Chương 5: Quẻ THUẦN KHÔN

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

Quẻ THUẦN KHÔN

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

:::::: Thuần Khôn (坤 kūn)

Quẻ Thuần Khôn, còn gọi là quẻ Khôn (坤 kūn), tức Đất là quẻ số 02 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là: ☷ (::: 坤 kūn) Khôn = (地) Đất.

* Ngoại quái là: ☷ (::: 坤 kūn) Khôn = (地) Đất.

Giải nghĩa: Thuận dã. Nhu thuận. Thuận tòng, mềm dẻo, theo đường mà được lợi, hòa theo lẽ, chịu lấy. Nguyên Hanh Lợi Trinh chi tượng.

坤 : 元, 亨, 利, 牝 馬 之 貞 . 君 子 有 攸 往 . 先 迷 後 得. 主 利 . 西 南 得 朋 . 東 北 喪 朋 . 安 貞 吉 .

Khôn: Nguyên, hanh, lợi, tẫn mã chi trinh. Quân tử hữu du vãng, tiền mê hậu đắc, chủ lợi. Tây nam đắc bằng, đông bắc táng bằng. An trinh, cát.

Dịch: Khôn có đức đầu tiên và lớn, hanh thông, thích đáng, đức chính và bền của con ngựa cái. Người quân tử có việc làm mà thủ xướng thì lầm, để người khác thủ xướng mà mình theo sau thì được. chỉ cốt lợi ích cho vạn vật. đi về phía tây nam thì được bạn, về phía đông bắc thì mất bạn. An lòng giữ đức bên vững, tốt.

Giảng: Quẻ Càn gồm 6 hào dương, quẻ Khôn gồm 6 hào âm. Càn “tượng” (1) trời thì không “tượng” đất. Càn cương kiện thì Khôn nhu thuận. Càn tạo ra vạn vật ở vô hình, thuộc phần khí; nhưng phải nhờ Khôn vạn vật mới hữu hình, mới sinh trưởng, cho nên công của Khôn cũng lớn như công của Càn; chỉ khác Khôn phải ở sau Càn, tùy theo Càn, bổ túc cho Càn; cho nên các đức nguyên, hanh, lợi, Khôn có đủ như Càn; chỉ riêng về đức trinh (chính và bền) thì Khôn hơi khác: tuy chính và bền nhưng phải thuận. Văn Vương dùng con ngựa cái để “tượng” Không: ngựa là giống mạnh mà ngựa cái có tính thuận theo ngựa đực.

Cũng vì Khôn có đức thuận, cho nên khởi xướng phải là Càn, Khôn chỉ tiếp tục công việc của Càn. Người quân tử nếu ở vào địa vị khôn, phải tùy thuộc người trên thì làm việc cũng đừng nên khởi xướng để khỏi lầm lẫn, chờ người ta khởi xướng rồi mới theo thì được việc, như vậy là có đức dày như đất, chở được muôn vật, lớn cũng không kém đức của trời (Càn): “Quân tử dĩ tự cường bất tức” là bài học rút ra từ quẻ Càn.

Chu công còn khuyên đi về phía Tây Nam vì trên Hậu thiên bát quái Khôn ở phía Tây nam (có học giả hiểu là phía Tây và phía Nam) thì được bạn (hoặc được tiền bạc, vì chữ “bằng” cò thể hiểu là bằng hữu, cũng có thể hiểu là bằng bối: bối là vỏ sò ngao xưa dùng làm tiền, 1 bằng là 2 hoặc 10 bối) nếu đi về phía Đông bắc thuộc dương thì mất bạn (hoặc tiền bạc).

Được quẻ này, nến theo những lời khuyên đó mà an lòng, giữ đức bền vững thì tốt.

Câu “Quân tử hữu du vãng, tiên mê hậu đắc” có người hiểu là: “Người quân tử có đi đâu thì trước lầm sau đúng”, mà không giảng tại sao lại như vậy. Hiểu như chúng tôi ở trên thì có lý hơn, làm rõ cái đạo “thuận tòng thì tốt” của Khôn. Chữ “du” ở trong kinh Dịch thường dùng như chữ “sở”

Tác giả Văn Ngôn không giảng gì thêm chỉ tóm tắt lại: Đạo Khôn là thuận theo trời mà tiến hành không ngừng.

Hào từ:

1) 初 六: 履 霜, 堅 冰 至

Sơ lục: Lý sương, kiên băng chí.

Giảng: Đây là hào âm đầu tiên trong quẻ. Âm thì lạnh, nên Chu Công ví với sương lạnh mới kết lại thì thành sương, rồi lần lần, lạnh hơn, nước sẽ đông lại thành băng. Hao này có hàm cái ý phải thận trọng từ bước đầu. Tiểu tượng truyện không giảng thêm, còn Văn ngôn truyện thì khuyên ta:

“Nhà nào tích lũy điều lành thì tất có thừa phúc (để đến đời sau); nhà nào tích lũy điều chẳng lành thì tất có thừa tai vạ (để đến đời sau). Như việc bề tôi giết vua, con giết cha, nguyên do không ở trong một buổi sớm chiều; tất dần dà có từ lâu rồi, mà người ta không biết lo toan từ sớm vậy” (tích thiện chí gia tất hữu dư khách, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương: Thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất triều nhất tịch chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hĩ. Do biện chi bất tảo biện dã).”

