Chương 40: Quẻ PHONG HỎA GIA NHÂN

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

PHONG HỎA GIA NHÂN

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

|:|:|| Phong Hỏa Gia Nhân (家人 jiā rén)

Quẻ Phong Hỏa Gia Nhân, đồ hình |:|:|| còn gọi là quẻ Gia Nhân (家人 jia1 ren2), là quẻ thứ 37 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☲ (|:| 離 li2) Ly hay Hỏa (火).

* Ngoại quái là ☴ (:|| 巽 xun4) Tốn hay Gió (風).

Giải nghĩa: Đồng dã. Nảy nở. Người nhà, gia đinh, cùng gia đình, đồng chủng, đồng nghiệp, cùng xóm, sinh sôi, khai thác mở mang thêm. Khai hoa kết tử chi tượng: trổ bông sinh trái, nẩy mầm.

Di là bị thương; hễ ra ngoài bị thương thì trở về nhà, cho nên sau quẻ Minh di tới quẻ Gia nhân. Gia nhân là người trong một nhà.

Thoán từ

家人: 利女貞.

Gia nhân: Lợi nữ trinh.

Dịch: người trong nhà: hễ đàn bà mà chính đáng thì có lợi.

Giảng: Nội quái là Ly, sáng suốt; ngoại quái là Tốn thuận. Ở trong thì suốt, xử trí không hồ đồ, ở ngoài thì thuận, như vậy việc tề gia sẽ tốt đẹp. Nói rộng ra việc nước cũng vậy, vì người trong một nước lấy nước làm nhà; mà việc thế giới cũng vậy, vì mỗi nước như một người, cả thế giới như một nhà.

Quẻ này, nội quái Ly là trung nữ, ngoại quái Tốn là trưởng nữ (1); hào 2, âm làm chủ nội quái, hào 4, âm làm chủ ngoại quái, hai hào đó đều đắc chính cả, cho nên nói đàn bà mà chính đáng thì có lợi.

Tuy chỉ nói “nữ” trinh thôi, nhưng phải hiểu nam cũng cần chính đáng nữa, vì nếu nam không chính đáng thì nữ làm sao chính đáng được. Cho nên Thoán truyện giải thích: Đàn bà chính đáng ở trong (ám chỉ hào 2, âm ở vị âm trong nội quái), mà đàn ông chính đáng ở ngoài (hào 5, dương, ở vị dương trong ngoại quái); đàn bà lo việc nhà, đàn ông lo việc ở ngoài, cả hai đều giữ đạo chính, đó là hợp với nghĩa lớn của trời đất (nữ chính vị hồ nội, nam chính vị hồ ngoại; nam nữ chính, thiên địa chi đại nghĩa dã). Nam nữ là nói chung, gồm cả cha mẹ, con cái, anh chị em, vợ chồng, ai nấy đều phải giữ đạo chính hết, chứ không phải chỉ có người trên, chồng không phải giữ đạo. Cha mẹ cũng có đúng đạo cha mẹ thì con mới đúng đạo con, anh em cũng vậy, chồng vợ cũng vậy. Thời xưa chẳng riêng ở Trung Hoa mà ở khắp các nước theo chế độ phụ quyền như phương Tây cũng vậy, không có bình đẳng giữa nam nữ; nhưng về tư cách, đạo đức, thì nam nữ đều có bổn phận, trách nhiệm ngang nhau.

Đại tượng truyện khuyên: coi tượng quẻ này, gió từ trong lửa phát ra (điều này khoa học đã giảng rồi), người quân tử hiểu rằng trong thiên hạ, việc gì ở ngoài cũng phát từ ở trong; muốn trị nước thì trước phải trị nhà, muốn trị nhà thì trước phải tu thân; mà việc tu thân cốt ở hai điều: nói phải có thực lý; thực sự, không nói suông, vu vơ; làm thì thái độ phải trước sao sau vậy, triệt để từ đầu tới đuôi, đừng thay đổi hoài (quân tử dĩ ngôn hữu vật, như hạnh hữu hằng).

Hào từ

1. 初九: 閑有家, 悔亡.

Sơ cửu: nhàn hữu gia, hối vong.

Dịch: Hào 1, dương: phòng ngừa ngay từ khi mới có nhà thì không hối hận gì cả.

Giảng: Hào này dương cương ở đầu quẻ Gia nhân, chính là lúc mới có nhà, nếu biết đề phòng, ngăn ngừa ngay các tật như lười biếng, xa xỉ thì không có gì phải ăn năn. Ý hào này cũng như tục ngữ của ta: Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.

