Chương 43: Quẻ LÔI THỦY GIẢI

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ LÔI THỦY GIẢI

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

:|:|:: Lôi Thủy Giải (解 xiè)

Quẻ Lôi Thủy Giải, đồ hình :|:|:: còn gọi là quẻ Giải (解 xie4), là quẻ thứ 40 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm hay Nước (水).

* Ngoại quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn hay Sấm (雷).

Giải nghĩa: Tán dã. Nơi nơi. Làm cho tan đi, như làm tan sự nguy hiểm, giải phóng, giải tán, loan truyền, tuyên truyền, phân phát, lưu thông, ban rải, ân xá. Lôi vũ tác giải chi tượng: tượng sấm động mưa bay.

Không thể bị nạn hoài được, thế nào cũng tới lúc giải nạn, vì vậy sau quẻ Kiển tới quẻ Giải. Giải là cởi, tan.

Thoán từ

解: 利西南, 无所往, 其來復吉. 有攸往, 夙, 吉.

Giải: Lợi Tây nam, vô sở vãng, kì lai phục, cát. Hữu du vãng, túc, cát.

Dịch: tan cởi: đi về Tây nam thì lợi, đừng đa sự, cứ khôi phục lại như cũ thì tốt. Nhưng cũng có điều đáng làm, làm cho chóng thì tốt.

Giảng: Tượng quẻ là âm dương giao hoà với nhau, sấm (Chấn) động và mưa (Khảm) đổ, bao nhiêu khí u uất tan hết, cho nên gọi là Giải. Cũng có thể giảng: Hiểm (Khảm) sinh ra nạn, nhờ động (Chấn) mà thoát nạn nên gọi là Giải.

Khi mọi hoạn nạn đã tan rồi, thì dân chỉ mong an cư lạc nghiệp, người trị dân nên có chính sách khoan đại, giản dị (Tây Nam thuộc Khôn là đường lối khoan đại, bình dị); đừng đa sự, cứ khôi phục trật tự cũ cũng đủ tốt rồi. Tuy nhiên cũng phải trừ những tệ đã gây ra những hoạn nạn trước kia, cũng phải sửa đổi cho sự bình trị được lâu dài, công việc đó nên làm cho mau xong (vẫn là ý đừng đa sự) thì tốt.

Đại tượng truyện khuyên sau khi giải nạn rồi, nên tha tội cho những kẻ lầm lỗi trước, nếu không tha được thì cũng nên giảm án cho nhẹ đi (quân tử dĩ xá quá, hựu tội).

Hào từ

1. 初六: 无咎.

Sơ lục: Vô cữu.

Dịch: Hào 1, âm: không lỗi.

Giảng: Mới bắt đầu vào thời cởi mở, hào này âm nhu, mà có dương cương (hào 4) ở trên ứng, cứ lặng lẽ ở yên không sinh sự thì không có lỗi gì cả.

2. 九二: 田獲三狐, 得黃矢, 貞, 吉.

Cửu nhị: Điền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ, trinh, cát.

Dịch: Hào 2, dương: Đi săn được ba con cáo, được mũi tên màu vàng, giữ đạo chính thì tốt.

Giảng: Không ai biết “ba con cáo” ám chỉ những hào nào, Chu Hi ngỡ là hào âm 1, 3 và trên cùng (trừ hào âm 5). Chỉ có thể đoán ý rằng: hào này dương cương, ứng với hào 5 âm, vị nguyên thủ, cho nên thế khá mạnh, có trách nhiệm với quốc gia trừ bọn tiểu nhân (ba con cáo), mà không mất mũi tên màu vàng (tức đạo trung trực – vàng là màu của trung ương, mũi tên tượng trưng cho việc ngay thẳng: trực). Hào từ khuyên phải giữ vững (trinh) đạo trung đó thì mới tốt.

3. 六三: 負且乘, 致寇至.貞吝.

Lục tam: Phụ thả thừa, trí khấu chí; trinh lận.

Dịch: Hào 3, âm: kẻ mang đội đồ vật mà lại ngồi xe là xui bọn cướp tới, nếu cứ giữ cái thói đó (trinh ở đây nghĩa khác trinh ở hào trên ) thì phải hối hận.

Giảng: Hào này âm nhu, bất chính, bất trung mà ở trên cùng nội quái, tức như kẻ tiểu nhân ở ngôi cao, không khác kẻ vừa mang đội (người nghèo) mà lại ngất ngưởng ngồi xe (như một người sang trọng), chỉ tổ xui cướp tới cướp đồ của mình thôi.

