Chương 48: Quẻ TRẠCH ĐỊA TỤY

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ TRẠCH ĐỊA TỤY

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

:::||: Trạch Địa Tụy (萃 cuì)

Quẻ Trạch Địa Tụy, đồ hình :::||: còn gọi là quẻ Tụy (萃 cui4), là quẻ thứ 45 của Kinh Dịch.

* Nội quái là ☷ (::: 坤 kun1) Khôn hay Đất (地).

* Ngoại quái là ☱ (||: 兌 dui4) Đoài hay Đầm (澤).

Giải nghĩa: Tụ dã. Trưng tập. Nhóm họp, biểu tình, dồn đống, quần tụ nhau lại, kéo đến, kéo thành bầy. Long vân tế hội chi tượng: tượng rồng mây giao hội.

Gặp nhau rồi thì thành bầy, thành bầy thi phải nhóm họp , cho nên sau quẻ Cấu tới quẻ Tụy (nhóm họp)

Thoán từ

萃 : 亨, 王假有廟.利見大人.亨, 利貞.用大牲, 吉, 利有攸往.

Tụy: hanh, vương cách hữu miếu. Lợi kiến đại nhân,

Hanh, lợi trinh. Dụng đại sinh, cát, lợi hữu du vãng.

Dịch: Nhóm họp: hanh thông. Vua đến nhà Thái miếu, ra mắt kẻ đại nhân thì lợi, hanh thông, giữ vững đạo chính thì lợi. Lễ vật (để cúng) lớn (hậu hĩ) thì tốt, tiến đi (sự nghiệp) được lâu dài.

Giảng: chằm (Đoài ở trên đất (Khôn), là nước có chỗ nhóm, tụ, cho nên gọi là quẻ Tụy.

Nội quái là Khôn có tính thuận, ngoại quái là Đoài có nghĩa vui vẻ, hoà thuận; mà hào 5 ở trên được hào 2 ở dưới ứng trợ cho, tất nhóm họp được đông người, cho nên hanh thông, tốt.

Nhóm họp cần long trọng và tỏ lòng chí thành, có thần linh chứng giám, cho nên vua tới nhà Thái miếu để dâng lễ, thề.

Người đứng ra nhóm họp một đảng phải là bậc đại nhân có tài, đức, được người tin, trọng thì mới tốt; người đó phải giữ vững đạo chính, đường lối chính đáng thì mới tốt (lợi trinh).

Nhóm họp ở thái miếu thì tế lễ phải long trọng, những con vật để cúng phải lớn, thì mới tốt. Nhóm họp để cùng nhau mưu tính mọi việc cho sự nghiệp được lâu dài (lợi hữu du vãng).

Đại Tượng truyện khuyên khi nhóp họp nên có tinh thần hoà thuận vui vẻ như quẻ Khôn, quẻ Đoài, cất khí giới đi để ngừa những sự biến bất ngờ xảy ra.

Hào từ

1. 初六: 有孚, 不終, 乃亂乃萃.若號, 一握為笑勿恤, 往, 无咎.

Sơ lục: hữu phu, bất chung, mãi loạn nãi tụy;

Nhược hào, nhất ác vi tiếu vật tuất, vãng, vô cữu.

Dịch: Hào 1, âm: có người tin mình mà mình không thể đến cùng, rồi làm rối loạn nhóm của mình; nên biết lầm mà kêu gọi người tin mình kia, dù có bị một bầy (tiểu nhân) cười cũng mặc, cứ theo lên (vãng) với người tin mình, thì không có lỗi.

Giảng: Hào 1 này có chính là hào 4 dương cương, tức là có bạn tin mình, nhưng 1 âm nhu, giữ đạo chính không được vững (không theo 4 đến cùng) mà nhập bọn với 2, 3 đều là âm nhu tiểu nhân, làm rối loạn nhóm của mình. Nếu có biết như là lầm mà kêu gọi 5, theo 4, dù có bị 2, 3 cười cũng mặc, thì sẽ không có lỗi.

2. 六二: 引, 吉, 无咎, 孚, 乃利用禴

Lục nhị: Dẫn, cát, vô cữu, phu, nãi lợi dụng thược.

Dịch hào 2, âm: dẫn bên lên nhóm với hào 5 thì tốt, không có lỗi, phải chí thành, chí thành thì như trong việc tế lễ, dùng lễ mọn cũng tốt.