2. 六二: 无攸遂, 在中饋, 貞吉.

Lục nhị: vô du loại, tại trung quĩ, trinh cát.

Dịch: Hào 2, âm: không việc gì mà tự chuyên lấy thành công (nắm hết trách nhiệm), cứ ở trong nhà lo việc nấu nướng, giữ đạo chính thì tốt.

Giảng: Hào này âm nhu mà ở vị âm, đắc trung đắc chính là người dâu hay con gái thuận tòng, nhún nhường, nhưng bất tài, ở địa vị thấp, nên không gánh vác nổi việc trị gia, không lãnh trách nhiệm lớn được, chỉ nên lo việc nấu nướng ở trong nhà thôi.

3. 九三: 家人嗃嗃, 悔厲, 吉.婦子嘻嘻, 終吝.

Cửu tam: Gia nhân hác hác, hối lệ, cát; phụ tử hi hi, chung lận.

Dịch: Hào 3, dương: người chủ nhà nghiêm khắc, tuy hối hận, có nguy nhưng lại tốt; (nếu quá khoan để cho) dâu con nhí nhảnh chơi đùa thì lại hối tiếc.

Giảng: Hào này là dương ở vị dương, đắc chính nhưng không đắc trung, quá nghiêm khắc, tuy có lúc phải hối hận, gặp nguy, nhưng kết quả lại tốt vì nhà có trật tự, trái lại nếu quá dễ dãi để cho dâu con luông tuồng, thì nhà sẽ suy loạn mà phải hối tiếc.

4. 六四: 富家, 大吉.

Lục tứ: phú gia, đại cát.

Dịch: Hào 4, âm: Làm giàu thịnh cho nhà, rất rốt.

Giảng: Hào này âm nhu, đắc chính ở vào ngoại quái Tốn, ở địa vị cao, như bà mẹ có trách nhiệm làm cho nhà giàu thịnh lên.

Theo Phan Bội Châu, chữ “phú” ở đây không có nghĩa là làm giàu, mà có nghĩa là gia đạo hưng thịnh lên, mọi người hoà hợp nhau, trên ra trên, dưới ra dưới.

5. 九五: 王假有家, 勿恤, 吉.

Cửu ngũ: Vương cách hữu gia, vật tuất, cát.

Dịch: Hào 5 dương : vua (hoặc gia chủ) rất khéo về việc trị gia (cách là rất tốt không có gì phải lo, tốt.

Giảng: Chữ vương ở đây có thể hiểu là vua trong nước hay gia chủ, nếu hiểu là vua thì “trị gia” phải hiểu là “trị quốc”

Hào này dương cương, đắc trung, đắc chính, lại có hào 2, âm ở dưới ứng với mình, cũng trung, chính; như có người nội trợ hiền giúp đỡ mình, không còn lo lắng gì nữa, tốt.

6. 上九: 有孚, 威如, 終吉.

Thượng cửu: Hữu phu, uy như, chung cát.

Dịch: Hào trên cùng, dương: (người trên) có lòng chí thành và thái độ uy nghiêm (không lờn) thì cuối cùng sẽ tốt.

Giảng: Hào này ở trên cùng quẻ Gia nhân, tức lúc gia đạo đã hoàn thành. Người trên chỉ cần thành tín là người dưới tin, lại nghiêm trang thì đạo được tốt đẹp lâu dài.

***

Quẻ này dạy cách tề gia, cần nhớ ba điều này:

– Phải ngăn ngừa ngay từ lúc đầu.

– Bất kỳ người nào trong nhà, nhất là những người trên, phải giữ chánh đạo, giữ bổn phận, trách nhiệm của mình.

– Người chủ phải nghiêm, nếu nghiêm thì có điều hối hận đấy, nhưng còn hơn là quá dễ dãi.

Chúng ta để ý: sáu hào không có hào nào xấu; nhưng ba hào dưới thuộc về bước đầu, có lời răn bảo (hào 1: phải phòng ngừa từ lúc đầu, hào 2: phải giữ đạo chính ; hào 3: coi chừng nghiêm quá thì hối hận, nguy); tới hào 4 và 5; kết quả rất tốt, hào cuối chỉ cách giữ được sự tốt đẹp đó tới cùng.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

37. 風 火 家 人 PHONG HỎA GIA NHÂN   

Gia Nhân Tự Quái家 人 序 卦
Di giả thương dã.夷 者 傷 也
Thương ư ngoại giả 於 外者
Tất phản ư gia. 必 反 於 家
Cố thụ chi dĩ Gia Nhân.故 受 之 以 家 人

Gia Nhân Tự Quái

Di là thương tổn, điêu linh,

Ra ngoài thương tổn, mới quanh về nhà

Gia nhân vì thế mới ra.