Theo Hệ từ thượng truyện, Chương VIII, Khổng tử bàn rộng ra như sau: ‘người thường mà ngồi xe của người sang là xui kẻ cướp tới cướp đoạt của mình. Người trên khinh nhờn kẻ dưới tàn bạo thì kẻ cướp (giặc) tìm cách đánh đuổi ngay. Giấu cất không kín đáo là dạy cho bọn gian vào lấy của nhà mình; trau giồi nhan sắc là dạy cho bọn gian dâm tới hiếp mình”.

4. 九四: 解而拇, 朋至斯孚.

Cửu tứ: Giải nhi mẫu, bằng chí tư phu.

Dịch: Hào 4, dương: Bỏ ngón chân cái của anh đi (chữ nhi ở đây là đại danh từ) thì bạn (tốt) mới tới và tin cậy anh.

Giảng: Hào này là dương, tuy không chính (vì ở ngôi âm) nhưng ở gần hào 5, vị nguyên thủ, là có địa vị cao. Nó ứng với hào 1 âm, tiểu nhân ở dưới, nên bị nhiều người chê, nếu nó biết tuyệt giao với hào 1 (tượng trưng bằng ngón chân cái, ở chỗ thấp nhất trong cơ thể) thì người tốt mới vui tới mà tin cậy ở nó.

5. 六五: 君子維有解, 吉.有孚于小人.

Lục ngũ: Quân tử duy hữu giải, cát; hữu phu vu tiểu nhân

Dịch: Hào 5, âm: người quân tử phải giải tán bọn tiểu nhân đi thì mới tốt; cứ xem bọn tiểu nhân có lui đi không thì mới biết chắc được mình có quân tử hay không.

Giảng: hào này âm nhu, chưa chắc đã là quân tử, nhưng ở địa vị chí tôn, làm chủ quẻ, cho nên Hào từ khuyên phải tuyệt giao với bọn tiểu nhân (tức ba hào âm kia) thì mới tỏ rằng mình là quân tử được.

6. 上六: 公用射隼于高墉之上.獲之, 无不利.

Thượng lục: Công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng. Hoạch chi, vô bất lợi.

Dịch: Hào trên cùng, âm: Một vị công nhắm bắn con chim chuẩn ở trên bức tường cao. Bắn được, không gì là không lợi.

Giảng: đã tới lúc cuối cùng thời giải, nội loạn đã an rồi, nếu còn kẻ ở ngoài dám gây loạn (tượng trưng là con chim chuẩn ở trên bức tường cao). Thì cứ diệt đi, sẽ thành công. Vị “công” ở đây là hào trên cùng.

Theo Hệ từ hạ truyện, Khổng tử giải thích hào này như sau: “chuẩn là một loài chim, cung tên là đồ dùng, kẻ bắn là người. Người quân tử chứa sẳn đồ dùng (tài, đức) ở trong mình, đợi thời mà hoạt động thì có gì chẳng lợi?

***

Ý nghĩa quẻ này ở trong Thoán từ: dẹp loạn xong thì nên khoan hồng với kẻ lỡ lỗi lầm, đừng đa sự, chỉ cần khôi phục trật tự cũ, và củng cố nó bằng một số công việc, nhưng phải làm cho mau để khỏi phiền nhiễu dân.

Hào 3 cũng có một lời khuyên nên nhớ: giấu cất không kín đáo là dạy cho kẻ trộm vào lấy của nhà mình; trau giồi nhan sắc là dạy cho bọn tà dâm tới hiếp mình. (Mạn tàng hối đạo, dã dung hối dâm).

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

40. 雷 水   LÔI THỦY GIẢI  

Giải Tự Quái解 序 卦
Kiển giả nạn dã.蹇 者 難 也.
Vật bất khả dĩ chung nạn物 不 可 以 終 難
Cố thụ chi dĩ Giải.故 受 之 以 解.
Giải giả hoãn dã.解 者 緩 也.

Giải Tự Quái

Kiển là hoạn nạn, gian lao.

Nhưng mà gian khổ nhẽ nào mãi đâu?

Cho nên Giải tiếp theo sau;

Giải là cởi mở, ngõ hầu chơi ngơi.

Trên đời việc gì cũng có lúc cùng;  kiển nạn mãi, phải có kỳ được giải thoát. Vì thế sau quẻ Kiển là quẻ Giải.

Chữ  Giải  xét về  Từ  nguyên  là  dao, là  dùi bằng sừng trâu dùng để gỡ nút. Cho nên Giải là tháo gỡ, hóa giải tai nạn.