Giảng: Hào này âm nhu nhưng trung chính, ứng với hào 5 dương cương trung chính ở trên, là một nhóm rất tốt. Nhưng vì nó xen vài giữa hai hào âm 1 và 3, mà cách xa hào 5, nên Hào từ khuyên nó kéo hai hào âm đó lên nhóm họp với 5, thì tốt, không có lỗi, và nhớ phải chí thành (phu) mới được, chí thành thì như trong việc cúng tế, dùng lễ mọn (thược) cũng tốt) .

3. 六三: 萃如, 嗟如, 无攸利, 往, 无咎, 小吝.

Lục tam: Tụy như, ta như, vô du lợi, vãng, vô cữu, tiểu lận.

Dịch: Hào 3, âm: Muốn họp mà không được nên than thở, chẳng có gì tốt cả; tiến lên mà họp với hào thượng, tuy hơi bất mãn đấy, nhưng không có lỗi.

Giảng: Hào 3 này âm nhu, ứng với hào trên cùng, nhưng không thích (vì hào này cũng âm nhu), muốn họp với 4 và 5 là dương kia, nhưng 4 có bạn là 1, 5 có bạn là 2 rồi, chê 3 là bất trung ,bất chính không thèm; 3 nhìn xuống dưới, muốn họp với 2,1 cũng không được vì họ có bạn là 5, 4 rồi; vì vậy 3 than thở, chẳng có gì tốt cả. Ðành phải tiến lên mà họp với hào trên cùng vậy, bất như ý đấy, nhưng không có lỗi.

4. 九四: 大吉, 无咎.

Cửu tứ: đại cát, vô cữu.

Dịch: Hào 4, dương: nếu được rất tốt thì mới không có lỗi.

Giảng: Hào này dương cương, tốt, chỉ hiềm bất chính; nó thân với hào 5, dương cương ở trên, mà lại gần với một bầy âm nhu ở dưới tình thế khó khăn, phải làm sao thuyết phục được bầy âm theo 5, như vậy mới khỏi có lỗi.

5. 九五: 萃有位, 无咎, 匪孚元永貞, 悔亡.

Cửu ngũ: tụy hữu vị, vô cữu, phi phu nguyên vĩnh trinh, hối vong.

Dịch: Hào 5, dương: Nhờ có vị cao mà nhóm họp được người, không có lỗi, nếu người chưa tin mình thì phải giữ tư cách nguyên thủ, giữ người được lâu, giữ đạo chính được bền, như vậy mới không hối hận.

Giảng: Bốn hào âm trong quẻ này đều muốn họp với hai hào dương, mà trong hai hào dương này, hào 5 có địa vị cao nhất, đức lại thịnh hơn hào 4, đủ cả trung, chính, cho nên các hào âm đều hướng vào (tụy hữu vị), tốt, không có lỗi. Nhưng còn e có người vẫn chưa tin hẳn 5 (phỉ nhu); muốn cho mọi người tin thì phải làm sao xứng đáng là vị nguyên thủ (nguyên), giữ người được lâu (vĩnh) giữ đạo chính (trinh) được bền, như vậy sẽ không hối hận.

6. 上六 : 齎咨, 涕洟, 无咎.

Thượng lục: tế tư, thế di, vô cữu.

Dịch: Hào trên cùng, âm: Than thở, sụt sùi, không trách lỗi ai được.

Giảng: Hào này âm nhu, kém tư cách, lại ở cuối thời nhóm họp (tụy) muốn họp với ai cũng không được, tới nỗi than thở, sụt sùi, cứ an phận thì không có lỗi. Phan Bội Châu hiểu “vô cữu” là không trách lỗi ai được, cũng như hào trên cùng quẻ Cấu ở trên.

***

Đại ý quẻ này là muốn họp người, lập một đảng chẳng hạn thì phải là bậc đại nhân: có địa vị cao, có tài, có đức, phải có lòng chí thành, một chủ trương chính đáng.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

45. 澤 地   TRẠCH ĐỊA TỤY 

Tụy Tự Quái萃 序 卦
Cấu giả ngộ dã姤 者 遇 也
Vật tương ngộ nhi hậu tụ物 相 遇 而 後 聚
Cố thụ chi dĩ Tụy故 受 之 以 萃
Tụy giả tụ dã.萃 者 聚 也.

Tụy Tự Quái

Cấu là gặp gỡ duyên may,

Gặp rồi vạn vật có ngày kết duyên.

Cho nên Tụy tiếp theo liền,

Tụy là tụ tập, tương liên kim bằng. 

