Chương 45: Quẻ PHONG LÔI ÍCH

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ PHONG LÔI ÍCH

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

|:::|| Phong Lôi Ích (益 yì)

Quẻ Phong Lôi Ích, đồ hình |:::|| còn gọi là quẻ Ích (益 yi4), là quẻ thứ 42 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn hay Sấm (雷).

* Ngoại quái là ☴ (:|| 巽 xun4) Tốn hay Gió (風).

Giải nghĩa: Ích dã. Tiến ích. Thêm được lợi, giúp dùm, tiếng dội xa, vượt lên, phóng mình tới. Hồng hộc xung tiêu chi tượng: chim hồng, chim hộc bay qua mây mù.

Tổn đến cùng rồi thì phải tăng lên, cho nên sau quẻ Tổn đến quẻ Ích. Ích là tăng lên, làm ích cho nhau.

Thoán từ

益: 利有攸往, 利涉大川.

Ích: lợi hữu du vãng, lợi thiệp đại xuyên.

Dịch: Tăng lên: tiến lên thì lợi làm (làm việc ích) thì lợi, qua sông lớn thì lợi (có gian nan nguy hiểm gì cũng vượt được).

Giảng: Quẻ này trái với quẻ Tổn. Ngoại quái vốn là Càn, bớt một hào dương, thành quẻ Tốn; nội quái vốn là quẻ Khôn, được một hào dương quẻ Càn thêm vào, thành quẻ Chấn. Vậy là bớt ở trên thêm (ích) cho dưới; còn quẻ Tốn là bớt ở dưới thêm cho trên.

Xét về tượng quẻ thì sấm (Chấn) với gió (Tốn) giúp ích cho nhau vì gió mạnh thì tiếng sấm đi xa, mà sấm lớn thì gió mới dữ. Vì vậy gọi là quẻ Ích.

Mình ở địa vị cao mà giúp cho người ở thấp, càng làm càng có lợi, khó khăn gì rồi kết quả cũng tốt.

Thoán truyện giải thích thêm: Xét hào 2 và hào 5, đều đắc trung đắc chính cả; lấy đạo trung chính mà giúp ích cho dân, dân sẽ vui vẻ vô cùng mà đạo càng sáng sủa.

Nhưng quẻ này cũng như quẻ Tổn, tốt hay xấu còn tùy cách thức làm và tùy thời nữa (ích chi đạo, dữ thời gia hành): dân đói không có gạo ăn mà cưỡng bách giáo dục; dân rét không có áo bận mà cấp cho xà bông thì việc giúp ích đó chỉ có hại.

Đại tượng truyện đứng về phương diện tu thân, khuyên: Thấy điều thiện thì tập làm điều thiện.

Thấy mình có lỗi thì sửa lỗi (kiến thiện tác thiện, hữu quá tắc cải).

Hào từ

1. 初九: 利用為大作, 元吉, 无咎.

Sơ cửu: Lợi dụng vi đại tác, nguyên cát, vô cữu.

Dịch: Hào 1, dương: Lợi dụng (sự giúp đỡ của người) mà làm việc lớn; nhưng phải khéo tính toán, hành động cho đúng, hoàn thiện (nguyên cát) thì mới không có lỗi. Sở dĩ khuyên như vậy vì hào này ở địa vị thấp, không nên lãnh việc nặng nề quá (hạ bất hậu sự dã, lời Tiểu Tượng truyện).

2. 六二: 或益之十朋之龜 弗克違, 永貞吉.王用享于帝, 吉.

Lục nhị: Hoặc ích chi thập bằng chi qui, phất khắc vi, vĩnh trinh cát. Vương dụng hưởng vu đế, cát.

Dịch: Hào 2, âm: Thình lình có người giúp cho mình một con rùa lớn đáng giá mười “bằng”, không từ chối được, rất tốt. Nếu là vua dùng đức để tế Thượng Ðế, Thượng Đế cũng hưởng, mà được phúc, tốt.

Giảng: Hào này âm, nhu thuận, trung chính, nên được người trên giúp ích cho nhiều (như cho mình một con rùa quí – coi hào 5 quẻ Tổn ở trên), không từ chối được, cứ giữ vững đức trung chính thì tốt. Ví dụ: là nhà vua mà có được đức trung chính để cầu Trời, thì Trời cũng giúp cho.

3. 六三: 益之用凶事, 无咎.有孚中行, 告公用圭.

Lục tam: Ích chi dụng hung sự, vô cữu.

Hữu phu trung hành, cáo công dụng khuê.

Dịch: Hào 3, âm: giúp ích cho bằng cách bắt chịu hoạn nạn (hay trừng phạt) thì không có lỗi. Nếu chân thành sửa lỗi, giữ đạo trung (ví với ngọc khuê) thì được người trên (ví với vị công) chấp nhận.

