẽ ra tay, vì dân trừ kẻ bạo tàn là Kiệt, Trụ. Họ là những kẻ đứng lên, tiến lên để ruồng bắt, những kẻ đại gian, đại ác, hại dân, hại nước.

Dịch nói: Cửu tam. Minh Di vu nam thú. Đắc kỳ đại thủ, chính là vì vậy. Trong công cuộc này, Dịch   khuyên không nên vội vàng,  nhất là  khi phải chỉnh đốn lại guồng máy chính trị, tình hình xã hội. Hào từ nói: Bất khả tật trinh, chính là vì thế.

Kinh Thư, thiên Tửu Cáo khuyên không nên giết hại những quan chức nhà Châu, mắc tật bê tha rượu chè, mà phải giáo hoá, dẫn dụ họ. Từ khi Thành Thang thoát ngục Hạ Đài, cho đến khi lật đổ được vua Kiệt; từ khi Văn Vương thoát được ngục Dũ Lý, cho đến khi Vũ Vương lật đổ được vua Trụ, cũng phải mất nhiều năm, nhiều tháng. Tóm lại muốn lật đổ một hôn quân vô đạo, không phải là một chuyện dễ, cần phải chuẩn bị lâu dài, chứ không thể vội vã được.

4. Hào Lục tứ.

六 四.      入 于 左 腹. 獲 明 夷 之 心. 于 出 門 庭.

象 曰.      入 于 左 腹. 獲 心 意 也. 

Lục tứ: Nhập vu tả phúc. Hoạch Minh Di chi tâm. Vu xuất môn đình.

Tượng viết: 

Nhập vu tả phúc. Hoạch tâm ý dã.

Dịch.

Phía lòng bên trái lọt vào,

Mới hay tâm địa cơ cầu Minh Di.

Cửa nhà vội bỏ ra đi.

Tượng rằng: ruột trái đi vào.

y là biết được gót đầu tâm tư.

Hào Lục tứ tượng trưng cho một người thân thiết của hôn quân, đã được lòng của hôn quân (Hoạch Minh Di chi tâm. Vu xuất môn đình), đã đi sâu được vào tâm địa của hôn quân (Nhập vu tả phúc. Hoạch tâm ý dã), và biết chắc chắn không có cách nào cảm hóa được hôn quân, không còn cách nào cứu vãn được sự đổ nát của triều chính, vì thế nên đành rứt áo ra đi (Vu xuất môn đình).

Đó là trường hợp Vi Tử, anh ruột vua Trụ, đã phải bỏ nước ra đi (Kinh Thư,  Vi Tử).

5. Hào Lục ngũ.

六 五.     箕 子 之 明 夷. 利  貞.

象 曰.     箕 子 之 貞. 明 不 可 息 也. 

Lục ngũ. Cơ Tử chi Minh Di. Lợi trinh.

Tượng viết: 

Cơ Tử chi trinh. Minh bất khả tức dã.

Dịch.

Bền gan sống buổi Minh Di,

Được như Cơ Tử, còn gì  lợi hơn.

Tượng rằng: Cơ Tử bền gan,

Mới hay sáng láng, khó làm tắt đi.

Lục ngũ chính là trường hợp của Cơ Tử. Cơ Tử kề cận quân vương, cầm giường mối cho đất nước, vì thế Cơ Tử không thể ra đi được.

Cơ Tử, sau khi đã khuyên Vi Tử, nên đi trốn, để bảo toàn giòng giõi nhà Thương, đã kết luận: Còn tôi, tôi không nghĩ đến chuyện đi trốn (Ngã bất cố hành độn. Kinh Thư, Vi tử), mà ở lại, thiệt càng khó xử. Muốn Trụ Vương, khỏi hại mình, ông phải giả điên, giả khùng, đi ở đợ cho người. Một hiền thần như vậy, thật đáng quí trọng. Vì thế Hào từ mới nói, Cơ Tử chi trinh. Minh bất khả tức dã. Cơ Tử thực là nhân vật hiếm có trong lịch sử.

