Chương 50: Quẻ TRẠCH THỦY KHỐN

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ TRẠCH THỦY KHỐN

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

:|:||: Trạch Thủy Khốn (困 kùn)

Quẻ Trạch Thủy Khốn, đồ hình :|:||: còn gọi là quẻ Khốn (困 kun4), là quẻ thứ 47 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm hay Nước (水).

* Ngoại quái là ☱ (||: 兌 dui4) Đoài hay Đầm (澤).

Giải nghĩa: Nguy dã. Nguy lo. Cùng quẫn, bị người làm ác, lo lắng, cùng khổ, mệt mỏi, nguy cấp, lo hiểm nạn. Thủ kỷ đãi thời chi tượng: tượng giữ mình đợi thời.

Lên cao mãi thì có lúc sẽ té mà khốn, cho nên sau quẻ Thăng tới quẻ Khốn.

Thoán từ

困: 亨, 貞, 大人吉, 无咎. 有言不信.

Khốn: Hanh, Trinh, đại nhân cát, vô cữu. Hữu ngôn bất thân (chữ [nhân đứng kế ngôn 信] ở đây dùng như chữ [伸]

Dịch: Khốn: Hanh thông. Chính đính như bậc đại nhân (có đức) thì tốt, không lỗi. Dù nói gì cũng không bày tỏ được lòng mình (không ai nghe mình)

Giảng: Quẻ Khảm là dương ở cuối, quẻ đoài là âm ở trên , dương cương (quân tử) bị âm nhu (tiểu nhân) che lấp, cho nên gọi là Khốn.

Lại thêm: nội quái một hào dương bị kẹt giữa hai hào âm; ngoại quái hai hào dương ở dưới một hào âm, cùng là cái tượng quân tử bị tiểu nhân làm khốn.

Một cách giảng nữa: Chằm (Đoài) ở trên mà Khảm (nước) ở dưới, nước trong chằm chảy xuống dưới, tiết mất hết, chằm sẽ khô, thành ra cái tượng Khốn.

Tuy nhiên, Khảm là hiểm, đoài là hoà duyệt, vậy tuy gặp hiểm mà vẫn vui vẻ hanh thông. Hanh thông chỉ là đối với bậc đại nhân, có đức cương, trung, giữ đạo chính thôi; vì hạng người đó càng gặp cảnh khốn, tài càng được luyện; đức càng được trau, chí càng vững dù có phải hy sinh tính mệnh để thỏa chí nguyện cũng không ngại, thân tuy khốn mà vẫn vui vẻ, đạo của họ vẫn hanh thông, cho nên Hào từ cho là tốt, không có lỗi.

Ở vào thời Khốn, chỉ có cường quyền, không có công lý, nên đừng nói gì cả, càng nói chỉ càng thêm vạ miệng, không biện bạch được gì đâu. Đây là lời khuyên chung, còn bậc quân tử có thể “sát thân dĩ thành nhân” thì lại khác.

Hào từ

1. 初六: 臀困于株木, 入于幽谷, 三歲不覿.

Sơ lục: Đồn khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất dịch.

Dịch: Hào 1, âm: Bàn toạ bị khốn ở gốc cây, lại sụp vào trong hang tối, ba năm không thấy ai.

Giảng: Hào này ở đầu quẻ Khốn, âm nhu, mê muội; hào 3 , dương ứng với nó, bất trung bất chính không giúp gì được nó; như một người ngồi trên cây trụi trồi gốc ra (ý nói ở hào đầu, thấp nhất), rồi lại sụp vào hang tối (hào này âm, nhu mê muội) mà không thấy ai lại cứu (ai đây trỏ hào 4).

2. 九二: 困于酒食, 朱紱方來.利用享祀, 征凶, 无咎.

Cửu nhị: Khốn vu tửu thực, chu phất lai.

Lợi dụng hưởng tự, chinh hung, vô cữu.

Dịch: Hào này dương cương, đắc trung, đáng lẽ tốt, nhưng ở thời Khốn thì cũng vẫn bị khốn vì ăn uống, do ơn vua lộc nước; được ở trên ứng hợp lại nhờ giúp (ở đây tượng trưng bằng việc đem cái “phất” đỏ, một bộ phận lễ phục để che đầu gối); nên đem lòng tinh thành để tế thần linh mà xử sự trong thời khốn này; nếu cứ tiến hành thì không gặp thời xấu; giữ đạo thì không có lỗi.