Tụy nghĩa là tụ hợp. Tụ hợp nhỏ thì thành gia đình,  đoàn thể; lớn thì thành quốc gia, xã hội. Có tụ hợp thì mới đi đến chỗ hanh thông, vì con người không thể như  Robinson Crusoe cô thân, chích ảnh nơi hoang đảo, mà phải có bạn bè thân thích để giải quyết mọi chuyện đời. 

I. Thoán.

萃 . 亨 . 王 假 有 廟 . 利 見 大 人 . 亨 . 利 貞 . 用 大 牲 吉 . 利 有 攸 往. 

Thoán từ.

Tụy. Hanh. Vương cách hữu miếu. Lợi kiến đại mhân. Hanh.

Lợi trinh. Dụng đại sinh cát. Lợi hữu du vãng.

Dịch.

Tụy là tụ chúng hợp quần, 

Rồi ra thế sự được phần hanh thông.

Vua ra tế tự miếu tông,

U minh nối kết giải đồng gần xa.

Gặp người đức độ, tài hoa,

Thời hay, thời lợi, biết là mấy mươi.

Lấy trung, lấy chính hợp người,

Mới mong sẽ được vẹn mười lợi hanh.

Chững chàng sửa lễ tam sanh,

Linh đình, trang trọng tốt lành mấy mươi.

Hãy nên tính chuyện ngược xuôi,

Công trình âu sẽ chẩy trôi, vẹn toàn.

Tụ hợp, hợp quần là điều hay, điều tốt (Tụy hanh).

Nhưng tụ hợp phải tuân theo những qui luật, những đường lối nhất định.

1. Trước tiên, phải có tín ngưỡng, có chủ thuyết để nối kết lòng người. Vì thế vua phải ra nơi miếu tông làm việc tế tự (Vương cách hữu miếu). Tức là phải dùng tín ngưỡng làm chiêu bài qui dân, tụ chúng.

2. Muốn qui dân, tụ chúng, phải có người lãnh đạo cho hay, cho giỏi. Gặp được người lãnh đạo hay, dân nước sẽ bước vào con đường hanh thông, thái thịnh (Lợi kiến đại nhân. Hanh).

3. Phải có chính nghĩa, chính đạo, mới hay, mới lợi (Lợi trinh). Gian manh cũng có thể vì lợi lộc mà kết thành bầy bọn, nhưng họ sẽ làm hại thiên hạ. Anh hùng,  Hào kiệt trên đời chiêu dân, lập quốc, ví dụ như Moise, vì có chính nghĩa, nên mới lưu danh muôn thuở.

4. Phải tổ chức những cuộc tế lễ linh đình (Dụng đại sinh cát). Đó là một cách xử thế để chinh phục lòng dân.

Những cuộc hội hè, rước sách lớn, những cuộc biểu tình lớn, đều có mục đích là gây một ảnh hưởng tâm lý mạnh mẽ nơi dân con, cho họ trông thấy mà tin.

5. Lại phải thi hành một công chuyện gì ích quốc, lợi dân, cho dân mục kích nhãn tiền, như vậy mới hay, mới lợi (Lợi hữu du vãng). 

Thoán Truyện. Thoán viết:

彖 曰 . 萃 . 聚 也 . 順 以 說 . 剛 中 而 應 . 故 聚 也 . 王 假 有 廟 . 致 孝 享 也 . 利 見 大 人 亨 . 聚 以 正 也 . 用 大 牲 吉 . 利 有 攸 往 . 順 天 命 也 . 觀 其 所 聚 . 而 天 地 萬 物 之 情 可 見 矣 .

Tụy. Tụ dã. Thuận dĩ duyệt. Cương trung nhi ứng. Cố tụ dã. Vương cách hữu miếu. Trí hiếu hưởng dã. Lợi kiến đại nhân hanh. Tụ dĩ chính dã. Dụng đại sinh cát. Lợi hữu du vãng. Thuận thiên mệnh dã. Quan kỳ sở tụ. Nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hỹ.  

Dịch.  Thoán rằng:

Tụ là tụ chúng hợp quần,

Rồi ra thế sự được phần hanh thông.

Vua ra tế tự miếu tông,

U minh nối kết giải đồng gần xa.

Gặp người đức độ, tài hoa,

Thời hay, thời lợi, biết là mấy mươi.

Lấy trung, lấy chính họp người,

Mới mong sẽ được vẹn mười lợi hanh.

Chững chàng sửa lễ tam sanh,

Linh đình, trang trọng, tốt lành mấy mươi,

Hãy nên tính chuyện ngược xuôi,

Công trình âu sẽ chẩy trôi, vẹn toàn.