Khi nhà Thương còn, thì ông đã hết sức ẩn nhẫn, đợi thời, gây dựng lại cơ nghiệp đã suy tàn. Khi nhà Thương mất, Võ vương khẩn khoản xin ông chỉ cho cách trị dân, thì ông dạy cho Hồng Phạm Cửu Trù, nhưng trước sau, ông nhất định không chịu thờ nhà Châu. Võ vương đành cho ông đến xứ Cao Ly xưng vương, lập quốc. Thật hi hữu vậy.

 6. Hào Thượng Lục.

上 六. 不 明 晦. 初 登 于 天. 后 入 于 地.

象 曰. 初 登 于 天. 照 四 國 也. 后 入 于 地. 失 則 也.

Thượng Lục. Bất minh hối. Sơ đăng vu thiên. Hậu nhập vu địa.

Tượng viết:

Sơ đăng vu thiên. Chiếu tứ quốc dã. Hậu nhập vu địa. Thất tắc dã.

Dịch. Thượng lục.

Sáng không sáng lại tối thui,

Trước lên trời thẳm, sau vùi đất sâu.

Tượng rằng: Mới đầu lên vút tận trời,

Sau sa lòng đất, vì rời phép khuôn.

Hào Thượng Lục, là Hào cuối của quẻ Minh Di, và cũng là Hào cuối của quẻ Khôn, tượng trưng ánh sáng bị thương tổn đến cùng cực (Bất minh hối). Không làm sáng được đức mình, để nó trở nên tối tăm; những người thế ấy mà ở cao ngôi, sẽ làm hại những người minh chính, sau cùng họ sẽ trở lại làm hại chính họ. Đó chính là trường hợp Trụ Vương; mới đầu thì uy quyền chấn bốn phương; sau này vì mê Đát Kỷ, chuyên hãm hại  hiền thần, lập  ra những  hình phạt  khủng khiếp, như Sái Bồn, Bào Lạc, để cuối cùng cũng đi đến chỗ mất ngôi, mất nước, phải tự thiêu ở Lộc Đài. Thật đúng là : Sơ đăng vu thiên. Hậu nhập vu địa. Đáng cho ta phải để tâm suy nghĩ

Các nhà bình giải, thường lấy các nhân vật đời Trụ Vương mà giải quẻ Minh Di, nhưng Minh Di không phải là một trường hợp lịch sử duy nhất, áp dụng cho thời Trụ Vương mà thôi đâu; mà còn  áp dụng mãi mãi trong lịch sử, mỗi khi có hôn quân định hãm hại hiền thần; trụy lạc, hoang dâm làm cho nhà tan, nước mất.

Tiểu Tượng Truyện kết luận rằng: Sự đoạ lạc xẩy ra, là vì không theo định luật tự nhiên của trời đất (Hậu nhập vu địa. Thất tắc dã).

ÁP DỤNG QUẺ MINH DI VÀO THỜI ĐẠI

Minh Di trên là trái đất, dưới là mặt trời. Ý nói trên là hôn quân, đè nén, áp bức, hãm hại một hiền thần ở dưới. Gặp trường hợp nguy hiểm đó, người bầy tôi này phải xử trí ra sao? Thưa, phải dấu bớt sự thông minh, sáng láng của mình, như Văn vương xưa đã làm.

Đọc lịch sử Việt Nam và Trung Hoa, ta thấy, xưa nay các vua chúa giết công thần khá nhiều. Người xưa nói: được chim thì bẻ ná, được cá thì quên nơm, chính là vì vậy.

– Câu Tiễn giết công thần là Văn Chủng, Hán Cao Tổ giết Hàn Tín, Anh Bố và Bành Việt, và khiến cho Trương Lương qui ẩn.