Quẻ  Giải, trên có quẻ Chấn là sấm, là động;  dưới có quẻ Khảm là nguy hiểm. Chấn ở trên  Khảm, tức là gặp nguy mà có đủ sức mạnh hoạt động, nên đã thoát nguy. Vì thế, xét về mặt chữ, xét về ý nghĩa và hình tượng của quẻ Giải, đều gợi ra ý nghĩa Giải nạn, tế nguy, Giải tán hoạn nạn. Mà tiểu nhân là đầu mối sinh ra mọi sự hoạn nạn, bế tắc trong xã hội. Cho nên, sau khi đã giải được nguy cơ cho non sông, đất nước cần phải tiễu trừ tiểu nhân.

Trong suốt quẻ Giải, ta thấy hiện lên ý nghĩa Cần phải diệt trừ tiểu nhân. Nơi quẻ Kiển, là rối ren, nguy hiểm bế tắc, thời dạy cần phải đoàn kết, cần phải tìm ra được nhân tài, được người lãnh đạo, để đối phó với tình hình. Nay tai qua, nạn khỏi, đã đi đến giải nạn rồi, thời lại khuyên nên trừ diệt tiểu nhân. Đường lối thật rõ ràng vậy. 

I. Thoán.

Thoán từ.

解. 利 西 南. 無 所 往. 其 來 復 吉. 有 攸  往. 夙吉.

Giải. Lợi Tây Nam. Vô sở vãng. Kỳ lai phục cát. Hữu du vãng. Túc cát.

Dịch.

Giải là giải nạn, tế nguy,

Khuôn phù đại chúng, vậy thì mới hay.

Xin đừng dở dói, múa may,

Theo nề nếp cũ, dựng gầy cơ ngơi.

Tinh hoa xưa, chẳng bỏ rời,

Ấy là may mắn, ấy thôi tốt lành.

Nếu còn việc phải thi hành,

Thời nên làm gấp, cho nhanh, cho rồi.

Lúc đã hóa giải được cơn nguy biến rồi, cần phải theo con đường khoan hòa, dung dị, phải vỗ an bá tánh. Đó là đường lối của Thành Thang, sau khi đã diệt Kiệt; của Võ Vương, sau khi đã diệt Trụ. Vì thế nói Lợi Tây Nam. Tây Nam là phía quẻ Khôn, mà Khôn là bình dị. Vì thế Trình Tử mới giải nên theo đường lối bình dị, khoan quảng.

Khi đã hóa giải được hiểm nguy rồi, đừng nên nhiều chuyện, làm phiền hà dân chúng, mà phải lo trở về với những lề hay, thói đẹp thuở trước. Như Võ Vương, khi đã diệt Trụ xong, lại trở về với nền hành chánh qui củ, đẹp đẽ của nhà Thương (Vô sở vãng. Kỳ lai phục cát).

  Nhưng nếu còn việc gì cần phải giải quyết, phải giải quyết cho mau, cho lẹ mới tốt (Hữu du vãng. Túc cát).

Thoán Truyện.

彖 曰. 解. 險 以 動. 動 而 免 乎 險. 解. 解 利  西 南. 往 得 眾 也. 其 來 復 吉. 乃 得 中 也. 有 攸 往  .夙 吉. 往 有 功 也.天 地 解. 而 雷 雨 作. 雷 雨 作. 而 百 果 草 木 皆 甲 坼. 解 之 時 大 矣哉.

Thoán viết: 

Giải. Hiểm dĩ động. Động nhi miễn hồ hiểm. Giải. Giải lợi Tây Nam. Vãng đắc chúng dã. Kỳ lai phục cát. Nãi đắc trung dã. Hữu du vãng. Túc cát. Vãng hữu công dã. Thiên địa giải. Nhi lôi vũ tác. Lôi vũ tác. Nhi bách quả thảo mộc giai giáp tích. Giải chi thời đại hỹ tai.

Dịch. Thoán rằng:

Giải là thoát hiểm, thoát nguy,

Trong nguy, động để vượt kỳ nguy nan.

Giải hay về hướng Tây Nam,

Cứu nguy, sẽ được dân gian theo về.

Lối xưa, giữ lấy nếp nề,

Làm hay, làm phải, nên chi tốt lành.

Nếu còn việc phải thi hành,

Thời nên làm gấp, cho nhanh, cho rồi.

Đất trời, uất khí, thông xuôi,

Sấm vang rộn rã, mưa rơi rạt rào.

Cỏ cây đâu đấy đua nhau,

Nảy chồi, đâm mộng, mở mào, nứt nanh.

Thời cơ giải thoát quần sinh,

Cao siêu, mà lại tốt lành biết bao.

Giải là gặp hiểm mà hoạt động. Hoạt động nên thoát hiểm, vì thế nên gọi là Giải.