Thoán Truyện trước tiên định nghĩa Tụy là Tụ họp. (Tụy tụ dã). Muốn qui dân, tụ chúng, người dưới phải thuận phục người trên, người trên phải sung sướng khi được dắt dìu kẻ dưới. Người trên thì giỏi giang minh chính, kẻ dưới thì hỗ trợ, tuân phục hết lòng. Có như vậy mới qui dân, tụ chúng được (Thuận dĩ duyệt. Cương trung nhi ứng cố tụ dã.)

Muốn qui tụ dân chúng, người lãnh đạo phải lấy tín ngưỡng làm keo sơn gắn bó lòng người. Phải đích thân đứng ra tế lễ, để dạy dân kính trời, và hiếu với tổ tiên (Vương cách hữu miếu. Trí hiếu hưởng dã).

Lại cũng phải khéo biết dùng những lễ nghi, hình thức bên ngoài, những công trình cụ thể, nhãn tiền để cho dân thấy mà tin phục (Dụng đại sinh cát. Lợi hữu du vãng. Thuận thiên mệnh dã). Làm  như vậy tức là thuận theo những định luật tự nhiên vậy. Ngoài ra, Tụy còn cho ta thấy rõ tình đời. Chữ rằng: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.  Có giống nhau mới tụ họp cùng nhau.

Cho nên cứ nhìn xem cách tụ hợp của muôn vật, chúng ta sẽ biết được tình ý chúng. Nơi con người, cứ xem họ hợp đoàn với ai, sẽ biết được tình ý họ. Nhà thơ tìm bạn họa thơ; người ăn chơi đánh bạn với kẻ ăn chơi; người đạo đức giao du với người đạo đức… Thế là xem cách hội họp,  mà hiểu được tình người (Quan kỳ sở tụ. Nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hỹ).

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰 . 澤 上 於 地 . 萃 . 君 子 以 除 戎 器 . 戒 不 虞 .

Tượng viết: 

Trạch thượng ư địa. Tụy. Quân tử dĩ trừ nhung khí. Giới bất ngu.

Dịch. Tượng rằng:

Tụy là trên đất có hồ,

Nên người quân tử phải lo đề phòng.

Sẵn sàng khí giới binh nhung.

Ngăn ngừa bất trắc, đề phòng rủi ro.

Hồ ở trên đất là Tụy. Người quân tử nhân đó sửa soạn khí giới, để đề phòng mọi bất trắc. Nước hồ mà dâng quá mặt đất sẽ tràn. Phải phòng bị sự tràn ngập ấy.

Người mà tụ tập đông đảo, cũng có thể nổi dậy gây phiến loạn, trộm cắp cũng thường xẩy ra nơi đám đông. Vì thế khi tụ tập đông đảo, cần phải sẵn sàng võ khí để đề phòng mọi bất trắc. Có vậy mới tránh mọi tai họa. 

III. Hào Từ & Tiểu Tượng Truyện 

1. Hào Sơ Lục.

初 六 .      有 孚 不 終 . 乃 亂 乃 萃 . 若 號 . 一 握 為 笑 . 勿 恤 . 往 無 咎 .

象 曰 .      乃 亂 乃 萃 . 其 志 亂 也 .

Sơ Lục. 

Hữu phu bất chung. Nãi loạn nãi tụy. Nhược Hào. Nhất ác vi tiếu.

Vật tuất. Vãng vô cữu.

Tượng viết:

Nãi loạn nãi tụy. Kỳ chí loạn dã.

Dịch.

Thành tâm muốn họp cùng người,

Nhưng mà chưa được xong xuôi chu toàn,

Cho nên tụ bậy, họp càn,

Hô Hào chính ứng, cả đoàn cười chê.

Đừng lo, cứ tiến lên đi,

Một lòng qui chính, lỗi gì nữa đâu.

Tượng rằng: Tụ bậy, họp càn,

Là vì chí loạn, thần hôn mất rồi.

Hào Sơ mô tả những người có lòng thành khẩn, muốn tìm người hay mà liên kết (Hữu phu), nhưng vì ý chí không bền vững (bất chung), nên có thể tụ họp sằng bậy với những người không xứng đáng (Nãi loạn nãi tụy). Nhưng khi đã nhận xét biết lỗi lầm mình, họ nhất định tìm về với những bậc chính nhân quân tử (Nhược Hào). Khi ấy, dĩ nhiên bị bầy bọn chê cười, chế riễu (nhất ác vi tiếu). Nếu họ can đảm, đừng có lo ngại, và cứ nhất quyết thi hành ý chí của mình (Vật tuất vãng), thời sẽ không có lỗi chi cả (Vô cữu).