Giảng: Hào này âm nhu, bất trung, bất chính, đáng lẽ không được giúp ích, nhưng ở vào thời ích thì cũng được giúp; có điều là giúp cho bằng cách bắt chịu hoạn nạn (dụng hung sự) để mà mở mắt ra thành người tốt; cũng như trừng trị để sửa lỗi cho vậy.

Nhưng 3 phải thật chân thành sửa mình theo đúng đạo trung thì rồi sự cải quá của nó sẽ được bề trên biết, sự chân thành quá ấy như chiếc ngọc khuê (ngọc trắng mà trong) nó dâng lên bậc “công” (vương công) sẽ được nhận.

4. 六四: 中行, 告公從.利用為依遷國.

Lục tứ: Trung hành, cáo công tòng; lợi dụng vi y thiên quốc.

Dịch: Hào 4, âm: Rán theo đạo trung mà thưa với bậc “công” thì bậc “công” sẽ theo; lợi dụng đạo trung đó làm chỗ tựa thì dù việc lớn như dời đô cũng làm nỗi.

Giảng: Hào này lên tới ngoại quái rồi, có địa vị cao, trách nhiệm quan trọng, thân cận với vua, nhưng kém đức trung nên Hào từ khuyên rán theo đạo trung mà cáo với bề trên (bậc vương công) thì bề trên sẽ nghe mà có thể làm được việc như dời quốc đo.

5. 九五: 有孚, 惠心, 勿周, 元吉.有孚, 惠我德.

Cửu ngũ: Hữu phu, huê tâm, vật vấn, nguyên cát.

Hữu phu, huệ ngã đức.

Dịch: Hào 5, dương: có lòng chí thành làm ân đức, thì chẳng cần hỏi, cũng biết là rất tốt rồi. Thiên hạ ai cũng tin vào đức ban ân huệ của 5.

Giảng: Hào này là ông vua có tài đức, vừa trung vừa chính, có lòng chí thành ban ơn đức cho dân, cho nên rất tốt. Dân do đó rất tin vào đức của vua (chữ ngã ở đây trỏ hào 5).

6. 上九: 莫益之或擊之.立心勿恆, 凶.

Thượng cửu: Mạc ích chi hoặc kích chi. Lập tâm vật hằng, hung.

Dịch: Hào trên cùng, dương: Không ai làm ích cho mình mà có kẻ đả kích mình nữa, là vì không giữ được hằng tâm (lòng luôn luôn tốt), xấu.

Giảng: Hào này dương cương, ở cuối quẻ ích, là có lòng cầu ích đến cùng cực, tất bị nhiều người oán; như vậy chỉ vì không giữ được hằng tâm.

Theo Hệ từ hạ truyện, Chương V, Khổng tử áp dụng hào này vào phép xử thế, khuyên người quân tử làm cho thân mình được yên ổn rồi sau mới hành động; lòng mình được bình dị rồi sau mới thuyết phục người khác; làm cho giao tình được bền rồi sau mới yêu cầu mà khỏi bị dân từ chối.

Khổng tử hiểu “hằng tâm” là như vậy chăng?

***

Quẻ Tốn vốn xấu mà hào cuối lại tốt, được chữ “cát, lợi hữu du vãng” quẻ Ích này vốn tốt mà hào cuối lại rất xấu, bị chê là “hung”.

Cũng chỉ là luật “mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích”, tràn thì cuối cùng sẽ đổ (cuối quẻ Ích), vơi thì cuối cùng được thêm vào (cuối quẻ Tổn). Ðó là luật thiên nhiên mà Nho, Lão, Dịch học phái đều coi là qui tắc xử thế.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

42.     風 雷     Phong Lôi Ích      

Ích Tự Quái益 序 卦
Tổn nhi bất dĩ tất ích.損 而不 已 必 益
Cố thụ chi dĩ Ich.故 受 之 已 益

Ích Tự Quái

Tổn mà tổn mãi, tổn lâu;

Rồi ra cũng lúc tới cầu gia tăng.

Cho nên Ích mới theo chân.

Quẻ Ích đưa ra một nguyên tắc hành chánh, chánh trị hết  sức là quan trọng. Cai trị là làm ơn, làm  ích cho dân Quẻ Ích trên có chữ Thủy là nước, dưới có chữ Mãnh là bát.  Như vậy Ích chẳng khác nào bát nước đầy. 

I.  Thoán. 

Thoán từ.

益 .  利 有 攸 往 . 利 涉 大 川 .

Ích. Lợi hữu du vãng.  Lợi thiệp đại xuyên.

Dịch.  

Ích là làm ích cho đời,

Việc gì âu cũng êm xuôi, chu toàn. 

Dẫu rằng nguy hiểm, gian nan,

Sông sâu, nước cả, vượt sang khó gì.

Đối với dân  như  bát nước đầy, trị dân mà biết  hy sinh  để làm lợi  cho dân, thì  ích  lợi  biết  bao.  Còn có việc gì mà không thực hiện được (Lợi hữu du vãng).  Còn có khó khăn gì mà chẳng giải quyết xong.

Thoán Truyện. 