-Đại Minh Hồng Võ Chu Nguyên Chương giết nguyên soái Thường Ngộ Xuân. Ở Việt Nam, thời nhà Lê, vì vụ án Thị Lộ, mà  vua Lê Nhân Tông giết và chu di cả 3 họ Nguyễn Trãi. Thời Gia Long năm 16, Nguyễn văn Thành bị kết tội làm phản, và đã tự sát (1817), thật là vô vàn sự tích, không thể kể hết được.

Lời khuyên trên của Kinh Dịch, có ít người đã theo được, ví dụ như Tư Mã Ý đã giả điếc, nên đã thoát nạn.

Từ năm 1789, Pháp đã làm một cuộc Cách mạng lớn. Người ta không còn cho rằng vua chúa được trị vì là do Mệnh Trời. Người ta đề cao giá trị con người. Các Triết gia, Văn gia thời ấy như Diderot,Voltaire, Jean Jacques Rousseau, đã chủ trương Nhân chi sơ, tính bản thiện, (trước kia bên Âu Châu chủ trương Nhân chi sơ, tính bản ác, vì cho rằng con người sinh ra vốn đã ác, là do tội tổ tông), và cho rằng vua chúa chẳng qua chỉ là những công bộc quốc gia mà thôi. Quyền cai trị, là do dân, thuộc dân. Vì dân không đảm nhiệm được sự cai trị, nên dùng lá phiếu của mình để ủy nhiệm người khác. Và trên nguyên tắc, không ai được đặc quyền, đặc lợi gì hơn ai. Cách Mạng 1789 bùng nổ, và chọn khẩu hiệu là Tự Do, Bình đẳng và Anh em (Liberté, Égalité, Fraternité). Cũng từ thuở ấy, Đạo giáo cũng không còn được can thiệp vào chính quyền. Từ Cách Mạng Pháp, phần lớn các nước trong thiên hạ đã dần dần bỏ chế độ Quân chủ, cha truyền con nối, mà theo chế độ dân chủ, thay nhau trị dân, do dân bầu mỗi người một ít năm. Hoặc chỉ còn một số ít nước vẫn còn theo chế độ quân chủ, nhưng là quân chủ lập hiến, vua chỉ là tượng trưng, chứ không có thực quyền như xưa. Ví dụ như vua nước Anh, Nhật vv… Thật là một tiến bộ lớn cho nhân loại, và những chuyện giết chóc vô lý, cũng dần dần không còn nữa.

Ngày nay, các báo chí luôn soi mói vào công việc của chính quyền, nên các vị Nguyên Thủ có muốn cũng không dở dói gì được. Vả lại, muốn lập một Tổng hay Bộ  Trưởng, thì ngoài đề nghị của Tổng Thống, còn phải có sự khảo hạch, chọn lựa của Quốc Hội.

Theo tôi, (tác giả bài này) ngày nay hơn xưa, vì hợp tình, hợp lý hơn. Ngày nay, nếu ta bị chính quyền chèn ép, ta phải liệu cao chạy xa bay;  đi làm bị cấp trên chèn ép, ta phải liệu tìm sở khác mà làm, để tránh những sự không hay có thể xẩy ra mai sau v.v…

Tóm lại, Học Dịch, Hiểu Dịch, nhưng phải Áp dụng theo Dịch nữa, thì mới là hoàn hảo. 

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

36.Ðịa hỏa minh di

Ðại cương:

Tên quẻ: Minh Di là Thương (có ánh sáng như bị tổn thương).