Tượng Truyện cho rằng: Sở dĩ có chuyện họp xằng, họp bậy, chính là vì ý chí đã rối loạn (Nãi loạn nãi tụy. Kỳ chí loạn dã). Trên đời không thiếu gì những trường hợp này. Xưa kia, biết bao người trung lương mà vì hoàn cảnh bắt buộc, phải sống nghề lục lâm, lạc thảo cho qua ngày, đợi thời kỳ sẽ được chiêu an. Hoặc biết bao kẻ lòng ngay, mà bị quyến rũ, nên đã đi vào những con đường tà ngụy, họp bầy cùng những kẻ bất chính, bất lương. Tuy nhiên, nếu họ nhận được lỗi lầm mình, bỏ tối tìm sáng thì nào có lỗi chi đâu.

2. Hào Lục nhị.

六 二 .     引 吉 . 無 咎 . 孚 乃 利 用.

象 曰.      引 吉 無 咎 . 中 未 變 也 .

Lục nhị.  

Dẫn cát. Vô cữu. Phu nãi lợi dụng thược.

Tượng viết: 

Dẫn cát vô cữu. Trung vị biến dã.

Dịch.

Dắt nhau qui chính, thời hay,

Dắt nhau qui chính, cả bày lỗi chi.

Lòng thành đã quyết vẹn nghì,

Thành tâm là trọng, xá gì lễ dâng.

Tượng rằng: Dắt nhau qui chính, thời hay,

Dắt nhau qui chính, cả bầy lỗi chi.

Lòng trung chưa chút suy vi,

Lòng trung chưa có Hào ly biến rời.

Hào Lục nhị là những người có quyền hành, thế lực. Đã vậy mà còn biết minh chúa mà phù, đem cả bầy bọn, tùy tùng về theo cùng những người minh chính, thời rất hay, rất tốt, không có gì đáng chê trách (Dẫn cát. Vô cữu). Khi đã có lòng thành khẩn, thì không cần những lễ nghi, hình thức bên ngoài cho trang trọng làm chi, hiểu lòng nhau là đủ (Phu nãi lợi dụng thược). Phu là lòng thành khẩn, Thược là tế lễ mùa Xuân, tương đối nhỏ. Trở về cùng minh chúa, đem cả bầy bọn trở về cùng minh chúa, trỏ về mà lòng trung nghĩa vẫn chu toàn, như vậy mới hay.

Trần Hi Trân, một Hào kiệt thời Tống, lúc lâm nạn, bất đắc dĩ phải nhập lõa với bọn thảo khấu ở Viên Thúy trại. Nhưng khi có dịp thuận tiện, liền trở về qui phục triều đình. Lòng trung nghĩa trước sau chẳng hề rời đổi. Thực đúng với trường hợp Hào Lục nhị này. (Xem Thủy Hử) (Dẫn cát vô cữu. Trung vị biến dã).

3. Hào Lục tam.

六 三 .      萃 如  嗟 如 . 無 攸 利 . 往 無 咎 . 小 吝 .

象 曰 .      往 無 咎 . 上 巽 也 .

Lục tam. 

Tụy như ta như. Vô du lợi. Vãng vô cữu. Tiểu lận.

Tượng viết: 

Vãng vô cữu. Thượng tốn dã.

Dịch.

Lòng riêng muốn họp với người.

Mà người chẳng họp, vắn dài thở than.

Mặc dầu đôi chút quải gàng,

Hãy tìm đến kẻ tâm xoang như mình.

Lỗi chi mà lỗi cho đành…

Hào Lục tam ứng vào những hạng người bất trung, bất chính, địa vị dở dang, tài  đức thấp  thỏi, nên muốn liên  kết với người, mà người chẳng chịu,  tứ cố vô thân, trên dưới không ai hưởng ứng với mình, vì thế nên xót xa than thở (Tụy như ta như). Lúc ấy chẳng có thể làm gì cho hay (Vô du lợi). Thôi thì tìm nơi nào tá túc, để mà chờ thời. Như vậy chẳng danh giá gì, nhưng cũng không có lỗi (Vãng vô cữu. Tiểu lận). Vãng là tiến lên, cầu hợp với Thượng Lục. Thượng Lục đây chính là một người bè bạn, nhưng không thân thiết lắm. Cầu hợp với Thượng, không có lỗi, vì Thượng cũng vui lòng chấp nhận. Tượng viết:  Vãng vô cữu. Thượng tốn dã.

4. Hào Cửu tứ.

九 四 .      大 吉 . 無 咎 .