Thoán Truyện cũng cho rằng: sau khi hóa giải được hoạn nạn, nếu mình dùng đường lối bình dị, khoan quảng, ắt sẽ được lòng dân. (Giải lợi Tây Nam. Vãng đắc chúng dã). Ngoài ra, nếu mà biết trở về với những lề lối tốt đẹp của người xưa, thì như vậy mới là hành xử phải đạo (Kỳ lai phục cát. Nãi đắc trung dã). Tuy nhiên, nếu còn có việc phải làm, thời làm cho ngay, cho gấp, đừng chần chừ, giãi đãi. Như vậy ắt sẽ nên công (Hữu du vãng. Túc cát. Vãng hữu công dã.)

Kiến An Khâu thị bình rằng:  Đại khái, lúc mà tình thế vừa bình trị, con người dễ đâm ra lười, trừ họa mà chưa tuyệt, nó dễ sinh lại. Khi họa hoạn vừa chấm dứt, Thánh nhân không muốn con người, có nhiều chuyện làm mệt cho mình, nhưng cũng không muốn con người ngồi yên biếng nhác. Thoán Truyện luận tiếp: khi mà trời đất muốn làm thông sự bế tắc, uất kết của bầu trời thì sấm động, mưa rơi. Khi mà khí trời, khí đất đã thông sướng rồi, ta sẽ thấy cây cỏ đâm chồi, nẩy mậm. Cho nên thời Giải là thời quan hệ lớn lao vậy (Thiên địa giải. Nhi lôi vũ tác. Lôi vũ tác nhi. Bách quả thảo mộc giai giáp tích. Giải chi thời đại hỹ tai).

Đối với đời sống xã hội, thời Giải là một thời rất quan trọng. Thật vậy, khi mà binh lửa đa đoan, nguy hiểm chập chùng, thì mọi người đâm ngao ngán, chẳng còn muốn tính toán, làm lụng gì cho lắm nữa. Tầm hoạt động con người bị thu nhỏ lại, và những mưu đồ làm ăn, phát triển cũng bị dẹp bớt đi. Khi mà bình yên trở lại, mọi người như cây cối gặp trời mưa, sẽ đua nhau hoạt động trở lại, và đất nước sẽ có cơ hưng phấn.

Ở bên Âu Châu  trước năm 1000,  ai  cũng nghĩ  sắp tận thế, nên không còn muốn làm ăn gì nữa. Sau năm 1000 biết chắc không tận thế, dân chúng mới sống động lại, và bắt đầu xây dựng vô số nhà thờ. Những nhà thờ lớn ở Âu Châu hiện nay, được bắt đầu xây cất từ thời đó.

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰. 雷 雨 作. 解. 君 子 以 赦 過 宥 罪.

Tượng viết: 

Lôi vũ tác. Giải. Quân tử dĩ xá quá hựu tội.

Dịch. Tượng rằng:

Giải là sấm động, mưa rơi,

Hiền nhân chẳng chấp tội người mới hay.

Lỗi lầm khoan xá, tha ngay,

Tội tình cũng cố liệu bài giảm khinh.

Sấm động, mưa rơi làm cho không khí hết oi ả. Quân tử cũng tha lỗi, xá tội, làm cho tình thế bớt căng thẳng. Tượng viết: Lôi vũ tác. Giải. Quân tử dĩ xá quá hựu tội. Chữ ở đây là tha hẳn. Chữ hựu có nghĩa là giảm. Lỗi lầm thì tha hẳn, trọng tội thì giảm khinh, như vậy mới là hợp lý. 

III. Hào từ & Tiểu Tượng Truyện

Sáu Hào đại khái chỉ nói lên mấy ý sau đây:

-Chớ nên nhiễu sự, làm khổ dân khi không cần.(Hào Sơ)

– Phải diệt tiểu nhân (Hào nhị)

– Không được cho tiểu nhân tham chính.(Hào 3)

– Phải xa lánh tiểu nhân. (Hào 4,5)  –

– Muốn trừ tiểu nhân, nhiều khi phải tốn công phu, phải chuẩn bị, bố trí, có phương lược. (Hào 6) 

1. Hào Sơ Lục.

初 六.      無 咎。

象 曰:    剛 柔 之 際,義 無 咎 也。

Sơ lục. Vô cữu.

Tượng viết:

Cương nhu chi tế. Nghĩa vô cữu dã.

Dịch.

Hào Sơ khoan quảng lỗi chi?

Tượng rằng:

Có cương vả lại có nhu,

Khởi cư hợp lý, khỏi lo lỗi lầm. 

Hào Sơ Lục chỉ vẻn vẹn có hai chữ vô cữu, mà đã nói lên được đường lối phải theo khi mới bắt đầu thời kỳ Giải. Khi đại nạn vừa qua khỏi, dân chúng còn đang hoang mang, chớ nên nhiễu sự, như vậy mới được lòng dân. Thế tức là dung hoà cương nhu. Tượng viết: Cương nhu chi tế. Nghĩa vô cữu dã.