Thuộc tháng 8

Lời tượng

Minh nhập địa trung: Minh Di. Quân tử dĩ ly chúng dụng hối nhi minh

Lược nghĩa

Mặt trời lặn vào trong đất là quẻ Minh Di (thương tổn). Người quân tử lấy đấy mà đến với công chúng, dùng cái tối mà thực ra là cái sáng.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp Giáp:

Kỷ: Mão, Sửu, Hợi

Quý hoặc Ất: Sửu, Hợi, Dậu

Lại sanh tháng 8 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Người rình trong đất tổn thương,

Tuổi đương phòng bệnh khó lường hư hao

Hào 1:

Minh di vu phi, thuỳ kỳ dực, quân tử vu hành, tam nhật bất thực, hữu du vãng, chủ nhân hữu ngôn. Ý HÀO: Biết cơ nên tránh sự tổn thương.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Sáng suốt trong sạch nên đắc dụng thời bình, tránh hạo thời loạn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Có chí lớn, nhưng động làm là bị tổn thương, dù có công nhưng khó được hưởng lộc.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Có thể gần mặt trời, phụ tá thân mật nhưng phòng tổn thương. _Giới sĩ: Có tin thắng lợi. _Người thường: Tai bay vạ gió, chân tay bị đau. Số tốt có người đem ngựa xe đến.

Hào 2:

Minh di, di vu tả cổ, dụng chửng mã tráng cát. Ý HÀO: Muốn khởi binh phạt kẻ tàn bạo thì phải xem có thuận lòng trời không.

MỆNH HỢP CÁCH: Có uy quyền để chinh phạt làm cho dân an nước vững.

MỆNH KHÔNG HỢP: Ðắc chí hoành hành nhịch tên nạt dưới, chỉ làm quân nhân thì lập được chút công lao.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: Có quyền binh tướng suý ở bên trong. Giới sĩ: Có cái mừng chiếm được công đầu. Người thường: Dễ bị tai họa.

Hào 3:

Minh di vu nam thú, đắc kỳ đại thủ, bất khả tật trinh. Ý HÀO: Trên dưới đều có tổn thương, nên ánh sáng chiếu vào bị trở ngại, nếu không tranh tung thì cũng tật ách.

MỆNH HỢP CÁCH: Nếu có hóa công nguyên khi thì có tạo tác nhà cửa.

MỆNH KHÔNG HỢP: Thì vế bên trái bị tổn thương, hoặc phải chia tay đi xa ngàn dặm.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: Có quyền binh tướng súy ở bên trong. Giới sĩ: Có cái mừng chiếm được công đầu. Người thường: Dễ bị tai họa.

Hào 4:

Nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình. Ý HÀO: Vào chỗ tối còn nông, còn có thể đi ra xa được

MỆNH HỢP CÁCH: Là tâm phúc được sủng ái của chính quyền.

MỆNH KHÔNG HỢP: Quỷ quyệt, sâu dân mọt nước.

XEM TUẾ VẬN: Chức nhàn, được trao việc quan trọng ở trong thì chuyển ra ngoài, ở tối lâu thì được ra sáng, bị giam được thoát thân, ra ngoài doanh thương gặp bạn nhà buôn đắc lực, đàn bà có mang sinh sản, số xấu thì có bệnh tim ở bụng.

Hào 5:

Cơ tử chi minh di, lợi trinh. Ý HÀO: Ở giữa hoạn nạn mà vẫn giữ được chì ngay.

MỆNH HỢP CÁCH: Có cơ mưu lớn mà vẫn giữ được thân mình.

MỆNH KHÔNG HỢP: Khó gặp đồng chí, lo lắng gian nan, bôn tẩu.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: kiệm đức tránh nạn. Giới sĩ: Khó gặp tri kỷ. Người thường: Gia đình có hoạn nạn.

Hào 6:

Bất minh, hối sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa. Ý HÀO: Vô đức nên không giữ được ngôi lớn.

MỆNH HỢP CÁCH: Chí cao vị lớn, cứu dại nạn cho nước.

MỆNH KHÔNG HỢP: Ỷ thế làm bậy, bé cuồng ngông, lớn ba đào.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: bị sài sể. Giới sĩ: nổi chìm. Người thường: trước dẽ sau khó, già quẫn kém thọ.

Chương 38: Quẻ HỎA ĐỊA TẤN
Chương 40: Quẻ PHONG HỎA GIA NHÂN
Chia Sẻ Bài Viết