象 曰 .      大 吉 無 咎 . 位 不 當 也 . 

Cửu tứ. 

Đại cát.  cữu.

Tượng viết:

Đại cát vô cữu. Vị bất đáng dã.

Dịch.

Qui mô cho rộng, cho to,

Hành vi tốt đẹp, hết lo lỗi lầm.

Tượng rằng: Qui mô cho rộng, cho to.

Hành vi tốt đẹp, hết lo lỗi lầm.

Tượng rằng: Qui mô cho rộng, cho to,

Hành vi tốt đẹp, hết lo lỗi lầm.

Tốt lành, rồi sẽ êm dầm,

Là vì ngôi vị có phần dở dang.

Hào Cửu tứ chính là một đại công thần, dưới thì được dân thuận theo, trên thì được vua tin cậy. Ngồi ngôi vị trọng thần, thật hết sức khó xử. Phải ăn ở sao cho vẹn chữ trung, thì mới được hay lành. Vì thế mới nói: Đại cát. Vô cữu. Phải Đại cát rồi mới Vô cữu. Cái khó xử của vị đại thần này là tuy tài đức siêu việt, nhưng địa vị lại dưới vị quân vương. Thế là có tài lãnh đạo lại không ở ngôi lãnh đạo. Vì thế  Tượng viết: Đại cát vô cữu. Vị bất đáng dã. 

Hào Cửu tứ quẻ Tụy cũng tương tự như Hào Cửu tứ quẻ Tùy,  Dịch kinh luôn khuyên những trọng thần phải bắt chước Châu Công, Y Doãn, chứ đừng theo thói Đổng Trác, Tào Tháo.

5. Hào Cửu ngũ.

九 五.      萃 有 位 . 無 咎 . 匪 孚 . 元 永 貞 . 悔 亡 .

象 曰 .     萃 有 位 . 志 未 光 也 .

Cửu ngũ.

Tụy hữu vị. Vô cữu. Phỉ phu. Nguyên vĩnh trinh. Hối vong.

Tượng viết:

Tụy hữu vị. Chí vị quang dã.

Dịch.

Tụ dân mà có vị ngôi,

Mới mong tránh được đơn sai, lỗi lầm.

Ví như dân chửa tin lòng,

Thì mình càng phải ra công tu trì,

Sao cho đáng mặt trị vì,

Tấc lòng minh chính, chẳng hề đơn sai.

Hay sao hay mãi mới hay,

Rồi ra sẽ chẳng còn ai phàn nàn.

Tượng rằng: Tụ dân đã có vị ngôi,

Thế mà còn có những người chửa tin.

Nếu người tin chẳng trọn niềm,

Chí mình chưa được vẹn tuyền quang minh.

Hào Cửu ngũ là bậc quân vương, ở ngôi vị lãnh đạo. Đức thịnh, Vị tôn, tất nhiên mọi người sẽ qui phục  (Tụy hữu vị. Vô cữu). Nếu còn có người chưa phục, thì mình hãy chau dồi đức độ của đấng quân vương, hãy theo đúng đường lối của đấng quân vương, hãy thực thi ba tôn chỉ: Nguyên, Vĩnh, Trinh

– Nguyên là vị quân chủ có đức độ, tài ba

– Vĩnh là phải mưu đồ những công trình trường cửu cho dân.

– Trinh là thực thi chánh đạo.

Được như vậy, khỏi cần hối hận, phàn nàn (Nguyên vĩnh trinh. Hối vong). Tượng Truyện bình rằng: Tuy mình có ngôi vị, nhưng ý chí, đức độ mình chưa lan tỏa khắp nơi, nên người chưa tin.

Tượng viết: Tụy hữu vị. Chí vị quang dã. Đời vua Thuấn, có giặc Miêu không chịu thần phục, vua bèn truyền quảng thi văn đức, lại cho múa ca vũ hai bên sân rồng. Bảy tuần sau rợ Miêu qui phục. (Kinh Thư, Đại Vũ)

6. Hào Thượng Lục.

上 六 .      齍 咨 涕  洟,無 咎 .

象 曰 .       齍 咨 涕 洟  . 未 安 上 也 .

Thượng Lục. 

Tế tư thế di. Vô cữu.  

Tượng viết:

Tế tư thế di. Vị an thượng dã.

Dịch.

Thở than xùi xụt, vắn dài,

Thôi đừng tính chuyện trách người làm chi.

Tượng rằng: Xùi xụt, thở than,

Vì sao mà chẳng được an, được lành.