Bái công vào Quang Trung, sau khi đã cho Tam Thế là vua Tần hàng đầu, liền lập ra ba chương ước pháp hết sức giản dị, để trị dân. Không tơ hào của dân, không vi phạm cung thất nhà Tần, khiến dân thảy đều cảm phục.

Ngược lại, khi Hạng Võ  vào đến Quang Trung đã:

– Giết 20 vạn quân Tần, mặc dầu họ đã hàng đầu.

– Giết dân chúng Hàm Dương vì họ đã thần phục Bái công.

– Giết Tam Thế.

– Quật lăng Tần Thủy Hoàng.

– Đốt cung A Phòng. v.v…

Thế là một đàng biết cư xử đúng luật Dịch, một đàng hành động quàng xiên, và như vậy hai đàng cát hung phân biệt rõ ràng.

2. Hào Cửu nhị.

九 二.      田 獲 三 狐. 得 黃 矢. 貞 吉.

象 曰.      九 二 貞 吉. 得 中 道 也. 

Cửu nhị.

Điền hoạch tam hồ. Đắc hoàng thỉ. Trinh cát.

Tượng viết: 

Cửu nhị trinh cát. Đắc trung đạo dã.

Dịch.

Đi săn bắt được ba chồn,

Rồi ra được thưởng tên vàng, may thay.

Một lòng chính trực mới hay

Tượng rằng: Chín hai chính trực, mới hay.

Thế là xử sự thẳng ngay, đàng hoàng.

Hào Cửu nhị:  Lúc này thế nước đã vững vàng hơn; cho nên lúc này phải lo trừ khử kẻ tiểu nhân, và phải kén chọn người anh tài. Thế nào là kẻ tiểu nhân, về phương diện hành chánh, chính trị?  Đó là những  kẻ chỉ lo thủ lợi riêng, giỏi hãm hại người hiền, mà không biết gì về công chuyện tế thế, kinh bang, phò nguy, cứu khốn cho giang sơn, bờ cõi. Họ là những người gian manh, siểm nịnh, quỉ quyệt như những con hồ ly, cần phải tiễu trừ cho tận tuyệt. Vì thế Hào Cửu nhị mới  nói: Điền  hoạch  tam  hồ. (Đi săn bắt được ba con cáo). Trừ tiểu nhân cũng chưa đủ, còn phải tuyển lựa những người trung trực ra giúp nước nữa. Hoàng là màu của trung; Thỉ là tên, tượng trưng cho sự ngay thẳng. Đắc hoàng thỉ chính là được những người trung trực. Làm được hai chuyện đó là theo đuợc chính đạo, và như vậy mới tốt. (Trinh cát). Vì thế Tiểu Tượng mới nói Cửu nhị trinh cát. Đắc trung đạo dã.

3. Hào Lục tam.

六 三.      負 且 乘. 致 寇 至. 貞 吝.

象 曰.      負 且 乘. 亦 可 丑 也. 自 我 致 戎. 又 誰 咎 也.

Lục tam.  

Phụ thả thừa. Trí khấu chí. Trinh lận.

Tượng viết: 

Phụ thả thừa. Diệc khả xú dã. Tự ngã trí nhung. Hựu thùy cữu dã.

Dịch.

Lục tam, đầu đội, vai mang,

Mà còn xe cộ nghênh ngang, phỡn phè. 

Thế là gọi giặc cướp về,

Cứ như vậy, sẽ ê chề ăn năn.

Tượng rằng: Đầu đội, vai mang,

Nghênh ngang xe cộ, bẽ bàng ê hê!

Tự mình gọi giặc cướp về

Còn chê ai nữa, hãy chê chính mình.

Hào Lục tam:  Ở xã hội, có người sang, người hèn; người hèn làm những việc như khuân vác. Người sang lo việc kinh quốc, an dân và đi ngựa, đi xe. Nay dùng những kẻ hèn, kẻ tiểu nhân mà đặt vào những chức vụ lãnh đạo, thì có khác gì một người đầu đội, vai mang, mà chễm chệ ngồi trên xe đâu. Vì thế Lục tam nói Phụ thả thừa. Những kẻ tiểu nhân một khi đã có quyền trong tay, sẽ luồn cúi, nịnh bợ người trên, hãm hại người ngay, tàn ác với lê thứ, cho nên sẽ gây ra nhiều chuyện bất bình, gieo mầm bất mãn, loạn lạc khắp nơi. Vì thế Dich nói: Kỳ phụ thả thừa. Trí khấu chí. Trinh lận. Tại sao lại Trinh lận? Trinh đây phải hiểu là cứ theo con đường ấy; lận là sẽ chuốc ô nhục vào người.