Quẻ Gia Nhân, nói về gia đạo. Trong quẻ này:

 *Hào Thượng Cửu là cha.

*Hào Sơ Cửu là con.

*Hào Cửu ngũ là chồng.

*Hào Lục nhị là vợ.

*Hào Cửu ngũ, Cửu tam là 2 anh em.

*Hào Lục tứ, Lục nhị là 2 vợ của chúng.

Như vậy, mọi người trong gia đình đều được đề cập tới. Hào Thượng Cửu đây là một Hào Dương cương, tượng trưng rằng trong nhà quyền hành phải ở trong tay người cha.

I. Thoán.

Thoán từ.

家 人. 利 女 貞.

Gia nhân. Lợi nữ trinh.

Dịch.

Muốn cho gia đạo được hay,

Đàn bà cần phải chính ngay mới là.

Quẻ Gia Nhân, cho ta thấy định luật chi phối đời sống gia đình. Nếu chuyển những đinh luật này ra ngoài xã hội, quốc gia, và thế giới, chúng cũng có thể làm cho nước trị, thiên hạ bình.

Quẻ Gia Nhân, toát lược lại quan niệm của Đại Học, và của Nho Giáo. Tức là;

Thân có tu, gia mới tề. Gia có tề, quốc mới trị, và thiên hạ mới bình.

-Nền tảng gia đình, chính là tình nghĩa vợ chồng. Vợ có chính đính, thủy chung, gia đình mới vững vàng, bền bỉ. Vì thế Thoán từ mới nói: Gia nhân. Lợi nữ trinh. 

Thoán Truyện.

彖 曰. 家 人. 女 正 位 乎 內. 男 正 位 乎 外. 男 女 正. 天 地 之 大 義 也.

家 人 有 嚴 君 焉. 父 母 之 謂 也 . 父 父 . 子 子. 兄 兄. 弟 弟 . 夫 夫.

婦 婦. 而 家 道 正. 正 家 而 天 下 定 矣.

Thoán viết:

Gia nhân. Nữ chính vị hồ nội. Nam chính vị hồ ngoại. Nam nữ chính.

Thiên địa chi đại nghĩa dã. Gia nhân hữu nghiêm quân yên.

Phụ mẫu chi vị dã. Phụ phụ. Tử tử. Huynh huynh. Đệ đệ. Phu phu.

Phụ phụ. Nhi gia đạo chính. Chính gia nhi thiên hạ định hỹ.

Dịch. Thoán rằng: 

Gia nhân, gia đạo trong đời,

Vợ trong chính đáng, chồng ngoài hẳn hoi.

Vợ chồng ngay chính hợp đôi,

Thế là đạt lẽ đất trời xưa nay.

Cần người chủ chốt cho hay,

Mẹ cha chính đáng, cơ ngơi vững vàng.

Cha con, ai nấy đường hoàng,

Anh em, chồng vợ, chững chàng, hẳn hoi.

Moị người đúng vị, đúng ngôi,

Thế là gia đạo rạch ròi, ngắn ngay.

Toàn dân gia đạo đều hay,

Rồi ra thiên hạ đắp xây hòa bình.

Trong gia đình, người vợ phải lo việc nội trợ, phải lo săn sóc, dạy dỗ con cái, trong khi người chồng có bổn phận phải đi ra ngoài, để lo sinh kế. Vì thế, trong quẻ Gia Nhân, Hào Lục nhị là người vợ, thời ở Nội quái; còn Hào Cửu ngũ là người chồng thời ở Ngoại quái.

Phân công như vậy là đúng đường lối của trời đất, vì thế Thoán Truyện viết: Gia nhân. Nữ chính vị hồ nội. Nam chính vị hồ ngoại. Nam nữ chính. Thiên địa chi đại nghĩa dã.  Ở trong gia đình, cha mẹ phải có uy quyền đối với con cái. Con cái phải hiếu thuận đối với cha mẹ.