Hào Thượng Lục: Người trên mà không có tư cách, sẽ không qui tụ được người. Vì thế nên mới phải khóc lóc, than van. Sở dĩ Thượng Cửu  phải than khóc như vậy là vì ở ngôi trên, mà chẳng được yên. Tượng viết: Tế tư thế di. Vị an thượng dã. Đầu đời nhà Đông Hán, giặc Xích Mi tôn Bồn Tử lên làm vua. Bồn Tử tuy là giòng tôn thất,   nhưng mới 15 tuổi, lại đang đi chăn dê, nên chẳng hiểu gì quốc chính, được bá quan mang về tung hô vạn tuế, nhưng cũng chẳng biết cai trị ra sao. Làm vua chưa được 1 năm, thiên hạ càng ngày càng loạn, trong cung cấm cũng đói khát thiếu thốn. Bồn Tử ngày đêm khóc lóc, sau lại đem ngọc ấn trao trả các quan, để xin về làng lánh nạn. Các quan không chịu, ép phải tiếp tục làm vua. Sau này, vua Quang Võ đem quân về đánh dẹp, Bồn Tử và các quan thấy thế đánh không lại bèn xin hàng. Quang Võ thuận cho, và cũng không nỡ giết, lại còn phong vương tước cho Bồn Tử. Thật đúng là có vị ngôi, mà chẳng có tài đức, thời cũng chẳng nên cơm cháo gì.

ÁP DỤNG QUẺ TỤY VÀO THỜI ĐẠI

Muốn lập nước, lập đảng, ta phải có chủ thuyết chính đáng, phải có tài ba, đức độ, đường lối rõ rệt, và biết mưu đồ lợi ích trường cửu cho dân.

*Muốn tụ hợp một số người, để phản đối chính quyền hay chủ nhân,  hoặc cấp lãnh đạo của họ, mà nay ta gọi là biểu tình, thì ta phải có lý do chính đáng; người cầm đầu phải là người có uy tín, có nhiệt tâm, và là người được nhiều người tin cậy. Hành động luôn phải ôn hoà, thì sự thành công có phần dễ dàng hơn.

*Thấp hơn nữa là muốn gây dựng một xí nghiệp, chẳng những ta phải thành thạo về ngành chuyên môn của xí nghiệp, mà còn phải rành về cách quản trị xí nghiệp nữa.

*Phải là người trọng tín nghĩa, có thành tín, chứ không thể gặp ai cũng hứa hẹn đủ điều, rồi sau lại phủi tay rũ sạch. Có  tín  nghĩa, thành tín thì thiên hạ mới có thể tin cậy mình mà góp công, góp của, hợp tác với mình được.

 *Phải biết xã giao giỏi, biết nhún nhường, tuy biết mình giỏi nhưng không kiêu ngạo, để đối nội thì thu phục được nhân tâm, khiến nhân viên dưới quyền mình sẽ hết lòng tận tụy hy sinh, chuyên cần trong mọi công việc với mình; như vậy sẽ có nhiều nhân tài đến giúp mình. Khi đã phát đạt, thì phải biết trọng thưởng, hậu đãi cho những người đã có công, đã góp sức và cộng tác với mình, chứ không nên vắt chanh bỏ vỏ, họ chưa già đã bắt về hưu non, để tuyển người mới, giá lương sẽ thấp hơn. Như vậy, không hợp thiên lý, khó vững bền.

Đối ngoại, giỏi mà nhún nhường, không kiêu ngạo, sẽ nhiều bạn, ít thù, và khi cần khuếch trương lớn, sự mời mọc người góp công,  góp của,  sẽ  thành công dễ  dàng hơn nhiều. Do vậy mà người Trung Hoa, một dân tộc nổi tiếng về thương mại, thường khi người cha là chủ 1 xí nghiệp lớn, nếu muốn truyền lại cho con, thường bắt người con phải chịu cực khổ, làm công việc từ dưới đi lên, để mai sau người con sẽ thành thạo mọi công chuyện, và để giảm bớt tính kiêu ngạo của loài người; và thành tín là bài học đầu của họ.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

45.Trạch địa tụy

Ðại cương:

Tên quẻ: Tụy là Tụ (tụ họp đông đảo: thi thố, vui buồn phức tạp).

Thuộc tháng 6

Lời tượng

Trạch thường ư địa: Tụy. Quân tử dĩ trừ nhung khí, giới bất ngu.