彖 曰 .      益 .損 上 益 下 . 民 說 無 疆 . 自 上 下 下 .其 道 大 光 .

               利 有 攸 往 . 中 正 有 慶 .利 涉 大 川 . 木 道 乃 行 . 益

               動 而 巽 .日 進 無 疆 . 天 施 地 生 .其 益 無 方 . 凡 益

              之 道 . 與 時 偕 行 .

Thoán viết:  

Ích.  Tổn thượng ích hạ. Dân duyệt vô cương.  Tự thượng há hạ.

Kỳ đạo đại quang. Lợi hữu du vãng.  Trung chính hữu khánh. 

Lợi thiệp đại xuyên. Mộc đạo nãi hành.  Ích động nhi tốn. 

Nhật tiến vô cương.  Thiên thi địa sinh.  Kỳ ích vô phương.

 Phàm ích chi đạo.  Dữ thời giai hành.

Dịch.  Thoán rằng:

Ích là thêm dưới, bớt trên,

Nhân dân vui vẻ, phỉ nguyền đòi nơi.

Hạ mình, để phục vụ người.

Lối đường thế ấy, rạng ngời quang minh.

Rồi ra muôn sự tốt lành,

Chính trung, nên khiến dân tình an vui.

Sông sâu vẫn vượt như chơi,

Thuyền dân, gỗ nước, thảnh thơi lái lèo.

Ích là hoạt động thuận chiều,

Mỗi ngày, mỗi tiến, khinh phiêu vô cùng.

Đất trời nối kết giải đồng,

Trời sinh, đất dưỡng, ích không bến bờ.

Tùy thời, rồi lại tùy cơ,

Làm ơn, làm ích khắp cho muôn loài.

Trước tiên, Thoán định nghĩa Ích là tổn thượng, ích hạ.Như   vậy  tức   là  muốn   nói  lên  rằng:  Người  trên phải hy sinh cho kẻ dưới.

Trị dân là lo làm ích cho dân:

– Lo cho dân đông,

– Lo cho dân giầu,

Lo cho dân ấm no.

                   (Luận Ngữ, Tử Lộ, XIII)

Thánh hiền xưa, những lo cho dân được giầu có, vuông tròn, đầy đặn, còn mình thì nhiều no, ít đủ, đạm bạc thế nào cũng xong.  Đường Huyền Tông nói: Ta gầy, nhưng thiên hạ mập, là cũng nương theo ý đó.

Nhiễm Hữu nói với Lỗ Ai Công: Nếu dân no đủ, thì vị quốc quân sao thiếu thốn được; nếu dân không no đủ, thì vị quốc quân giàu có với ai.

Nền chính trị của Nho Giáo luôn  luôn đề cao những công cuộc ích quốc, lợi dân.  Trị dân là lo cho dân có ăn, có mặc, tư cấp ruộng đất cho dân, dạy dân khai thác các tài nguyên của đất nước, khuyến khích bá công, để cho thương mại và công nghệ được phồn thịnh; lo cho dân có một hệ thống kiều lộ được hoàn bị; lo cho dân được an cư, lạc nghiệp, lo giáo hoá dân cho họ ngày một trở nên hoàn thiện.

Ngụy Hổ Thần đến Kiển Dương Trấn thay Vân Thiên Bưu.  Vân Thiên Bưu giao hết binh phù, tướng ấn xong rồi, Ngụy Hổ Thần hỏi hết tình trong xứ, thì Vân Thiên Bưu tỏ bầy phong tục, cùng là phương lược của quân sĩ và bá tánh cho Ngụy Hổ Thần nghe. Ngụy hổ Thần lại hỏi nữa rằng: Ngài trấn chỗ này, mỗi năm thâu lợi bao nhiêu?  Vân Thiên Bưu nghe hỏi, biến sắc đáp: Ngài hỏi như vậy, chẳng là quấy lắm.  Vả tôi làm đại tướng, trấn giữ bờ cõi cho triều đình; lúc nào có giặc, tôi phải lo dẹp; lúc nào không có giặc, thì phải chăn dân; thủa nay không biết thâu lợi là gì.  Nếu ngài muốn có lợi, sao không làm nghề thương mại, lại xuất sĩ làm gì? (Thủy Hử, 1053).Thật là một câu trả lời đích đáng.  Trị dân mà biết hy sinh cho dân, thời dân sẽ vui thỏa vô cùng (Dân duyệt vô cương).  

Người trên mà biết địa vị mình, hạ mình để phục vụ dân, hành xử như vậy thật là quang minh chính đại (Tự thượng há hạ.  Kỳ đạo đại quang).  Trong một nước, mà vua thời minh (Cửu ngũ), tôi thời hiền (Lục nhị), thảy đều theo đường trung chính mà trị dân, thì hạnh phúc cho dân biết bao nhiêu! Còn có việc gì mà chẳng làm được (Lợi hữu du vãng.  trung chính hữu khánh).