Nước thời có vua cai trị, mà gia đinh thời có cha mẹ cai trị. Gia nhân hữu nghiêm quân yên. Phụ mẫu chi vị dã. Trong gia đình, ai nấy đều biết bổn phận mình; phải biết cách ăn ở đối với người khác.

-Cha, phải ra cha.

-Con, phải ra con.

-Chồng, phải ra chồng.

-Vợ, phải ra vợ.

-Anh, phải ra anh.

-Em, phải ra em.

Có được như vậy, thì gia đạo mới chính, mà gia đạo có chính, thời thiên hạ mới an bình. Tại sao vậy?

-Vì gia đình, chính là một quốc gia thu hẹp.

-Một người con hiếu thảo, sẽ trở thành một bầy tôi trung nghĩa.

-Anh em trong nhà, biết xử sự với nhau, trên kính, dưới nhường, thời ra đến ngoài xã hội, sẽ biết tôn trọng những bậc trưởng thượng, bảo vệ những người còn ấu trĩ.

Gia đình chính là một trường học dạy nhân luân tốt nhất. Nếu mọi gia đình, đều đua nhau phát huy luân lý, đạo đức, thì làm sao nước còn loạn lạc, xã hội còn đảo điên được. Ngược lại, nếu gia đình mà suy vi, hỗn loạn, tình gia đình mà trở nên lạnh nhạt, thì xã hội tất nhiên cũng sẽ bị xáo trộn. Vì thế Thoán Truyện viết: Phụ phụ. Tử tử. Huynh huynh. Đệ đệ. Phu phu. Phụ phụ. Nhi gia đạo chính. Chính gia đạo nhi thiên hạ định hỹ.

Đại Học cũng viết: Nhất gia nhân. Nhất quốc hưng nhân. Nhất gia nhượng. Nhất quốc hưng nhượng. (Nếu trong một nhà, mà mọi người đều nhân hậu, lần ra cả nước đều có lòng nhân hậu. Nếu trong một nhà, mà mọi người đều lễ nhượng, lần ra cả nước đều ăn ở lễ nhượng)  (Đại Học. IX).

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰. 風 自 火 出. 家 人. 君 子 以 言 有 物. 而 行 有 恆.

Tượng viết:

Phong tự Hỏa xuất. Gia Nhân. Quân tử dĩ ngôn hữu vật.

Nhi hạnh hữu hằng.

Dịch. Tượng rằng:

Gió từ trong lửa gió ra,

Gió sinh từ lửa, quẻ là Gia Nhân.

Vậy nên quân tử nói năng,

Có bằng, có chứng, nói năng rạch ròi.

Đại phàm hành xử trên đời,

Phải luôn theo đúng lẽ trời mới nên.

 (Gió tự Lửa xuất là Gia Nhân. Quân tử nói lời phải cho có mấu cớ. Hành động phải cho có phép tắc bền bỉ).

Gió tự Lửa sinh. Đó là tượng trưng ảnh hưởng từ phía trong lan ra bên ngoài. Trong gia đình cũng vậy, muốn ảnh hưởng đến người, ta cần phải có sức mạnh nội tâm, giá trị nội tại. Muốn ảnh hưởng đến người khác, những lời lẽ của ta phải có một nội dung thiết thực, một giá trị thực tiễn, hợp với hoàn cảnh. Hơn nữa, lời nói của ta phải phù hợp với hành vi, với lề lối sống của ta. Nếu lời nói không đi đôi với việc làm, sẽ không có ảnh hưởng. Chu Hi tóm tắt Đại Tượng Truyện bằng mấy chữ: Thân mình có tu, thời gia đình mới trị vậy. Thật là sâu sắc và chí lý vậy.

III. Hào từ & Tiểu Tượng Truyện

1. Hào Sơ Cửu.

初 九.     閑 有 家. 悔 亡.

      象 曰.      閑 有 家. 志 未 變 也.

Sơ Cửu.

Nhàn hữu gia. Hối vong.

Tượng viết:

Nhàn hữu gia. Chí vị biến dã.

Dịch. Sơ Cửu.

Trị gia cốt biết đề phòng,

Ngăn ngừa kỹ lưỡng, sẽ không phàn nàn.

Tượng rằng: Trị gia phải biết phòng ngừa,

Từ khi tâm trí người chưa đổi rời.