Lược nghĩa

Đầm lên ở trên đất là quẻ Tụy. Người quân tử lấy đấy mà tàng chứa đồ binh khí để phòng sự bất ngờ xảy ra.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi Nạp Giáp:

Ất hoặc Quý: Mùi, Tỵ, Mão

Đinh: Hợi, Dậu, Mùi

Lại sanh tháng 6 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Âm dương hội họp mà chưa hẹn

Thuyền đóng bên sông định cứu nguy,

Hoa rụng trước sân thành quả mới,

Sắp đi Tây Bắc việc còn nghi

Hào 1:

Hữu phu, bất chung, nãi loạn, nãi tụy, nhược hào, nhất ác vi tiếu; vật tuất, vãng vô cữu. Ý HÀO: răn nên xa bọn chúng để theo đạo chính thì tránh được cái tai họa tụ hợp xằng.

MỆNH HỢP CÁCH: Cải lỗi mà theo chính đạo thì giữ được nghiệp rộng lớn không lo gì.

MỆNH KHÔNG HỢP: Vui buờn bất thường, tà chính bất định, đúc bạc hạnh thiếu, vất vả.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức: Bị cách giáng. Giới sĩ: Gian nan. Người thường: Kết cấu với tiểu nhân, bị vu tội lây. Ðại để trước xấu sau mới tốt.

Hào 2:

Dẫn, cát, vô cữu, phu, nãi lợi dụng thược. Ý HÀO: Gặp được người chí thành giúp nước; nên bói quẻ tế lễ.

MỆNH HỢP CÁCH: Ðức khôn rộng chính trực, nên tiến dẫn được hiền năng, thiện đức ra giúp nước, lại cảm cách được thần linh. Danh thơm hơn cả hoàn vũ.

MỆNH KHÔNG HỢP: Cũng thành, thực giao hảo, được quý nhân tiếp dẫn, lợi đạt phúc dày.

XEM TUẾ VẬN: Quan chức và giới sĩ: Ðược tiến cử thăng chuyển. Người thường: Doanh mưu hoạch lợi, được đề cử, toại ý.

Hào 3:

Tuỵ như, ta như, vô du lợi; vãng vô cữu, tiểu lận. Ý HÀO: Hào âm tụ họp chẳng chính đâu, nhưng cứ phải đi.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Toại chí, bố bể là nhà, sinh nhai lợi đạt.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Lãnh đạm với thân thích, gia nghiệp quạnh hiu, rời tổ đi xa, may lắm mới toại ý.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Khó tụ tập với trung ương, phải đi xa mà vất vả. _Giới sĩ: Khó gặp dịp tiến thân. _Người thường: Nhà không yên, thân thích bị thương tổn; người già vận xấu.

Hào 4:

Ðại cát, vô cữu. Ý HÀO: Trên dưới ỷ thác, nên phải hết lòng.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Cầm quyền chấp chính phải hoành hóa tất cả, tụ họp được mọi thịnh vượng thì mới không lỗi.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Tài chí thiếu đức, không hỏng việc nước thì cũng hại việc nhà.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Phòng nghi ngờ, nên bỏ cao xuống thấp, cấp lưu dũng thoái là hay. _Giới sĩ: Mắc lỗi không đáng vị. _Người thường: Không theo đường chính, nên có tai họa, thật là quân tử thì mới thoát.

Hào 5:

Tụy hữu vị, vô cữu, phỉ phu, nguyên, vĩnh, trinh, hối vong. Ý HÀO: Ở ngôi lãnh đạo, càng phải tu đức.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Ngôi cao lộc trọng, chưa lấy làm vinh, sĩ theo dân mến chưa lấy làm thích, thường cẩn trọng kính úy, thì phú quí mới bền.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng phải tỉnh luôn, chẳng vinh hoa thì cũng giữ được gia nghiệp.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Chưa được tinh hẳn, nên chưa sáng sủa. _Giới sĩ: Chưa vững đạo đức. _Người thường: Không hợp nhân tính, nên còn trở ngại.

Hào 6:

Tê tư, thê di, vô cữu. Ý HÀO: Vô tài, vô vị mà tụ họp thiên hạ, chỉ thêm lo sợ.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Trị phải phòng loạn, an phải nhớ nguy thì bảo được thân, tránh được hại.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Nhu nhược, ưu sầu, cô lập, chỉ làm được việc nhỏ.

XEM – TUẾ – VẬN: _Tiến lên chẳng ổn, việc nhiều rắc rối, lớn bé ưu sầu danh lợi thành hư, tuổi thọ cũng kém.

Chương 47: Quẻ THIÊN PHONG CẤU
Chương 49: Quẻ ĐỊA PHONG THĂNG
Chia Sẻ Bài Viết