Lịch sử đã cho ta thấy Minh Trị Thiên Hoàng và quần thần của ngài đã  canh tân được  nước Nhật, và đã nâng được nước Nhật lên hàng cường quốc thế giới.  Như vậy dẫu có gian nan nguy hiểm mấy cũng lướt thắng được (Lợi thiệp đại xuyên.  mộc đạo nãi hành).  Vua quan mà làm lợi cho dân, thời khi gặp hoạn nạn ví như đi qua sông lớn, sẽ có dân làm gỗ, làm thuyền mà chở cho qua (Mộc đạo nãi hành).

Trình tử nói: đáng lý phải viết là: Ích đạo nãi hành, Trị dân, hành xử, hoạt động luôn luôn hợp với những định tắc của trời, đất, người (Ích.  Động dĩ tốn), thì sẽ tiến mãi không có giới hạn nào cả (Nhật tiến vô cương).

Mình làm ơn, làm ích cho dân, cho đời, thì cũng theo đúng được đường lối của trời đất; vì trời đất cũng luôn luôn hoà hài, cộng tác với nhau để thi ân, bá đức, để sinh dưỡng muôn loài (Thiên thi địa sinh), chẳng kể biên cương, bờ cõi, mầu da, sắc áo (Kỳ ích vô phương).

Thánh nhân tùy theo thời thế, tùy theo những định tắc của trời đất, mà làm ơn ích cho dân, như vậy là theo được nhịp điệu vũ trụ mà làm ơn ích cho dân vậy (Phàm ích chi đạo.  Dữ thời giai hành).

II.  Đại Tượng Truyện. 

象 曰 .     風 雷  益 . 君 子 以 見 善 則 遷 . 有過 則 改 .

Tượng viết:

Phong Lôi Ích.  Quân tử dĩ kiến thiện tắc thiên. Hữu quá tắc cải.

Dịch.

Ích là gió, sấm hợp đôi,

Hiền nhân, quân tử vậy thời y theo.

Gặp lành, ra sức chắt chiu,

Lầm sai, ra sức liệu chiều sửa sang.

Thấy gió sấm có thể giúp nhau thêm mạnh (Phong Lôi Ích), người quân tử học được cách tiến đức, tu thân.

Khi thấy người khác làm điều gì hay mình bắt chước  (Kiến thiện tắc thiện), khi thấy mình có điều gì dở, mình bỏ đi, (Hữu quá tắc cải); như vậy cả xã hội, nhân quần, cả lịch sử, cả vũ trụ, nhất nhất cái gì cũng làm ích lợi cho mình, như vậy sẽ tiến ích thực sự.  Tiến ích về tinh thần, về nhân cách mới là hay.

III.  Hào từ & Tiểu Tượng Truyện

Sáu Hào chỉ nói lên đại ý này là:

– Trị dân là phải quên mình vì dân (Hào 2).

– Lo lập nên đại  công, đại nghiệp cho dân (Hào 1).

– Trợ cấp dân những khi dân lâm thiên tai, địa họa (Hào 3).

– Lo làm ơn, làm ích cho dân (Hào 5).

– Còn như lo làm ích cho mình thời sẽ bị dân ruồng rẫy, đả kích (Hào 6).

– Thành khẩn vì dân, vì nước (Hào 4).

1. Hào Sơ Cửu. 

初 九 .      利 用 為 大 作 . 元 吉 . 無 咎 .

象 曰 .      元 吉 無 咎 . 下 不 厚 事 也 .

Sơ Cửu. 

Lợi dụng vi đại tác.  Nguyên cát.   Vô cữu. 

Tượng viết:

Nguyên cát vô cữu.  Hạ bất hậu sự dã.

Dịch.  

Thừa cơ mà lập đại công,

Chu toàn xong xả, mới mong tốt lành.

Cố sao thành tựu công trình,

Mới không chuốc lấy cho mình thị phi.

Tượng rằng: Chu toàn xong xả mới hay,

Đại công phận dưới xưa nay ít làm.

Sơ Cửu là người có tài, nhưng chưa có địa vị trong xã hội.  Tuy nhiên Sơ Cửu được cấp trên Lục tứ tin dùng.  Nếu vậy, nên lợi dụng cơ hội mà lập nên đại công, đại nghiệp.  Có như vậy mới là thiệt hay lành, không còn ai bắt lỗi mình được nữa.  Bằng nếu vẽ hổ chẳng thành, thì sẽ mang hoạ vào thân, và bị người chê cười.  Cho nên phải Nguyên cát, nghĩa là phải được thành tựu trong công trình, thời mới được Vô cữu

Tượng viết: Nguyên cát. Vô cữu.  Hạ bất hậu sự dã.  Tượng giải thích tại sao phải làm công chuyện cho chu toàn, mới khỏi lỗi (nguyên cát. Vô cữu). Đó chính là người dưới không làm được những công việc trọng đại (Hạ bất hậu sự dã).  Hậu sự tức là những công việc trọng đại.