Chúng ta để ý: hào 1 quẻ Càn, Dịch chỉ khuyên cứ ở ẩn, tu đức luyện tài chờ thời; còn hào 1 quẻ Khôn này. Dịch răn phải đề phòng từ đầu, nếu không sẽ gặp họa; như vậy Dịch tin ở Dương hơn đạo Âm, trọng Dương hơn Âm .

2) 六 二: 直 方 大, 不 習 无 不 利

Lục nhị: trực phương đại, bất tập vô bất lợi.

Dịch: Hào 2, âm (Đức của mình) thẳng, vuông, lớn thì chẳng phải học tập mà cũng không có gì là không lợi.

Giảng: Hào này rất tốt: thể là âm, vị cũng là âm ( hào chẳn), thế là đắc chính, cho nên bảo là có đức thẳng (trực) nó lại đắc trung, (ở giữa nội quái) cho nên bảo là vuông vức (phương) (1) nó lại ở trong quẻ Khôn, có qui mô lớn, nên chẳng cần học tập khó khăn mà hành động nào cũng hợp đạo lý.

Văn ngôn giảng thêm: người quân tử muốn như hào 2 này mà ngay thẳng ở trong lòng thì phải có đức kinh; vuông ở ngòai (khi tiếp vật) thì phải có đức nghĩa. Có hai đức kính, nghĩa đó thì sẽ không cô lập (?). Nguyên văn: “bất cô”, Chu Hi giảng là to lớn, tức có ý cho rằng: Kính thì “trực”, nghĩa thì “phương”. Có đủ kính và phương thì là “đại”. Chúng tôi hiểu theo câu: Đức bất cô, tất hữu lân” (người có đức thì không lẻ loi, tất có bạn cũng trọng đạo đức như mình (bạn đây là hào 5, ứng với 2) không biết có đúng không.

3) 六 三: 含 章 可 貞, 或 從 王 事, 无 成 有 終

Lục tam: hàm chương khả trinh, hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung.

Dịch: Hào 3, âm: Ngậm chứa (đừng để lộ ra) đức tốt mà giữ vững được, có khi theo người trên mà làm việc nước, đừng chiếm lấy sự thành công thì sau cùng sẽ có kết quả.

Giảng: Hào 3 là âm mà ở vào địa vị dương (lẻ), như vậy là không chính, nhưng nó vốn có đức nhu thuận của quẻ Khôn, thêm được tính cương kiện của vị dương, thì lại là tốt (đây là lẽ biến hóa của Dịch).

Nó đứng trên cùng nội quái, tức có thể có chức phận, cho nên bảo là có lúc theo bề trên làm việc nước. Nhưng nó nên nhũn, nhu thuận (đức của Khôn) chỉ làm trọn nghĩa vụ mà đừng chiếm lấy sự thành công thì sau cùng sẽ có kết quả.

Văn ngôn bàn thêm: Ngậm chứa đức tốt, theo người trên làm việc mà không dám chiếm lấy sự thành công, đó là đạo của Đất, của vợ, của bề tôi (địa đạo, thê đạo, thần đạo). Đó là cách cư xử của người dưới đối với người trên.

4) 六 四: 括 囊, 无 咎, 无 譽.

Lục cửu: quát nang, vô cữu, vô dự.

Dịch: Hào 4 âm: như cái túi thắt miệng lại, (kín đáo giữ gìn) thì khỏi tội lỗi mà cũng không danh dự.

Giảng: hào 4 là âm ở địa vị âm trong một quẻ tòan âm, mà không đắc trung như hào 2, ví như người quá nhu thuận, vô tài, không có chút cương cường nào. Đã vậy, mà ở sát hào 5, tức là có địa vị một đại thần, tài thấp mà địa vị cao, nên phải thận trọng thì mới khỏi tội lỗi, an thân, mặc dầu không có danh dự gì.

Hào 4 quẻ Càn cũng ở địa vị như hào này, nhưng là dương, có tài năng, nên còn có thể bay nhảy, tiến được (hoặc dược), khác nhau ở chỗ đó.

Văn ngôn cho hào này có cái tượng “âm cự tuyệt dương” (vì không có chút dương nào cả từ bản thể tới vị), như vậy là âm dương cách tuyệt nhau, trời đất không giao nhau (thiên địa bế), lúc đó hiền nhân nên ở ẩn (hiền nhân ẩn), rất thận trọng thì không bị tai họa.

5) 六 五: 黄 裳, 元 吉.

Lục ngũ: hoàng thường, nguyên cát.

Dịch: hào 5, âm: như cái xiêm màu vàng, lớn, tốt (rất tốt).

Giảng Hào 5 là hào chí tôn trong quẻ , đắc trung. Tuy nó không đắc chính vì là âm mà ở vị dương; nhưng ở trong quẻ Khôn,như vậy lại tốt vì có chút cương, không thuần âm, thuần nhu, như hào 4, tức là có tài, nhưng vẫn là Khiêm nhu (vì là âm). Âm còn hàm ý văn vẻ nữa, trái với dương cương kiện là võ. Cho nên Chu Công cho là hào này rất tốt, và “tượng” bằng cái xiêm màu vàng. Vàng là màu của đất, của trung ương (hàm ý không thái quá, không bất cập) của vàng, đồng, nên người Trung Hoa thời xưa rất quí, chỉ vua chúa mới được dùng màu vàng trong y phục. xiêm là một bộ phận y phục ở phía dưới, đẹp đẽ, hàm cái nghĩa khiêm hạ, không tự tôn.

Văn ngôn bàn thêm: người quân tử có đức trung (màu vàng) ở trong mà thông suốt đạo lý, ở ngôi cao mà vẫn khiêm, tự coi mình ở thể dưới (như cái xiêm); như vậy là chất tốt đẹp ở bên trong mà phát ra bề ngòai, làm nên sự nghiệp lớn, tốt đẹp như vậy là cùng cực.