Dùng kẻ tiểu nhân, kẻ khuân vác, mà cho ngồi xe, thì thực đáng hổ thẹn, đó là mình tự chiêu giặc cướp vào mình, rồi còn oán trách ai được. Tiểu Tượng Truyện viết: Phụ thả thừa. Diệc khả xú dã. Tự ngã trí nhung. Hựu thùy cữu dã.

Vua Chánh Đức nhà Minh, dùng nội thị Lưu Cẩn chỉ có tài bày ra những cuộc chơi bời, luyện trâu, luyện chó, luyện  ngựa,  luyện chim,  rồi phong cho Lưu Cẩn làm chức Thần cơ, cai quản ngự lâm quân, lại cho dự vào việc cơ phòng, xem xét, phê phán các sớ sách thay vua, nên sau mới sinh ra chuyện công thần bị hãm hại, binh cách can qua một thời gian.

Vua Huy Tôn nhà Tống, vì dùng Cao Cầu, một người chỉ có tài nghề đá cầu, cho làm đến chức thái úy, nên đã xô đẩy biết bao anh tài lên Lương Sơn Bạc. Thế mới hay, dùng kẻ tiểu nhân là chiêu giặc cướp đến vậy! (xem thêm Hệ Từ thượng, chươngVIII).

4. Hào Cửu tứ.

九 四.      解 而 拇. 朋 至 斯 孚.

象 曰.      解 而 拇. 未 當 位 也.

Cửu tứ.

Giải nhi mẫu. Bằng chí tư phu.

Tượng viết:

Giải nhi mẫu. Vị đáng vị dã.

Dịch.

Hi sinh cắt ngón cái đi,

Bạn bè tin cẩn sẽ về với ta.

Tượng rằng: Ngón cái cắt đi,

Vì mình chưa ở đúng kỳ vị ngôi.

Hào Cửu tứ:  Làm người trên cần phải biết xua đuổi những chân tay gian nịnh, hại dân, hại nước. Có làm được như vậy, nhân tài trong nước mới tin, mới về cộng tác với mình (Giải nhi mẫu. Bằng chí tư phu). Giải là cắt bỏ, Mẫu là ngón chân cái, nhi là của mình. Ý nói phải giải trừ những kẻ tiểu nhân đang bám, đang dựa vào mình. Còn phải làm những chuyện như vậy, tức cũng chưa phải là người hoàn toàn. Vì vậy Tiểu Tượng bình thêm Giải nhi mẫu. Vị đáng vị dã.

5. Hào Lục ngũ.

六 五.       君 子 維 有 解. 吉. 有 孚 于 小 人.

象 曰.       君 子 有 解. 小 人 退 也.

Lục ngũ.

Quân tử duy hữu giải. Cát. Hữu phu vu tiểu nhân.

Tượng viết:

Quân tử hữu giải. Tiểu nhân thoái dã.

Dịch.

Giải trừ được bọn gian manh,

Thời người quân tử an lành biết bao.

Tiểu nhân rũ sạch, mới hào.

Ấy là bằng chứng đã vào đường ngay.

Tượng rằng: Quân tử mà rũ tiểu nhân,

Tiểu nhân bán xới, dám gần nữa đâu.

Hào Lục ngũ:  Các quan chức ở dưới còn không nên thân cận với tiểu nhân, huống chi là các bậc vua chúa.

Cho nên đã là minh quân, là phải trừ khử tiểu nhân   (Quân tử duy hữu giải. Cát. Hữu phu vu tiểu nhân).  Lấy gì chứng nghiệm được rằng mình đã giải trừ được tiểu nhân?  Cứ xem quanh mình, nếu tiểu nhân không còn dám bén mảng tới, mới thực là mình đã xua đuổi được hết phường du nịnh. Thời Đại Võ, có người tên Nghi Địch, cất được một thứ rượu rất thơm ngon, dâng lên Đại Võ. Vua nếm thử quả thấy ngon, liền đầy Nghi Địch đi, không bao giờ cho tới triều ca nữa. Nếu vua thực tình dùng người hay, bỏ kẻ dở, thì tiểu nhân sẽ rút lui  hết. Tượng viết:  Quân tử hữu giải. Tiểu nhân thoái dã.

6. Hào Thượng Lục.

上 六.       公 用 射 隼. 于 高 墉 之 上. 獲 之. 無 不 利.

象 曰.       公 用 射 隼. 以 解 悖 也.

Thượng Lục.

Công dụng xạ chuẩn. Vu cao dung chi thượng. Hoạch chi vô bất lợi.