2. Hào Lục nhị.

六 二 .      或 益 之 . 十 朋 之 龜 弗 克 違 . 永 貞 吉 . 王 用 享 于 帝 . 吉 .

象 曰 .      或 益 之 . 自 外 來 也 .

Lục nhị. 

Hoặc ích chi thập bằng chi qui. Phất khắc vi. Vĩnh trinh cát.

Vương dụng hưởng vu Đế.  Cát.

Tượng viết:

Hoặc ích chi.  Tự ngoại lai dã. 

Dịch.  

Khi cần tăng ích cho người, 

Bạn bè kéo đến, tận tình giúp cho.

Rùa thiêng bói chẳng ngược ta,

Sắt son, trung chính mới ra tốt lành.

Chính trung thấu đến cao xanh,

Tế trời, vua cốt tâm thành mới hay.

Tượng rằng: Có kẻ giúp ta,

Ấy là ích tự ngoài mà tới nơi

Hào Lục nhị:  Trình Tử giải đại khái rằng: Lục nhị đắc trung, đắc chính, biết hư kỳ trung dĩ cầu ích, lại biết thuận tòng, như vậy thiên hạ ai mà chẳng muốn đến giúp mình. Nên nếu có thể làm ích gì cho mình được (Hoặc ích chi: hoặc hữu khả ích chi sự), thì bè bạn mọi nơi sẽ kéo về giúp mình (thập bằng chi: tắc chúng bằng trợ nhi ích chi).

Như vậy thì thần minh cũng không thể đi ngược được đường lối  (qui bất khắc vi: qui phất năng vi dã).  Cứ theo đúng đường lối minh chính ấy sẽ được mọi sự may mắn (Vĩnh trinh cát).  Lòng thành khẩn của mình, dẫu Thượng đế cũng phải chứng giám (Vương dụng hưởng vu Đế. Cát.)  như vậy làm sao mà không may, không lành được.  Những người thành khẩn vì dân, vì nước như vậy có cần điều gì, thì chúng dân sẽ kéo đến giúp. Tượng viết: Hoăc ích chi tự ngoại lai dã.

3. Hào Lục tam. 

六 三 .      益 之 用 凶 事 . 無 咎 .  有 孚 中 行 . 告 公 用圭 . 

象 曰 .      益 用 凶 事 . 固 有 之 也 .

Lục tam 

Ích chi dụng hung sự.  Vô cữu.  Hữu phu trung hành.  Cáo công dụng khuê.

Tượng viết:

Ích dụng hung sự.  Cố hữu chi dã.

Dịch. (Dịch theo Trình tử):

Thấy dân khốn khổ giúp cho,

Hành vi như vậy, chẳng lo lỗi lầm.

Một lòng thành khẩn, chính trung,

Vương công âu sẽ cảm thông với mình.

Cùng người báo cáo công trình,

Ngọc Khuê mượn tỏ tâm tình thẳng ngay.

Tượng rằng: Dân khổ giúp cho,

Ấy là công việc từ xưa vẫn làm.

Hào Lục tam:  Trình tử giải đại khái rằng: Gặp thời hung hoạ bất kỳ, mà mình không đợi lệnh vua, cứ ra tay cứu vớt dân (ích dân dụng hung sự), thời cũng chẳng có lỗi gì (vô cữu).  Nếu mà mình có lòng thành khẩn (hữu phu), nếu mình theo đường ngay, lối phải mà làm (trung hành), thì vua sẽ cảm thông với mình (cáo công dụng khuê).  Khuê là miếng ngọc để thông đạt lòng thành tín của mình, trong những khi tế tự, triều sính.  

Chu Hi và Hồ vân Phong giải đại khái rằng: Họa hung chính ra cũng làm ích lợi cho con người (ích dụng hung sự).  Người trên có thể dùng sự cảnh giới để làm chấn động mình, như vậy tức là làm ơn ích cho mình.  Nếu mình cứ thành khẩn, hành xử cho phải, rồi ra cấp trên cũng thông cảm được lòng thành khẩn của mình.  Các nhà bình giải sau này đều theo một trong hai cách bình giải trên.

Tượng viết: Ích.  Dụng hung sự.  Cố hữu chi dã.  Trình  tử giải  đại  khái rằng:  Gặp  những  khi  có  hung họa, mình cần phải biết tự chuyên, tự quyết (Cố hữu chi… vị chuyên  cố  tự  nhiệm  kỳ  sự  dã)để mà  cứu  vãn  dân  khỏi cảnh đoạ đày.  Cấp Ám xưa thấy dân Hà Nội bị đói khát, đã tự động mở kho lẫm để phân phát cho dân.  Phùng Hoan đi đến huyện Triết để đòi nợ cho Mạnh Thường Quân.  Đến nơi thấy dân đói khổ quá, liền đốt hết văn tự và nói Mạnh Thường Quân vì thương dân, đã tha hết nợ cho dân.  Đó là trường hợp người dưới tự chuyên, tự quyết để cứu dân khi họ gặp hoạ hung.