Như vậy Dịch tuy coi âm (Khôn) không quí bằng dương (Càn), nhưng có lúc coi trọng đức khiêm nhu, mà Dịch cho là đức của người văn minh. Tinh thần đó là tinh thần hiếu hòa, trọng văn hơn võ. Hào 5 quẻ Càn, Chu Công cho là đại quí (long phi tại thiên) nhưng chỉ bảo: “Lợi kiến đại nhân”; còn hào 5 quẻ không thì khen là”nguyên cát” hào tốt nhất trong Kinh Dịch, là có nghĩa vậy.

6) 六 上: 龍 戰 于 野, 其 血 玄 黄.

Lục thượng: Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng.

Dịch: Hào trên cùng âm : Như rồng đánh nhau ở đồng nội, đổ máu đen máu vàng.

Giảng: hào này âm lên tới điểm cực thịnh. Âm dương tuy bổ túc nhau, nhưng bản thể vẫn là ngược nhau, đối địch nhau. Khi âm cực thịnh, dương cũng vậy ( hào 6 quẻ Càn) thì hai bên tất tranh nhau, và cả hai đều bị hại. Đạo đến đó là cùng rồi. cũng vẫn cái nghĩa thịnh cực thì suy như hào 6 quẻ Càn.

Văn ngôn: không giảng gì khác, chỉ cho biết rằng “huyền hoàng”: là sắc của trời đất, âm dương .

Cao Hanh ngờ rằng hai chữ đó [玄 黄] thời xưa dùng như hai chữ [ ] (vì đọc như nhau) và có nghĩa là chảy ròng ròng. Không rõ thuyết nào đúng, nhưng đại ý vẫn là tai hại cả cho hai bên

7) 用 六: 利 永 貞.

Dụng lục: Lợi vĩnh trinh.

Dịch: (nghĩa từng chữ) dùng hào âm: phải (nên) lâu dài, chính và bền.

Giảng: Hai chữ “dụng lục” ở đây cũng như hai chữ “dụng cửu” ở quẻ Càn rất tối nghĩa, và câu 7 này mỗi nhà giảng một khác. Dưới đây tôi chỉ đưa ra ba thuyết:

• Thuyết của tiên nho: sáu hào âm biến ra sáu hào dương, tức Thuần khôn biến thành Thuần Càn, như một người nhu nhược biến ra một người cương cường, cho nên bảo là: phải (nên) lâu dài, chính và bền.

• Thuyết của Cao Hanh: hỏi về việc cát hay hung lâu dài, mà được “hào” này thì lợi.

• Thuyết của Tào Thăng: Khôn thuận theo Càn cho nên gọi là lợi; Không động thì mở ra, tĩnh thì đóng lại. Cho nên bảo chính và bền, ý muốn nói: đạo Khôn đơn giản mà tác tác thành vạn vật.

Chú ý: chỉ hai quẻ Càn và Khôn là có Văn ngôn truyện, Dụng Cửu và dụng Lục; từ quẻ sau trở đi không còn những tiết đó nữa.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

2.  坤 為 地  KHÔN VI ĐỊA 

           Bát Thuần Khôn 

I. Thoán

A. Thoán Từ.

坤:元,亨,利 牝 馬 之 貞。君 子 有 攸 往,先 迷 后 得 主,利 西 南 得 朋,東 北 喪 朋。安 貞,吉。

Khôn. Nguyên hanh. Lợi tẫn mã chi trinh. Quân tử hữu du vãng. Tiên mê hậu đắc. Chủ lợi Tây Nam đắc bằng. Đông Bắc táng bằng. An trinh cát.

Dịch:

Khôn là gốc gác quần sinh.

Làm cho vạn vật phỉ tình hanh thông,

Lại sinh lợi ích khôn cùng,

Như con ngựa cái thung dung, kiên trì,

Khi người quân tử vân vi,

Trước mê, sau gặp chủ thì mới hay,

Tây Nam gặp bạn đường đời,

Đến phương Đông Bắc bạn thời còn ai?

Bền lòng, vững chí hôm mai,

An lòng, vững chí, sẽ may, sẽ lành. 

B. Thoán Truyện.

彖 曰: 至 哉 坤 元,萬 物 資 生,乃 順 承 天。坤 厚 載 物,德 合 無 疆。含 弘 光 大,品 物 咸 亨。 牝 馬 地 類,行 地 無 疆,柔 順 利 貞。君 子 攸 行,先 迷 失 道,后 順 得 常。西 南 得 朋,乃 與 類 行﹔東 北 喪 朋,乃 終 有 慶。安 貞 之 吉,應 地 無 疆。

Thoán viết. Chí tai Khôn nguyên. Vạn vật tư sinh. Nãi thuận thừa thiên. Khôn hậu tải vật. Đức hợp vô cương. Hàm hoằng quang đại. Phẩm vật hàm hanh. Tẫn mã địa loại. Hành địa vô cương. Nhu thuận lợi trinh. Quân tử du hành. Tiên mê thất Đạo. Hậu thuận đắc thường. Tây Nam đắc bằng. Nãi dữ loại hành. Đông bắc táng bằng. Nãi chung hữu khánh. An trinh chi cát. Ứng địa vô cương.

Dịch: 

Khôn nguyên cao trọng xiết bao,

Muôn loài đều phải nương vào cầu sinh.