Phép trị gia cốt là biết ngăn ngừa, biết đề phòng; đề phòng sao cho mọi người trong gia đình không bước vào con đường biếng lười, bê tha, tội lỗi, lăng loàn, ngang ngược

Người khôn ngoan là phải biết đề phòng. Một chủ gia đình khôn ngoan, cũng như một vị quốc quân khôn ngoan, là người biết đề phòng. Biết đề phòng sẽ tránh được nhiều tai họa. Dịch Kinh không ngớt dạy, phải Phòng nguy lự hiểm Phòng vi đỗ tiệm.

Đọc Hào Sơ Lục quẻ Khôn, đọc Hệ Từ bình về Hào Cửu ngũ quẻ Bĩ, đọc Hào Lục tứ quẻ Đại Súc, với Hào Sơ quẻ Gia Nhân, ta thấy đều nói lên một định luật: đó là muốn ngăn cấm điều ác, muốn bế tắc điều tà, tất phải gấp lo ở lúc mới manh nha. Nếu chờ khi tà ác đã phát hiện, măng đã thành tre, lúc đó mới ra tay cấm chỉ, thời tuy có Thánh nhân dạy nó, cũng khó cho nó thành tâm, biến chất được. Cũng vì thế mà phương ngôn ta có câu: Dạy con từ thủa còn thơ; dạy vợ từ thủa bơ vơ mới về.

Có biết lo từ đầu như vậy, sẽ hết hối hận, phàn nàn về sau, vì thế Dịch Kinh mới nói: Hối vong.

Tượng Truyện giải thêm: Có gia đình thời phải biết đề phòng, từ khi ý chí con người chưa kịp biến động. Tượng viết: Nhàn hữu gia. Chí vị biến dã.

2. Hào Lục nhị.

六 二.      無 攸 遂. 在 中 饋. 貞 吉.

象 曰.      六 二 之 吉. 順 以 巽 也.

Lục nhị. Vô du toại. Tại trung quĩ. Trinh cát.

Tượng viết:

Lục nhị chi cát. Thuận dĩ tốn dã.

Dịch.

Chẳng cần thỏa ý riêng tây,

Lo bề gia chánh cho hay, tốt rồi.

Trung trinh, tốt biết mấy mươi.

Tượng rằng: Hào hai sở dĩ tốt lành,

Là vì nhu thuận, trung trinh, dịu dàng.

Hào Lục nhị đề cập đến bổn phận người đàn bà trong gia đình. Trong gia đình người đàn bà không được tự chuyên, tự quyết (Vô du toại). Chỉ cần lo săn sóc cửa nhà, lo vấn đề cơm nước, (Tại trung quĩ), thế là quí lắm rồi (Trinh cát). Lục nhị : Vô du toại. Tại trung quĩ. Trinh cát. Tượng Truyện bình thêm rằng cái hay, cái khéo của người đàn bà trong gia đình, chính là sự nhu thuận, từ tốn.

Tượng viết: Lục nhị chi cát. Thuận dĩ tốn dã.

Muốn cho người vợ trong gia đình thuận tòng, dĩ nhiên người gia chủ phải tài ba, đức độ, khiến được cho người vợ kính phục mình.

3. Hào Cửu tam.

九 三.     家 人 嗃 嗃. 悔 厲 . 吉. 婦 子 嘻 嘻 . 終 吝. 

象 曰.     家 人 嗃 嗃. 未 失 也. 婦 子 嘻 嘻  . 失 家 節 也.

Cửu tam. Gia nhân hác hác. Hối lệ. Cát. Phụ tử hi hi. Chung lận.

Tượng viết:

Gia nhân hác hác. Vị thất dã. Phụ tử hi hi. Thất gia tiết dã.

Dịch.

Trong nhà nem nép sợ oai,

Quá nghiêm e cũng một hai phàn nàn.

Quá nghiêm mà vững gia cang,

Quá nghiêm mà được chững chàng cũng hay.

Vợ con hi hí tối ngày,

Phàn nàn hối hận, rồi đây có lần.

Tượng rằng:

Trong nhà nem nép sợ oai,

Cũng chưa đến nỗi là sai là lầm.

Vợ con hi hí lố lăng,

Thế là hỏng hết gia phong mất rồi.

Hào Cửu tam đặt câu hỏi: Trị gia nên nghiêm hay khoan? và cho rằng: Nên nghiêm thì hơn. 