 4. Hào Lục tứ.

六 四 .      中 行 . 告 公 從 .  利 用 為 依 遷 國 .

象 曰 .      告 公 從 . 以 益 志 也 .

 Lục tứ. 

Trung hành. Cáo công tùng.  Lợi dụng vi y thiên quốc.

Tượng viết:

Cáo công tùng.  Dĩ ích chí dã.

Dịch.  

Một lòng thành khẩn, chính trung,

Vương công âu sẽ hết lòng nghe ta. 

Đã khi trên thuận, dưới hòa,

Rồi ra có thể thiên đô, ngại gì.

Tượng rằng:

Một lòng thành khẩn, chính trung,

Vương công âu sẽ hết lòng nghe ta.

Vì ta những lắng, cùng lo,

Lo làm lợi ích khắp cho mọi người.

Nếu những người phụ bật quân vương mà theo đường trung chính, thời những lời lẽ của họ sẽ được bậc quân vương tin theo (Trung hành. Cáo công tùng).  Được vậy, sẽ giúp vua thực hiện được những việc lớn như thiên đô.  Trung hành đây là một lời khuyên hoặc là một ước vọng.  Thiên đô là một việc ích quốc, lợi dân.

Người xưa thiên đô để tìm một địa điểm lợi thế hơn, an toàn hơn, dễ phòng thủ hơn, hoặc gần đồng minh hơn. Đó chính là cách làm lợi cho dân. Ví dụ: Vua Bàn Canh đã thiên đô từ Hình về Bạc vì địa điểm cũ không thuận lợi.  Bình Vương đã bỏ Phong Cảo về Lạc Ấp, để gần những nước chư hầu là Tấn và Trịnh hơn, ngõ hầu tránh nạn Khuyển Nhung.  Hán Cao Tổ thiên đô về Tràng An, Hán Quang Võ thiên đô về Lạc Dương, vì những nơi đó hiểm trở, dễ phòng ngự v.v…

Tống Thái tổ cũng muốn thiên đô về Trường An.  Tấn Vương can, Tống Thái Tổ bèn than:  Không đầy 100 năm nữa, dân sẽ kiệt lực vậy, vì bốn bề thụ địch, không nương dựa vào đâu được.

Tiểu Tượng cho rằng: Lục tứ sở dĩ được quân vương nghe theo vì đã trình bầy những điều ích quốc, lợi dân. Tượng viết: Cáo công tùng.  Dĩ ích chí dã.

5. Hào Cửu ngũ.

九 五 .      有 孚 惠 心 . 勿 問 元 吉 .  有 孚 惠 我 德 .

象 曰 .      有 孚 惠 心 . 勿 問 之 矣 .  惠 我 德 . 大 得 志 也 .

 Cửu ngũ: 

Hữu phu huệ tâm. Vật vấn nguyên cát. Hữu phu huệ ngã đức.

Tượng viết:

Hữu phu huệ tâm.  Vật vấn chi hĩ.  Huệ ngã đức.  Đại đắc chí dã.

Dịch.  

Thành tâm mưu ích cho người,

Chẳng cần han hỏi, hay thôi vô cùng.

Dân gian cảm đức, cảm công,

Gần xa đâu đấy, một lòng ơn ta.

Tượng rằng:

Thành tâm mưu ích cho người,

Chẳng cần han hỏi, hay thôi vô cùng.

Dân gian cảm đức, cảm công,

Thế là thỏa chí, thỏa lòng biết bao.

Hào Cửu ngũ: Nếu bậc quân vương thành khẩn một lòng vì dân, vì nước (hữu phu), lo thi ân bá đức cho dân (huệ tâm), thì khỏi cần hỏi han gì, cũng biết thế là vẹn hảo (vật vấn nguyên cát).  Như vậy người dưới cũng sẽ một lòng tín thành (hữu phu), mà tri ân đức của bậc quân vương. (huệ ngã đức).  Cai trị mà được dân mến, dân thương; cai trị mà làm ơn ích được như vậy, thực là thoả chí vậy. (đại đắc chí dã)

Vì thế Tượng viết: Hữu phu huệ tâm.  Vật vấn chi hĩ.  Huệ ngã đức.  Đại đắc chí dã.

6.   Hào Thượng Cửu.

上 九 .      莫 益 之 . 或 擊 之 . 立 心 勿 恆 . 凶 .

象 曰 .      莫 益 之 . 偏 辭 也 .  或 擊 之 . 自 外 來 也 .

Thượng Cửu: 

Mạc ích chi.   Hoặc kích chi.  Lập tâm vật hằng. Hung.

Tượng viết:

Mạc ích chi.  Thiên từ dã.  Hoặc kích chi.  Tự ngoại lai dã.

Dịch.  

Chẳng ai giúp ích, đỡ đần,

Lại còn có kẻ muốn dần cho đau.

Lập tâm chẳng được bền lâu,

Lập tâm không vững, có đâu tốt lành

Tượng rằng: Chẳng ai giúp ích, đỡ đần,

Là vì lời nói có phần thiên tư.