Tượng viết: 

Công dụng xạ chuẩn. Dĩ giải bội dã.

Dịch.

Vương công bắn cắt tường cao,

Bắn trừ con cắt, lợi nào lợi hơn.

Tượng rằng:

 Vương công bắn cắt tường cao,

Trừ mầm phản loạn, hại trào, hại dân.

Hào Thượng Lục: Tuy nhiên muốn trừ khử tiểu nhân không phải là chuyện dễ. Vì họ có thể là những quan lớn trong triều, có uy thế, có vây cánh lớn mạnh. Họ như những con chim chuẩn, chim cắt dữ tợn đậu trên bức tường cao. Muốn trừ diệt họ, mình phải có những phương kế, phải chuẩn bị cho hẳn hoi, phải đợi thời cơ thuận tiện mới ra tay, như vậy khi ra tay mới mong thắng lợi. (Công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng. Hoạch chi vô bất lợi.)

Bắn được chim cắt đây, chính là tiễu trừ những kẻ bội loạn. Tượng viết: Công dụng xạ chuẩn. Dĩ giải bội dã. Đọc bài này ta liên tưởng đến chuyện vua Càn Long trừ Thiên Địa Hội.

ÁP DỤNG QUẺ GIẢI VÀO THỜI ĐẠI

Bàn về quẻ Giải, tôi nghĩ ngay tới thời kỳ 1975, khi còn bị kẹt ở Saigon (Việt Nam). Quẻ Giải khuyên nên làm 2 vấn đề chính:

1)- Khi dẹp đại loạn xong, không nên làm khó dân.

2)- Không cho tiểu nhân tham dự chính quyền.

Ta hãy nhìn dân tình Việt Nam, khi Cộng Sản vào SAIGON. Điều ta phải nhận định là quân đội Cộng Sản thật là có kỷ luật: không hề tơ hào, không hề sách nhiễu dân điều gì.

Nhưng đến khi trị dân, ta thấy Cộng Sản đã có nhiều khiếm khuyết. Tuy mới đầu họ tuyên bố: không ai thắng, không ai bại, và người trong một nước phải bao bọc lẫn nhau, nhưng chỉ ít ngày sau là kêu gọi quân đội, dân sự phải đi trình diện học tập. Mới đầu úp úp, mở mở là học tập trong một tuần, rồi sau đó mới vỡ lẽ ra rằng Cộng Sản bắt đi học tập có khi trên 10 năm. Điều này đã gây xáo trộn và chia rẽ lớn trong nước.

Sau đó là vụ đánh Tư sản thương nghiệp. Đó là những lỗi lầm mà Chính quyền lúc đó đã phạm phải.

Còn về chuyện dùng người, thì phải công nhận lúc đầu không có đủ nhân viên, nên đã dùng bừa phứa, nên có những tiểu nhân len lỏi vào chính quyền cấp dưới như nơi Phường, Khóm, Quận. Những kẻ tiểu nhân này đã dùng quyền uy của họ để xách nhiễu dân, tham ô đủ thứ. Tuy nhiên sau đó, chính quyền cũng đã tìm đủ mọi cách trừ khử bọn tiểu nhân này.

Nhưng để bù lại, thì chính quyền Cộng Sản đã cho di tản chính thức những gia đình mà có thân nhân bị đi cải tạo một cách rộng rãi, do đó nhiều gia đình nay đã rất khá giả, con cái đã thành đạt. Họ đã thực hiện được những ước mơ là sao cho con cái họ được đi du học nước ngoài, mà trong suốt cuộc đời của nhiều người khó mà thực hiện nổi. Đó cũng là điểm đáng khen.

Nói cho công bằng, là khi thay đổi một chế độ, một triều đại, làm sao mà tránh được những sự bắt bớ, giam cầm, hay thủ tiêu những thành phần đối lập, và như vậy làm sao tránh khỏi được bao người bị hàm oan. Hơn nữa, như Dịch nói:  Làm sai, biết sửa, không có lỗi (Vô cữu).

Tôi nói các vấn đề trên một cách trung thực, không phải để chỉ trích hay phê bình, mà cũng là thấy sao nói vậy, hay khen, hèn chê mà thôi, mong sao các Chính phủ sau, trước khi soạn thảo, ban bố, hoặc thi hành một đạo luật gì, thì phải nghĩ đến sự lợi ích cho dân, và bảo vệ dân trước đã.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

40.Lôi thủy giải

Ðại cương:

Tên quẻ: Giải là (Tán) “Tan biến cởi mở hoạn nạn, uất ức…”

Thuộc tháng 12

Lời tượng

Lôi vũ tác: Giải. Quân tử dĩ xá quá hựu tội.