Trị gia dẫu quá nghiêm, làm cho mọi người nem nép sợ uy, tuy có hơi quá, nhưng kết quả vẫn là hay, vì gia đạo nhờ đó mà có kỷ cương nề nếp. Còn trị gia, mà nhu nhược quá, thả lỏng mặc cho ai muốn làm gì thì làm, thì lễ tiết trong gia đình sẽ suy bại hết. Vì thế Dịch mới nói: Cửu tam: Gia Nhân hác hác. Hối lệ. Cát. Phụ tử hi hi. Chung lận.

Tượng Truyện bình thêm. Tượng viết: Gia nhân hác hác vị thất dã. Phụ tử hi hi. Thất gia tiết dã. (người nhà mà nem nép, thì cũng chưa đến nỗi mất mát gì. Vợ con mà hơn hớn, thời gia phong dám mất lắm.)

Thời xưa, phép trị gia nghiêm cẩn, nên đạo đức, luân lý, nhờ đó mà được phát huy. Ngày nay, phép trị gia hời hợt, nên mọi người đều phóng túng, dễ sa đoạ.

Thật đúng như sự tiên đoán của Dịch Kinh vậy.

 4. Hào Lục tứ.

六 四. 富 家. 大 吉.

象 曰. 富 家 大 吉. 順 在 位 也  .

Lục tứ. Phú gia. Đại cát.

Tượng viết: 

Phú gia đại cát. Thuận tại vị dã.

Dịch.

Làm giàu gia đạo rất may.

Tượng rằng:Làm giàu gia đạo rất may,

Vợ nhà hiền thục, xứng tày vị ngôi.

Hào Lục tứ dạy thêm: Phải làm sao cho gia đình trở nên phú thịnh? Dĩ nhiên mỗi người phải có nghề, có nghiệp, phải sản xuất, đồng thời cũng phải biết dè sẻn, tiết kiệm trong sự chi dùng. Một yếu tố khác để cho gia đình trở nên giàu có là mọi người phải đồng lao, cộng tác cùng nhau.

Cũng có thể cắt nghĩa rằng: Sự phú thịnh trong gia đình, phần lớn là nhờ ở người nội trợ. Thực vậy, nếu người nội trợ biết thu vén, biết tùy nghi, biết tiêu pha, biết tiết kiệm, thì gia đình mới trở nên giầu có được.

Tượng viết: Phú gia đại cát. Thuận tại vị dã. Tượng Truyện cho rằng: Làm giầu cho gia đình, mà hay, mà tốt, chính là vì mọi người trong gia đình, đều biết phận sự mình, biết ăn ở xứng với địa vị mình. Nếu vậy sự giầu có ở đây, còn được hiểu là sự giầu có về tinh thần, sự đầm ấm hòa lạc của mọi người trong gia đình nữa.

 5. Hào Cửu ngũ.

九 五  .    王 假 有 家  . 勿 恤  . 吉

象 曰  .    王 假 有 家  . 交 相 愛 也

Cửu ngũ. Vương cách hữu gia. Vật tuất. Cát.

Tượng viết:

Vương cách hữu gia. Giao tương ái dã.

Dịch.

Như vua đến với gia đình,

Hết còn lo lắng, tốt lành hẳn hoi.

Tượng rằng: Như vua đến với gia đình,

Dưới trên đầm ấm, tận tình thương yêu.

Người gia chủ đối với gia đình, cũng như một vì vua trong một nước. Như vậy phải ăn ở sao cho xứng đáng, phải lo sao cho tài đức xứng kỳ vị, phải ý thức được trọng trách của mình, là đem lại trật tự, hoà lạc, thái thịnh và tiến bộ cho gia đình, cũng như bảo vệ, phù trì cho những người dưới quyền mình. Nếu làm được như vậy, thì chẳng việc gì phải lo, phải sợ, vì mọi sự sẽ được tốt đẹp cả. Dịch viết: Cửu ngũ: Vương cách hữu gia. Vật tuất. Cát.

Tượng Truyện bình thêm: Vương cách hữu gia. Giao tương ái dã. Người cha trong gia đình, tuy uy nghi như một vì vua, nhưng phải làm sao gây được niềm tương thân, tương ái trong gia đình. Vậy mới thật là hoàn hảo.

 6. Hào Thượng Cửu.

上 九.      有 孚 威 如. 終 吉.

象 曰.      威 如 之 吉. 反 身 之 謂 也.

Thượng Cửu. Hữu phu uy như. Chung cát.

Tượng viết:

Uy như chi cát. Phản thân chi vị dã.