Khôn nguyên cao trọng đã đành,

Vì luôn thuận ý cao xanh chẳng rời.

Đất dày nâng đỡ muôn loài,

Xét về đức cả, đành thời vô biên,

Ấp ôm vạn vật mọi miền,

Làm cho đâu đấy sáng lên huy hoàng.

Được nhờ ơn đất cưu mang,

Cho nên muôn vật rỡ ràng, đep tươi.

Ngựa cái với đất cùng loài,

Tung hoành khắp chốn, khắp nơi thỏa tình;

Luôn luôn nhu thuận, lợi trinh.

Cho người quân tử gương lành noi theo.

Mới đầu mê lạc đến điều,

Là vì bỏ mất chẳng theo Đạo Trời.

Sau rồi, nhu thuận, đòi noi,

Mới đâu ra đấy, cơ ngơi rõ ràng.

Tây Nam gặp được bạn đàng,

Cùng người đồng loại, thênh thang đăng trình.

Phía Đông Bắc mất bạn mình,

Cuối cùng vượt được quần sinh mới là.

Siêu quần, bạt tụy mình ta,

Mới là may mắn, mới là vinh xương.

Bền gan, rồi sẽ cát tường,

Y như trái đất, vô cương khác nào. 

II. Đại Tượng Truyện

 象 曰: 地 勢 坤,君 子 以 厚 德 載 物。

Tượng viết. Địa thế Khôn. Quân tử dĩ hậu đức tải vật.

Dịch: 

Tượng rằng: Khôn thế thuận thừa,

Nên người quân tử lo cho đức dày.

Đức dày, tải vật mới hay,

Cưu mang vạn vật, chẳng ngày nào ngơi.

III. Hào  Từ & Tiểu Tượng Truyện

1. Hào  Sơ Lục.

初 六:      履 霜,堅 冰 至。

象 曰:      履 霜 堅 冰,陰 始 凝 也。 馴 致 其 道,至 堅 冰 也。

Sơ Lục. Lý sương kiên băng chí.

Tượng viết. Lý sương kiên băng. Âm thủy ngưng dã. Tuần trí kỳ Đạo. Chí kiên băng dã.

Dịch: 

Dưới chân, sương giá chớm dày,

Rồi ra băng cứng có ngày tới theo.

Tượng rằng:

Dưới chân sương giá chớm dày

Rồi ra băng cứng có ngày tới theo.

Âm vừa ngưng đọng ít nhiều.

Cứ đà ấy tiến, có chiều thành băng.

2. Hào  Lục nhị. 

六 二 :      直,方,大,不 習 無 不 利。

象 曰:     六 二 之 動,直 以 方 也。不 習 無 不 利,地 道 光 也。

Lục nhị. Trực phương đại. Bất tập vô bất lợi.

Tượng viết.  Lục nhị chi động. Trực dĩ phương dã. Bất tập vô bất lợi. Địa Đạo quang dã.

Dịch: 

Thẳng ngay, vuông vức, lớn lao.

Không cần tập luyện, việc nào cũng hay.

Tượng rằng:

 Hào  hai hoạt động thẳng ngay,

Lại luôn vuông vắn, chẳng hay vậy vò.

Không cầu, mà vẫn lợi to,

Bởi vì địa Đạo quang hoa sáng lòa.

3. Hào  Lục tam.

六 三:       含 章 可 貞。 或 從 王 事,無 成 有 終。

象 曰:     含 章 可 貞﹔ 以 時 發 也。 或 從 王 事,知 光 大 也。

Lục tam. Hàm chương khả trinh. Hoặc tòng vương sự. Vô thành hữu chung.

Tượng viết. Hàm chương khả trinh. Dĩ thời phát dã. Hoặc tòng vương sự. Tri quang đại dã.

Dịch:

Dấu che vẻ sáng của mình,

Có tài, mà chẳng lộ hình mới hay.

Việc vua khi gánh vác rồi,

Tuy không tranh việc, làm thời nên công.

Tượng rằng: Giấu sáng mới bền,

Tùy thời, đức độ lộ thêm dần dần.

Khi ra gánh việc vương quân,

Biết đường sáng suốt, cao thâm mới là. 

4. Hào  Lục tứ.

六 四 : 括 囊﹔無 咎,無 譽。

象 曰: 括 囊 無 咎,慎 不 害 也。

Lục tứ. Quát nang. Vô cữu vô dự.

Tượng viết. Quát nang vô cữu. Thận bất hại dã.

Dịch: 

Túi đem thắt lại, lỗi chi,

Lỗi tuy không lỗi, vinh thì không vinh.

Tượng rằng: Thắt túi lỗi chi,

Nếu mà thận trọng, chẳng nguy hại nào.  

5. Hào  Lục ngũ.

六 五 : 黃 裳,元 吉。

象 曰: 黃 裳 元 吉,文 在 中 也。

Lục ngũ. Hoàng thường. Nguyên cát.

Tượng viết. Hoàng thường nguyên cát. Văn tại trung dã.

Dịch: 

Váy vàng thật tốt, thật hay.

Tượng rằng:

Váy vàng thật tốt, thật hay,

Là vì vẻ đẹp ở ngay trong lòng. 

6. Hào  Thượng Lục.

上 六: 龍 戰 於 野,其 血 玄 黃。

象 曰: 龍 戰 於 野,其 道 窮 也。

Thượng Lục. Long chiến vu dã. Kỳ huyết huyền hoàng.

Tượng viết. Long chiến vu dã. Kỳ Đạo cùng dã.

Dịch: 

Ngoài đồng, rồng đánh lộn nhau,

Máu phun chan chứa, pha mầu vàng đen.