Có người còn muốn đánh cho,

Ấy là những chuyện vạ vơ từ ngoài.

Hào Thượng Cửu: Trị dân mà không lo làm ích cho dân, mà chỉ lo vơ vét của dân, thì chắc sẽ không có ra gì, có ngày sẽ bị dân trả oán (Mạc ích chi.  Hoặc kích chi).

Trị dân mà không có chương trình trường cửu, không có đường lối, không có chuẩn bị gì, chắc là sẽ chuốc lấy hoạ hung (Lập tâm vật hằng. Hung.)

Tượng viết: Mạc ích chi.  Thiên từ dã.  Hoặc kích chi. Tự ngoại lai dã.  Ý nói không làm ơn ích cho ai, mà chỉ muốn nghiêng về mình, thủ lợi cho mình (Mạc ích chi. Thiên từ dã). Nói rằng: Có người đánh cho, tức là nói có người ngoài sẽ đánh mình. (Hoặc kích chi. Tự ngoại lai dã).

Thế tức là làm hay thì người ngoài ngàn dậm cũng hưởng ứng; làm dở thì người ngoài ngàn dậm cũng phản đối.

ÁP DỤNG QUẺ ÍCH VÀO THỜI ĐẠI

Trị dân theo đúng ý nghĩa là làm ích cho dân.  Ngày nay, muốn trị dân, người ta đã chia nhà nước thành nhiều bộ: Như Lục quân, Không quân, Hải quân, Thương mại, Quốc phòng, Bộ Lại, Lao Động, Hình, Canh nông, Giáo Dục, Y tế, Ngân khố vv…

Ở Hoa Kỳ, các Bộ đều trực thuộc phủ Tổng Thống.  Mỗi Bộ lo về một vấn đề, miễn sao phát triển đời sống dân về mọi mặt.

-Sức khỏe, ăn uống, có Food & Drug Administra-tion, và Departement of Agriculture.

– Giáo Dục ở Mỹ này, trường công, tư, đại học, trung học mọc lên như nấm.

– Giao thông, đường xá, cầu cống ngày nay, thật không đâu bằng hệ thống đường xá ở Mỹ.

– Vấn đề nhà ở cho dân.  Ta thấy ở Mỹ này có khu sang, khu hèn.  nhưng hèn mà vẫn đẹp đẽ, không bẩn thỉu.

– Mua bán các vật dụng, nhà cửa đều được trả góp dễ dàng.  Mua đồ mang về nhà, nếu không ưng ý, đều có thể trả về lại dễ dàng. 

Chúng ta thấy ở nước này không có việc gì mà không được lưu ý tới, Núi, Rừng, Sông, Biển đâu đâu cũng được khai thác hẳn hoi.  Không đâu còn có rừng thiêng, nước độc.  Canh nông thì hoàn toàn được kỹ nghệ hóa, tân tiến hóa.  Không có cảnh Chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa như ở nước ta. 

– Binh bị, chiến tranh, cũng hoàn toàn thay đổi hẳn.  Đánh nhau bằng hỏa tiễn, phóng cách địch quân hàng mấy ngàn dặm.  Người ta còn lên cung trăng, thám hiểm Hỏa Tinh, Mộc Tinh vv… Trong nhà thì có TV, tủ lạnh, Téléphone, Computer, Internet.  Thật là quang cảnh hết sức thần tiên.  Như vậy, mới nói:  Trị dân là làm ích cho dân. 

Trái lại, ở các nước nhược tiểu, trị dân là vơ vét, tham nhũng, hối lộ.  Ai làm chính trị mà không tơ hào của dân thì cho là dốt, kém.  Do đó mới hay xảy ra nạn tham nhũng, nạn con ông, cháu cha làm càn, làm bậy, làm hủ hóa dân tộc, làm cho dân tộc suy yếu, khó bề canh tân để tiến bằng nước người. 

Nhưng còn có Nhật Bản, là đáng cho ta noi gương về cách cai trị của họ.  Nước Nhật, tuy nhỏ, nhưng từ thời Minh Trị Thiên Hoàng, ngài là 1 vị vua anh quân, hết lòng lo cho nước, cho dân, do đó nước Nhật từ từ tiến lên, để từ 1 nước nhược tiểu mà đã làm cho các cường quốc kính nể.  Khi ngài chết đi, đã khiến 1 số Tướng lãnh, và dân chúng vì thương xót Ngài quá độ nên đã mổ bụng tự tử theo ngài.

Mới hay trị dân là làm cho dân hay, dân tiến, tiến đến cùng cực mới là làm ích cho dân.  Mong Thượng đế ban ơn cho nước Việt Nam của chúng ta một vị lãnh đạo anh minh, sáng suốt, đức độ như Minh Trị Thiên Hoàng, để cho dân Việt được sung sướng, an vui, sau những năm dài triền miên loạn lạc, chiến tranh, để cho dân Việt đoàn kết lại thành một khối, đừng có cảnh chia rẽ như bây giờ.  Mong lắm thay!