Dịch:

Chững chàng, thành khẩn, uy nghi,

Rồi ra sẽ được thỏa thuê, tốt lành.

Tượng rằng: Uy nghi mà được tốt lành,

Vì mình đã có tinh thành bản thân.

Hào Thượng Cửu bàn thêm rằng: Người chủ gia đình, muốn gây được uy tín, muốn khiến mọi người kính phục, phải là con người thành tín, có đức độ thật (Hữu phu. Uy như chi cát). Tượng Truyện bàn rằng: Muốn gây được uy tín, trước hết mình phải biết tự tu, tự luyện. Tượng viết: Uy như chi cát. Phản thân chi vị dã. Đó cũng là chủ trương của sách Đại Học: Thân tu nhi hậu gia tề.

 ÁP DỤNG QUẺ GIA NHÂN VÀO THỜI ĐẠI

Đâu có củi, có lửa thì đấy có nhà (Phong Hỏa Gia Nhân). Gia Nhân dạy phải làm sao để tạo nên một gia đình hoàn hảo. Và cho rằng muốn được vậy, thì vợ phải ra vợ, chồng phải ra chồng, cha phải ra cha, con phải ra con, anh em phải ra anh em.

Gia đình theo Đông Phương, lấy chữ Hiếu làm đầu, lấy chữ Nghĩa làm trọng, và dạy mọi người trong gia đình, phải trọng nghĩa, khinh lợi. Gia đình Á Đông, là đại gia đình, gồm ông bà, cha mẹ, con cái. Xưa, đã có những gia đình Ngũ đại đồng đường, Tứ đại hay Tam đại đồng đường ( tức 5 đời, 4 đời hay 3 đời cùng ở chung với nhau).

  Ngày nay, người ta coi cá nhân là trọng, chứ không coi gia đình là trọng. Và Gia đình theo Âu Mỹ Tiểu Gia đình chỉ gồm có vợ chồng, con cái. Chứ bố mẹ không còn ở chung với con cái. Ngày nay, người ta đề cao Tự Do cá nhân, Hạnh Phúc cá nhân, nên không còn nghĩ đến việc ở chung với cha mẹ. Cha mẹ khi già, thì vào nhà Dưỡng Lão mà ở. Hoạ hoằn thì con cái mới tới thăm nom.

Còn con cái trong nhà, thì khi đã 18 tuổi thường cũng muốn ra ngoài sinh sống, không muốn ở trong vòng kiềm tỏa của cha mẹ nữa. Vả lại, vì Nam nữ binh quyền, vì người đàn bà thường cũng đi làm lụng như đàn ông, nên công việc gia đình cũng đòi chia sẻ với đàn ông, và quyền người đàn ông trong gia đình cũng bị giảm thiểu. Người ta không chịu nhường nhịn lẫn nhau, nên hơi một tí là đòi ly dị. Và số vợ chồng ly dị ở Mỹ hiện nay không phải là nhỏ.

Thanh thiếu niên đi vào con đường tình ái quá sớm, nên những chuyện phá thai xảy ra thường xuyên, và làm cho các nhà cầm quyền điên đầu luôn. Chung qui chỉ vì Nam nữ bình quyền, Cá nhân chủ nghĩa, và Tự Do quá trớn, nên gia đình Âu Mỹ hiện nay đã bị lung lay và xao xuyến.

Thực tình mà nói, so sánh quan niệm về gia đình của Đông lẫn Tây như đã nói trên, ta thấy quan niệm Á Đông hay hơn, tuy là ngặt nghèo hơn, còn gia đình Âu Mỹ thì càng ngày càng lỏng lẻo. Ta cũng không thể nói Âu Mỹ nên theo Á Châu, nhưng tìm cho ra một đường lối mới mẻ hay hơn, khác hơn cho Âu Mỹ ngày nay, thì quả thật là khó.

Tôi nghĩ dù sao, thì mổi người trong gia đình đều nên nhịn nhục lẫn nhau đôi chút. Nếu ta nhìn vào bất cứ một vấn đề gì, thì ta sẽ thấy theo đà thời gian, cái gì cũng đổi thay, biến hóa. Có vậy, mới thấy mọi sự đều biến dịch. Mong sao, mọi sự sẽ đi đến chỗ đẹp đẽ, thành toàn.  

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

37.Phong hỏa gia nhân

Ðại cương:

Tên quẻ: Gia nhân là Đồng (cùng với người nhà hòa thuận vui vẻ).