Tượng rằng:

Ngoài đồng, rồng đánh lộn nhau,

Là vì vật chất tới cầu cực xương. 

7. Hào  Dụng Lục.

用 六: 利 永 貞。

象 曰: 用 六 永 貞,以 大 終 也。

Dụng Lục. Lợi vĩnh trinh.

Tượng viết. Dụng Lục vĩnh trinh. Dĩ đại chung dã.

Dịch: 

Khí Âm biến hóa xong rồi,

Rồi ra lợi lộc tốt tươi, cửu trường.

Tượng rằng: Vĩnh viễn cửu trường,

Là vì kết cuộc phi thường cao siêu. 

IV. VĂN  NGÔN 

A. VĂN NGÔN bình giải Thoán Từ, Thoán Truyện

文 言 曰:坤 至 柔,而 動 也 剛,至 靜 而 德 方,後 得 主 而 有 常,含 萬 物 而 化 光。坤 道 其 順 乎?承 天 而 時 行。

Văn Ngôn viết. Khôn Chí nhu, nhi động dã cương. Chí tĩnh nhi đức phương. Hậu đắc chủ nhi hữu thường. Hàm vạn vật nhi hóa quang. Khôn Đạo kỳ thuận hồ. Thừa Thiên nhi thời hành.

Dịch: 

Khôn nhu khi động, lại cương

Đức thường chí tĩnh, vắn vuông, chẳng rời.

Theo sau, phụ họa với Trời,

Thế là có chủ, thế thời bền lâu.

Ấp ôm vạn vật trước sau,

Làm cho muôn vật một màu sáng choang.

Đạo Khôn nhu thuận, dịu dàng,

Tùy thời hành sự, chẳng ngang ý Trời.  

B. Văn Ngôn bình giải các Hào

1. Hào  Sơ Lục.

積 善 之 家,必 有 餘 慶;積 不 善 之 家,必 有 餘 殃。臣 弒 其 君,子 弒 其 父,非 一 朝 一 夕 之 故,其 所 由 來 者 漸 矣,由 辯 之 不 早 辯 也。

易 曰:「履 霜 堅 冰 至。」蓋 言 順 也。

Tích thiện chi gia. Tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia. Tất hữu dư ương. Thần thí kỳ quân. Tử thí kỳ phụ. Phi nhất triêu nhất tịch chi cố. Kỳ sở do lai giả tiệm hỹ. Do biện chi bất tảo biện dã.

Dịch viết. Lý sương kiên băng chí. Cái ngôn thuận dã.

Dịch: 

Nhà nào tích thiện sẽ hay,

Nhà nào tích ác sẽ đầy tai ương,

Tôi mà dám giết quân vương,

Con mà giết bố, dễ thường ngay sao?

Việc đâu một sớm, một chiều,

Duyên do tích lũy, bao nhiêu lâu rồi.

Duyên do lần dẫn tới nơi,

Tại mình chẳng sớm phanh phui tỏ tường.

Dịch rằng: Khi bước trên sương,

Hãy phòng băng cứng, thời thường đến sau,

Ý rằng chuyện sẽ nối nhau,

Nếu mình để mặc từ đầu, đến đuôi.

2. Hào  Lục nhị.

直 其 正 也,方 其 義 也。君 子 敬 以 直 內,義 以 方 外,敬 義 立,

而 德 不 孤。「直, 方, 大,不 習 無 不 利」,則 不 疑 其 所 行 也。

Trực kỳ chính dã. Phương kỳ nghĩa dã. Quân tử kính dĩ trực nội. Nghĩa dĩ phương ngoại. Kính nghĩa lập nhi đức bất cô. Trực phương đại. Bất tập vô bất lợi. Tắc bất nghi kỳ sở hành dã.

Dịch: 

Trực là trung chính lẽ Trời,

Phương là lễ nghĩa cơ ngơi bên ngoài.

Đã là quân tử trên đời,

Trong thời kính cẩn, ngoài thời minh công.

Kính nên ngay ngắn được lòng,

Nghĩa nên vuông vức được công việc ngoài.

Kính rồi lại Nghĩa, vẹn hai,

Cho nên nhân đức, ắt thôi vẹn toàn.

Chính trung, lễ nghĩa, cao sang,

Chẳng cần vất vả, vẫn mang lợi nhiều.

Từ đây, lòng sẽ khinh phiêu,

Phóng tâm hoạt động, hết điều nghi nan.

3. Hào  Lục tam. 

陰 雖 有 美,含 之;以 從 王 事,弗 敢 成 也。地 道 也,妻 道 也,臣 道 也。地 道 無 成,而 代 有 終 也。

Âm tuy hữu mỹ hàm chi. Dĩ tòng vương sự. Phất cảm thành dã. Địa Đạo dã. Thê Đạo dã. Thần Đạo dã. Địa Đạo vô thành nhi đại hữu chung dã.

Dịch:

Âm tuy sẵn vẻ đẹp tươi,

Nhưng mà che dấu, chẳng phơi ra ngoài.

Việc vua khi gánh vác rồi,

Chẳng nên tự đắc, mà đòi thành công,

Thay Trời, hành sự tới cùng,

Giúp cho muôn vật, vĩnh chung thái hòa.

 4. Hào  Lục tứ.

天 地 變 化,草 木 蕃;天 地 閉,賢 人 隱。

易 曰:「括 囊 ,無 咎,無 譽。」蓋 言 謹 也。

Thiên địa biến hoá. Thảo mộc phồn. Thiên địa bế. Hiền nhân ẩn.