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

42.Phong lôi ích

Ðại cương:

Tên quẻ: Ích là Tổn (Tổn trên mà ích dưới mới thật là Ích)

Thuộc tháng 7

Lời tượng

Phong lôi: Ích, quân tử dĩ kiến thiện tắc thiên, hữu quá tắc cải.

Lược nghĩa

Gió sấm là quẻ Ích. Người quân tử lấy đấy mà hễ thấy điều lành thời dời đến gần, có điều quá thời sửa đổi ngay.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp Giáp:

Canh: Tý, Dần, Thìn

Tân: Mùi, Tỵ, Mão

Lại sanh tháng 7 là cách công danh phú quý.

Sanh từ tháng 2 đến tháng 8 thì phúc dày.

Các tháng khác phúc nhỏ.

THƠ RẰNG:

Ích tổn tại hào ba,

Thấy lành phải đổi ra,

Lộc rừng xuân mới đến

Cảm khái nếp vinh hoa

Hào 1:

Lợi dụng vi đại tác,nguyên cát vô cữu. Ý HÀO: Có nhiều việc lớn để làm và việc làm có nhiều điều thiện.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Làm việc lớn, lập công to, lượng đồ dài lâu chu tất vạn toàn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng làm lành, lớn thì việc to, nhỏ thì canh tác, cửa nhà hưng vượng.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Lên cao. _Giới sĩ: Trúng tuyển lớn. Chữ Ðại là ám chỉ: Ðại học, đại sư, đại đức. _Người thường: Cũng có đại công tác, đại lợi.

Hào 2:

Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, vĩnh cát trinh, vương dụng hưởng vu đế, cát. Ý HÀO: Trên dưới đều hưởng ích lợi cả.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Vô tư, được lương bằng đến với mình, cấp trên yêu, dưới dân kính.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Giữ mình, kính trên, lợi quan cận quý, thu dụng khá đầy đủ.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Thăng chuyển. _Giới sĩ: Thành danh. _Người thường: Buôn bán hoạch lợi, hưởng lộc tế tự, được phúc.

Hào 3:

Ích chi dụng hung sự, vô cữu; Hữu phu trung hành, cáo công dụng khuê. Ý HÀO: Hết đạo trung với nước.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Ðã làm việc nước thì phải tận tuỵ để cứu dân sinh, để làm ích cho phong hóa.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Vào sanh ra tử, đổi nguy thành an, được tôn quí tin dùng, muộn tuổi hưởng phúc.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ra quân lập công to. _Giới sĩ: Thành danh, tuyển nhập, cải trật. _Người thường: Ðắc lợi. Số xấu thì càng xấu, sợ quan tụng, tai họa.

Hào 4:

Trung hành cáo công tòng; lợi dụng vi y thiên quốc. Ý HÀO: Làm ích cho dưới nê trên thì người lãnh đạo, dưới thì dân chúng đều tin theo.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Công minh chính đại lập công huân lớn nhứt đời, trên dưới đều mến phục.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng cán biện được như ý, sáng nghiệp duy tân.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Trách nhiệm trọng đại được trên mến. _Giới sĩ: Ðược tiến cử thành danh. _Người thường: Có việc tu tạo, đổi dời vui vẻ. Kiện tụng có thể thân bầy phải trái được.

Hào 5:

Hữu phu huệ tâm, vật vấn, nguyên cát, hữu phu, huệ ngã đức. Ý HÀO: Làm ích cho dưới mà chứng minh được lòng thành của mình, có cơ được đáp ứng.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài đức phụ tá được việc nước, cảm phục được lòng dân, công danh lợi đạt phúc lộc phong doanh.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng nhân hậu, có lòng làm ơn huệ cho người khác, nên hưởng phúc, là tăng đạo thì thông tuệ, di buôn bán cũng tử tế.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Gặp lãnh đạo, sáng suốt. _Giới sĩ: Tiến thủ thành danh. _Người thường: Doanh mưu xứng ý. Tăng đạo ở vị nhỏ thấp được tri ngộ tôn quí.

Hào 6:

Mạc ích chi, hoặc kích chi, lập tâm vật bằng, hung. Ý HÀO: Cầu ích đến cùng, hoặc đến nỗi phải đánh đuổi thì nhiều người oán.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tham tài, tổn vật, cầu danh lấy lợi, phải lập tâm theo đạo hằng thì may còn đỡ tai họa.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Hiểm trá, lợi mình tổn người, tai họa cùng đến, thân gia khó giữ được.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Vì tham nhũng bị phạt, đổi. _Giới sĩ: Cạnh tranh quá; bị nhục. _Người thường: Chuyên vụ lợi bị oán trách, hình khắc tổn thương thê thảm.

Chương 44: Quẻ SƠN TRẠCH TỔN
Chương 46: Quẻ TRẠCH THIÊN QUẢI
Chia Sẻ Bài Viết