Lược nghĩa

Sấm mưa tác động là quẻ Giải (cởi mở). Người quân tử lấy đấy mà bỏ lỗi thứ tội (cho kẻ khác).

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp Giáp

Mậu: Dần, Thìn, Ngọ

Canh: Ngọ, Thân, Tuất

Lại sanh tháng 12 là cách công danh phú quý. Tháng 2 tháng 8 sấm mưa đúng mùa thì phúc cũng dày. Từ tháng 9 đến tháng 1 (trừ tháng 12) thì phúc mỏng.

THƠ RẰNG:

Cửa rồng vốn là khách,

Sang năm cưỡi cá kình.

Doanh châu không chịu ở

Đài điện rắp công khanh

Hào 1:

Vô cữu. Ý HÀO: Có đức, giúp nhau để không mắc lỗi.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Cương nhu giúp nhau, mạnh khoan vừa đúng, vừa hồn nhiên, không đa sự nhiễu dân, tai nạn khỏi, phúc trạch dầy.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng bình dị, cử chỉ đúng mức, được tri kỷ giúp đỡ, không cùng quẫn.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Xứng đáng, có dịp được thăng chuyển. _Giới sĩ: Ðỗ đạt, thành danh. _Người thường: Hôn nhân thành, kinh doanh được.

Hào 2:

Ðiền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ, trinh cát. Ý HÀO: Trừ khử gian tà.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Ðức cao vọng trọng, trừ tà giúp thiện, trên vun đức trị, dưới sửa tục dân, thành một BẬC – NGUYÊN – LÃO của thời đại.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng thân người hiền xa kẻ gian, điền sản, phong du, hôn nhân hai lần, hoặc làm phu tráng cũng đủ ăn đủ mặc.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Làm lớn lắm (ngày xưa chức Tam cô, Tam công, Hoàng môn, Hoàng đường.) _Giới sĩ: Ðỗ to (ngày xưa là bảng vàng, và được tiến cử: nhị giáp, Tam giáp, Tiến sĩ) _Người thường: Ðiền sản gia tăng, hoặc là vũ tướng thì đi trinh phạt, săn bắn, hoặc có việc cải cách 3 lần, tốt lành.

Hào 3:

Phu thả thừa, trí khấu chí, trinh lận. Ý HÀO: Vô đức mà ngồi địa vị, tai hoạ khó tránh.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Hàn vi mà trở nên phú quí, phải cẩn mật, kẻo giặc cướp đến.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Hiểm trá, tham ô, điếm nhục, chỉ thêm gây hấn. Ðàn bà như thế lại càng khó nên.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Phòng ruồng đuổi, hạch xách. _Giới sĩ: Phòng trích giáng nhục nhã, dù đã đỗ đạt. _Người thường: Phòng trộm cướp, kiện tụng, thị phi.

Hào 4:

Giải nhi mẫu, bằng chí tư phu. Ý HÀO: Phải nghiêm chỉnh mà tuyệt giao thì mới đúng đạo và hợp chí.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Xa kẻ gian, hợp sức với người hiền thì làm việc lớn, cái gì mà không thành?

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Không lánh ác, gần thiện, nên công nghiệp hẹp hòi.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Phòng bạn đảng tập họp đú đởn có hại. _Giới sĩ: Phòng bạn bè hoang đãng dâm dục. _Người thường: Phòng bè gian oán hờn.

Hào 5:

Quán tử duy hữu giải, cát; hữu phu vu tiểu nhân. Ý HÀO: Người quân tử bỏ bọn ác đi thì có lợi.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Nắm quyền công lý, tiến hiền trừ gian thì quốc gia được an ninh, dân sinh được thoải mái, công nghiệp ấy to, mấy người sánh kịp.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng là người thành tín, từ huệ, đức nghiệp lớn, phúc trạch nhiều.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Giữ chức việc quan trọng trừ gian hoặc cầm quyền chinh phạt. _Giới sĩ: Thành danh. _Người thường: Thâu lợi, tụng giải, bệnh khỏi.

Hào 6:

Công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng, hoạch chí vô bất lợi. Ý HÀO: Giải tán được giặc bên ngoài.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Văn trị được thời bình, võ dẹp được thời loạn, công huân rất lớn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng là đường cao nhà lớn, phúc lộc vẹn toàn, quân tử đến gần, tiểu nhân sợ sệt.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ðược thăng quyền, binh suý lập công. _Giới sĩ: Ðỗ đạt. _Người thường: Thâu lợi.

Chương 42: Quẻ THỦY SƠN KIỂN
Chương 44: Quẻ SƠN TRẠCH TỔN
Chia Sẻ Bài Viết