Dịch viết. Quát nang vô cữu vô dự. Cái ngôn cẩn dã.

Dịch: 

Đất trời biến hóa mới hay,

Làm cho vạn vật, cỏ cây xương phồn.

Đất trời tới vận bế tàng,

Hiền nhân, nên hãy tìm đàng ẩn đi.

Dịch rằng:  Thắt túi lỗi chi

Lỗi tuy không lỗi, vinh thì không vinh,

Hãy nên thận trọng giữ mình,

Biết đường cẩn trọng, âu đành thoát nguy.  

5. Hào  Lục ngũ.

君 子 黃 中 通 理,正 位 居 體,美 在 其 中,而 暢 於 四 支,發 於 事 業,美 之 至 也。

Quân tử hoàng trung thông lý. Chính vị cư thể. Mỹ tại kỳ trung. Nhi sướng ư tứ chi. Phát ư sự nghiệp. Mỹ chi chí dã.

Dịch:

Hiền nhân thông lý Trung hoàng,

Vào nơi chính vị, mà an thân mình.

Đẹp từ tâm khảm, xuất sinh,

Làm cho cơ thể xương vinh, mỹ miều.

Phát ra sự nghiệp cao siêu,

Thực là đẹp đẽ đến điều, còn chi. 

6. Hào  Thượng Lục.

陰 疑 於 陽, 必 戰。 為 其 嫌 於 無 陽 也,故 稱 龍 焉。猶 未 離 其 類 也,故 稱 血 焉。夫 玄 黃 者,天 地 之 雜 也,天 玄 而 地 黃。

Âm nghi ư Dương tất chiến. Vi kỳ hiềm ư vô Dương dã. Cố xưng long yên. Do vị ly kỳ loại dã. Cố xưng huyết yên. Phù huyền hoàng giả. Thiên địa chi tạp dã. Thiên huyền nhi địa hoàng. 

Dịch:

Khi Âm bất tín nơi Dương,

Sẽ sinh chinh chiến, nhiễu nhương, khốn cùng.

Nhưng Dương không thể tuyệt tông,

Cho nên, mới nói rằng rồng giao chinh.

Âm kia biến chửa trọn mình,,

Nên dùng chữ huyết, tỏ rành còn Âm.

Đất trời lộn lạo, nhố nhăng,

Vàng, đen, xáo trộn, đất bằng chông gai.

BÌNH  GIẢNG

Quẻ Khôn thực ra không đến nỗi khó hiểu, khó hiểu chăng là vì có nhiều đoạn đã bị các nhà bình giải làm cho rối lên như canh hẹ.  Nguyên có cách phân câu, mà đã chia thành năm bè, bảy bối. Ví dụ, đối với câu:

Khôn. Nguyên Hanh. Lợi tẫn mã chi trinh.

Trình tử đọc là:  Khôn. Nguyên. Hanh. Lợi. Tẫn mã chi trinh, vì cho rằng Khôn có đủ tứ đức như Kiền.

 Chu Hi đọc là: Khôn. Nguyên. Hanh. Lợi tẫn mã chi trinh, vì cho rằng Khôn phải thua Kiền, không thể đủ tứ đức như Kiền.

 Đến như câu:  Tiên mê hậu đắc. Chủ lợi Tây nam đắc bằng. Đông bắc táng bằng, thì lại càng rắc rối hơn nữa. Trình tử hiểu như sau: Tiên mê hậu đắc. Chủ lợi. Tây nam đắc bằng. Đông bắc táng bằng.

Vương Bật đọc: Quân tử hữu du vãng tiên mê. Hậu đắc chủ lợi.

Lai Trí Đức đọc: Tiên mê hậu đắc chủ. Lợi.

Ngự Án của vua Khang Hi đọc rằng:  Tiên mê hậu đắc chủ. Lợi Tây nam đắc bằng. Đông bắc táng bằng. Ngự Án cho rằng: chính Văn Ngôn cũng đọc là Hậu đắc chủ. Theo Ngự Án, chữ Lợi phải cho về câu sau, và phải hiểu đại khái rằng:  Tây nam được bạn là lợi. Đông Bắc mất bạn là lợi. Nơi đây, chúng ta không đi sâu vào chi tiết các lời bình giải ấy, mà chỉ cố tìm cho ra những đại chỉ của Dịch Kinh nơi quẻ Khôn. 

A. Nhận định đầu tiên của chúng ta như sau:

-Kiền và Khôn là hai chiều, hai mặt của một thực thể, tức là Thái cực. Để hiểu Kiền, Khôn chúng ta xem đồ bản sau:

KiềnKhôn
DươngÂm
96
32
ThầnVật
Tinh thầnVật chất
Nội giới (spiritual world)Ngoại giới (world of the senses)
Tâm chi thần minhNgũ quan bá thể
Đạo TâmNhân tâm
Thánh ĐạoHiền Đạo
Vương ĐạoThần Đạo
PhụTử
PhuPhụ
ThànhKính
NhânNghĩa
XướngHọa
CươngNhu
Quân tửTiểu nhân
Thời gianKhông gian
TrònVuông
ĐạiTiểu

B. Về phương diện Triết học & Siêu hình

Quẻ Khôn chủ trương rằng:

-Đất Trời cộng tác chặt chẽ với nhau, để sinh ra muôn ngàn biến hóa.

-Đất Trời là cặp ngẫu lực Âm Dương, luôn luôn tác động, luôn luôn hỗ trợ nhau, để hoàn thành công trình sinh dục vạn vật.