Thuộc tháng 6.

Lời tượng

Phong tự hỏa xuất: Gia nhân. Quân tử dĩ ngôn hữu vật nhi hành hữu hằng

Lược nghĩa

Gió từ lửa ra là quẻ Gia nhân (người nhà). Người quân tử lấy đấy mà lời nói phải có sự thực, việc làm phải theo đạo Hằng (thường xuyên).

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp giáp:

Kỷ: Mão, Sửu, Hợi

Tân: Mùi, Tỵ, Mão

Lại sanh tháng 6 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Rồi đây gia đạo thịnh,

Âm đức nhờ tổ tông,

Âm trạch trời cho giáng,

Hai con được cưỡi rồng

Hào 1:

Nhàn hưu gia, hối vong. Ý HÀO: Chính được gia đạo thì chẳng thất thố gì.

MỆNH HỢP CÁCH: Tài đức quảng đại, không những lập được nghiệp nhà mà dựng được quốc thể, hưởng phú quý.

MỆNH KHÔNG HỢP: Cũng là kẻ sĩ cẩn hậu, nhất sinh an lạc.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: Ðương nhàn đổi việc quan trọng, đương quan trọng thì hóa nhàn. Giới sĩ: Thi bằng nhỏ. Người thường: Lo toan được việc,thành gia thất tăng ni trụ trì, người già kém thọ.

Hào 2:

Vô du toại, tại trung quỹ, trinh cát. Ý HÀO: Hết đạo đàn bà, đẹp nhà đẹp cửa.

MỆNH HỢP CÁCH: Bình dị gần dân, nhiều người kính mến, gia đạo hưng long. Nữ mạng thì vượng chồng, lợi con, công to nội trợ.

MỆNH KHÔNG HỢP: Thì cũng thanh nhàn hưởng phúc.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: Về trung ương được vinh lộc. Giới sĩ: Ðược học bổng hay vào nội trú. Người thường: Thành gia, tài vật tăng bội.

Hào 3:

Gia nhân hạc hạc, hối lệ cát; phụ tử hy hy, chung lận. Ý HÀO: Răn giữ nghiêm gia đạo, mà vẫn khoan thai.

MỆNH HỢP CÁCH: Nghiêm chỉnh giữ uy, quả quyết giữ nghĩa. nhân tâm nể sợ thì mới tốt về sau.

MỆNH KHÔNG HỢP: Mừng giận thất thường, trên dưới lẫn lộn tất gia nghiệp phải đi đến điêu tàn.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: Nghiêm, ít khoan thứ. Giới sĩ: tiến thủ bình thường Người thường: Nửa mừng nửa lo, phòng đom mê

Hào 4:

Phú gia, đại cát. Ý HÀÒ: Làm lợi cho nước, cần có đức.

MỆNH HỢP CÁCH: Có đức nhu thuận, tu tài làm cho nước vững bền, dân sinh thỏa mãn yên vui.

MỆNH KHÔNG HỢP: Cũng được thóc lúa đầy đủ, làng xóm yên lành.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: có lộc nên giàu. Giới sĩ: được ban thưởng. Người thường: Buôn bán có lợi. Người cô quả gặp thân nhân.

Hào 5:

Vương cách hữu gia, vật tuất, cát. Ý HÀO: Lời nói có sự thực, việc làm có nếp quen.

MỆNH HỢP CÁCH: Ngôn hành đều đúng tiêu chuẩn, sẵn người giúp đỡ, điều tốt tự đem đến.

MỆNH KHÔNG HỢP: Cũng có cương, có nhu, đức nghiệp đều tốt.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: Hiển đạt. Giới sĩ: Thành danh. Người thường: Gặp quý nhân.

Hào 6:

Hữu phu, uy như, hung cát. Ý HÀO: Phải chính việc nhà để đi tới kết quả thì mới tốt.

MỆNH HỢP CÁCH: Có văn võ, có uy tín, đối nước, đối dân, là người hoàn toàn.

MỆNH KHHÔNG HỢP: Cũng là người nhu đủ cả, đức rộng phúc dày.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: Vị cao quyền trọng. Giới sĩ: Tiến thủ thành danh. Người thường: Kinh doanh đắc ý. Nữ mạng là người đức phụ.

Chương 39: Quẻ ĐỊA HỎA MINH DI
Chương 41: Quẻ HỎA TRẠCH KHUÊ
Chia Sẻ Bài Viết