Kiền là mầm mộng sinh hóa, là tinh thần, là nguồn sống, là sinh khí, là hạt, là nhân .

Khôn là vỏ, là môi trường hoạt động, là hình hài, sắc tướng, là vật chất hữu hình bên ngoài.

Đất Trời trường cửu ngang nhau, cùng nhau góp công trình sinh dục vạn vật, nhưng chính, tùy, đôi đường phân cách. Trời là chủ chốt. Tinh thần là chủ chốt. Đất là tùy thuộc. Xác thân là tùy thuộc. Hoàn cảnh vật chất là tùy thuộc.

Định được lẽ tôn ti như vậy, mới tránh được nhiều điều lầm lỗi, nhiều hung họa tai ương. Dịch kinh bao giờ cũng chủ trương Dương tôn, Âm ti.

Hiểu được lẽ Dương tôn, Âm ti; Dương hơn, Âm kém; tinh thần trọng, vật chất khinh; Kiền Đạo hay Tinh thần làm chủ chốt, Khôn Đạo hay vật chất đóng vai tùy thuộc; ta sẽ hiểu được đại chỉ của Dịch kinh.

Dịch  kinh, tuy biết  lẽ  biến hóa, tồn vong, tiêu tức chi phối cả Âm lẫn Dương, và cơ Trời biến hóa đó không sao tránh khỏi, nhưng bao giờ cũng chủ trương Âm khinh, Dương trọng, và luôn luôn hỗ trợ Dương, kiềm chế Âm. 

Tiên Nho định lẽ khinh trọng ấy bằng hai con số 9 và 6. – Số 9 chỉ Dương ( đơn giản hóa còn 3). -Số 6 chỉ Âm đơn giản hóa còn 2. Vậy Dương cũng còn là 3, mà Âm là 2. Đó là ý nghĩa của mấy chữ Tam Thiên, Lưỡng Địa trong chương I Thuyết Quái.

Trong vòng Dịch Tiên Thiên, Kiền đứng đầu 32 quẻ Dương bên trái, Khôn đứng đầu 32 quẻ Âm bên phải.

Dương ở phía tả, chủ sinh dục, trưởng dưỡng, chủ cương cường, trong sáng, chủ nhân nghĩa, đạo đức. Đó là Đạo người quân tử. Làm cho Đạo Dương, Đạo Kiền (Đạo Quân tử hay Đạo Thánh nhân), phát huy đến cùng cực, sẽ đem lại cho trần thế sự an bình, thịnh trị.

Âm ở phía hữu, chỉ  sự di thương, thảm sát. Âm là Nhu, Tối, Tư tà, Lợi lộc, là Đạo Kẻ Tiểu nhân. Để nó triển dương đến kỳ cùng, nó sẽ phát Sát cơ, sinh ra chiến tranh, tang tóc và muôn vàn tai họa, như Hào Thượng Lục của quẻ Khôn đã ám chỉ. Vì thế Thánh nhân viết Kinh Dịch, lúc nào cũng lo lắng phù trì Dương Đạo, phù trì Đạo người Quân tử, những ước mong cho nó được trở nên cường thịnh, viên mãn.

Ngược lại, lúc nào cũng muốn kiềm chế, bức bách cho Âm Đạo, cho Đạo kẻ Tiểu nhân suy vi, mai một. Nếu chủ trương Âm trọng, Dương khinh sẽ đi đến chỗ chiến tranh, tai ương , tàn khốc.

Ngự Án nơi Hào Sơ Lục quẻ Khôn, cũng bình luận rất sâu sắc về lẽ Âm, Dương. Ngự Án cho rằng:

Nơi con người, thì Dương là Tâm chi thần minh, Âm là ngũ quan bá thể. Trong nhân luân, thì Dương là vua, là cha, là chồng. Âm là bầy tôi, là con, là vợ.

Tâm linh, nhờ có chân tay mới vận động được, vua nhờ có tôi, chồng nhờ có vợ, cha nhờ có con, công việc mới chu toàn. Nơi con người, thì ngũ quan bá thể phải thuận phục tâm linh. Trong xã hội, thì thần tử, thê thiếp phải thuận phục quân phụ, hay phu quyền, như vậy xã hội mới có tôn ti, thể thống. Nếu nơi con người, tứ chi, tai mắt tự do theo sở dục;  nếu trong xã hội, thần tử, thê thiếp tự ý hành sự; nếu nơi nhân thân, mà lý với dục giao tranh; nếu nơi xã hội mà công tư va chạm, thì mầm loạn lạc sẽ phát sinh. Như vậy Ngự Án đã cho ta biết cơ vi thiện ác, trị loạn và những phương cách phòng ngừa. 

C. Quẻ Khôn là đường lối tu thân của một người chưa được minh giác, chưa phối hợp được với Thượng Đế.

Khi chưa được minh giác, tức là khi tâm hồn còn bơ vơ, vô chủ, sống mặc tình theo những phản ứng của tâm tư, những suy luận hẹp hòi của lý trí, nên dĩ nhiên là bị lầm than, mê lạc. Chỉ khi nào, nhận định ra được căn cơ, chủ chốt của lòng mình là Thiên Tính, là Đạo Tâm, thì bấy giờ mới mong được hưởng thụ phúc khánh!

Khi chưa giác ngộ, nên theo đa số mà xử sự, ở ăn; lúc đã nhận định được Thiên địa chi tâm trong lòng mình, thời phải biết siêu quần bạt tụy, sống khinh phiêu, thung dung, tự tại. Được như vậy, mới thật là may mắn, hạnh phúc. (Xem lời Thoán). 

Hào Từ & Tiểu Tượng Truyện

1. Hào  Sơ Lục.

Hào  Sơ Lý Sương mô tả lúc Âm khí vừa thoạt mới manh nha. Tuy nó vừa chớm nở, chớm phát, nhưng đó là điềm quốc phá gia vong sau này. Phải thận trọng, phải ngăn ngừa ngay mới kịp (Lý sương. Kiên băng chí)

2. Hào  Lục nhị. 

Người Quân tử, khi mới bước chân vào con đường Tu thân, Tu Đạo, hãy biết lấy chữ Kính làm đầu. Kính sợ Trời ẩn áo, huyền vi ngay trong tâm khảm mình, chỉnh trang lại tâm thần cho nên hẳn hoi, ngay ngắn. Cải thiện lại đời sống bên ngoài, cố sao cho hành vi, cử chỉ nhất thiết hợp Đạo, hơp nghĩa. Có như vậy mới đi đến chỗ cao đại được (Trực phương đại. Bất tập vô bất lợi)

3. Hào  Lục tam.

Quẻ Khôn cũng dạy Đạo làm thần tử. Người thần tử lo thi hành phận vụ, không ỷ chức, ỷ quyền, không tâng công, không khoe tài, khoe trí, dẫu có tài cũng không phô trương, luôn khiêm cung, kín đáo, tùy thời, tùy thế mà thi thố tài năng để làm tròn phận vụ (Hàm chương khả trinh. Hoặc tòng vương sự. Vô thành hữu chung.)

4. Hào  Lục tứ.

Gặp khi thời cuộc đảo điên, gặp khi người trên sinh lòng ngờ vực, thời lại càng phải biết im hơi lặng tiếng, minh triết bảo thân. Thế mới là Quát nang vô cữu.

5. Hào  Lục ngũ.

Hơn nữa, mục đích tu thân của người quân tử, là đạt tới Thiên vị, tức Trung Điểm, hay Lý Trung Hoàng. Nhận thức được bản tính cao sang của mình, thực hiện được định mệnh sang cả của mình, lồng được Trời vào trong Tâm mình, để cho vẻ đẹp đẽ của Trời chói rọi ra nơi châu thân mình, tỏa lan ra sự nghiệp của mình. Thế mới là đắc Đạo (Hoàng thường. Nguyên cát).  

6. Hào  Thượng Lục.

Ngoài ra, quẻ Khôn còn như muốn tiên tri, tiên đoán một thời đại mà vật chất hoàn toàn làm chủ, đa số làm chủ, phân ly, gián cách làm chủ. Khi ấy nhân loại sẽ sống một thời kỳ nhiễu nhương, máu lửa ngập trời. Dịch kinh đã đề cập đến thời đại ấy bằng mấy chữ Long chiến vu dã. Kỳ huyết huyền hoàng.

*Nếu thời Kiền là thời hoàng kim mai hậu, là thời thái bình lúc chung cuộc; thì thời Khôn là thời sắt thép, lúc muôn sự còn dở dang, nửa đời, nửa đoạn. Đó là thời mạt kiếp, mạt pháp, mà các Đạo giáo thường nhắc nhở tới. Nhưng đối với Dịch, tuy thời Khôn là thời nhiễu nhương máu lửa, nhưng không phải vì thế mà lịch sử nhân quần sẽ cáo chung, Vật cùng tắc biến, biến tắc thông. Sau thời kỳ đen tối ấy, nhân loại sẽ quay trở về với các giá trị tinh thần, mọi sự rồi ra sẽ trở nên tốt, nên hay. Cho nên Hào  Dụng Lục nói thêm:

Khí Âm biến hóa xong rồi,

Rồi ra lợi lộc tốt tươi, Cửu trường.

Tượng rằng: Vĩnh viễn, Cửu trường,

Là vì kết cuộc phi thường cao siêu.

ÁP DỤNG QUẺ KIỀN VÀO THỜI ĐẠI

Quẻ Khôn dạy chúng ta phải luôn gia ý đề phòng, đừng để nước đến chân mới nhẩy, phải biết nhìn xa, trông rộng, biết lo lường, ngăn chặn ngay từ lúc hung họa mới manh nha. Nếu chúng ta biết đề phòng, biết ngăn ngừa căn cơ hung họa từ khi mới nứt nanh sơ khởi, thì làm sao chúng ta có thể lâm cảnh thân tàn, ma dại, nước mất, nhà tan. Một mặt khác, nếu chúng ta biết tích đức, tu thân, gặp điều lành dẫu là nhỏ mấy, cũng tha thiết mà làm, mà gom, mà góp, cứ như thế thì lo chi không được phúc khánh miên trường. Trong Thái Thượng Cảm ứng thiên có câu:  Hoạ phúc vô môn duy nhân tự chiêu (Họa phúc không cửa ngõ, do người tự chiêu lai), cũng không ngoài ý đó. Tóm lại, quẻ Khôn dạy ta lẽ Xướng tùy, hòa hợp: nhân tâm phải biết tùy thuộc Đạo tâm, Người phải biết tùy thuộc Trời; người dưới tùy thuộc người trên; vợ tùy thuộc chồng. Tùy thuộc đây phải được hiểu theo lẽ xướng họa hô ứng, một bên khởi xướng, một bên thi hành, chung lưng góp sức, cùng nhau đắp xây đại cuộc.

Chương 4: Quẻ THUẦN CÀN
Chương 6: Quẻ THỦY LÔI TRUÂN
Chia Sẻ Bài Viết