3. 六三: 困于石, 據于蒺蔾, 入于其宮, 不見其妻, 凶.

Lục tam: Khốn vu thạch, cứ vu tật lê, nhập vu kì cung, bất kiến kì thê, hung.

Dịch: Hào 3, âm: như người bị khốn vì đá, mà lại dựa vào cây tật lê, vô nhà thì không thấy vợ, xấu.

Giảng: Hào này bất trung ,bất chính, âm nhu ở vào thời khốn, ở trên cùng nội quái là Khảm, tức ở cảnh cực hiểm, tấn thoái đều không được nên ví với người bị đá dằn ở trên (tức hào 4) mà lại dựa vào một loại cây có gai (tật lê – tức hào 2) , vô nhà lại không thấy vợ (tức hào trên cùng cũng âm nhu, không giúp 3 được gì). Rất xấu.

Theo Hệ từ truyện Chương v, Khổng tử thích nghĩa thêm như sau:

“Không phải chỗ đáng bị khốn mà mình bị khốn thì danh ắt bị nhục, không phải chỗ đáng dựa mà mình dựa vào thì thân tất bị nguy; đã bị nhục lại bị nguy thì sắp chết tơi nơi rồi, còn thấy sao được vợ nữa?”

4. 九四: 來徐徐, 困于金車, 吝, 有終.

Cửu tứ: Lai từ từ, Khốn vu kim xa, lận, hữu chung.

Dịch: Hào 4, dương : (Bạn mình) lại chậm vì bị cỗ xe bằng kim khí chặn (khốn) có điều ân hận, nhưng được trọn vẹn về sau.

Giảng: Hào này dương cương, nhưng bất trung, bất chính, ở vào Khốn, trong vào hào 1 (ứng với nó) tới giúp; nhưng 1 không tới mau được vì bị hào 2 chặn ở giữa (hào 2 này ví với cỗ xe bằng kim khí, có lẽ vì 2 dương cương, mà kim khí là chất cứng chăng cho nên có điều đáng ân hận, xấu hổ; nhưng cuối cùng vẫn liên hợp được với I vì hai bên đều dốc lòng ứng với nhau (4 là dương, 1 là âm)

5. 九五: 劓刖, 困于赤紱.乃徐有說, 利用祭祀.

Cửu ngũ: tị nguyệt, khốn vu xích phất,

Nãi từ hữu duyệt, lợi dụng tế tự.

Dịch: Hào 5, dương: Bị xẻo mũi, cắt chân, khốn vì cái “phất” đỏ; thủng thẳng sẽ vui, nên dùng lòng chí thành lúc cúng tế (mà xử vào thời Khốn).

Giảng: Hào dương ở vị chí tôn, có tài đức, nhưng ở vào thời Khốn, người chung quanh mình và ở dưới mìmh đều bị khốn cả, lại thêm hào trên cùng là âm muốn dè ép quanh mình, hào 4 dương cương ở dưới tình làm hại mình, ngay đến hào 2 đã đem cái “phất” đỏ cho nó, nhờ nó giúp, nó cũng chỉ làm cho mình thêm khốn’ như vậy mình không khác gì kẻ bị thương ở mũi (xẻo mũi), ở chân (cắt chân); nhưng 5 và 2 cùng có đức cương trung thì rồi sẽ hợp với nhau, cứ chí thành thì sẽ hanh thông, vui.

6. 上六: 困于葛藟, 于臲卼.曰: 動悔, 有悔, 征吉.

Thượng lục: Khốn vu cát lũy, vu niết ngột.

Viết động hối, hữu hối, chinh cát.

Dịch: Hào trên cùng ,âm: Bị khốn vì dây sắn dây leo, khập khễnh, gập ghềnh; tự hỏi rằng; hoạt động thì ân hận chăng? Biết suy nghĩ như vậy thì hành động sẽ tốt.

Giảng: Hào này ở cuối thời Khốn, như người bị buộc chằng chịt trong đám dây sắn dây leo mà lại đi đứng trong chỗ khập khễnh, gập ghềnh; nhưng khốn tới cùng cực rồi thì sẽ thông, cho nên nếu thận trọng, biết ăn năn thì sẽ tốt.

So sánh ba quẻ Truân, Kiển, Khốn.

Quẻ Truân là đầu thời khó khăn, còn có thể hành động chút ít để cứu vãn thời thế được. Quẻ Kiển là giữa thời có khó khăn, nên chờ thời, không làm gì hết, hoặc có vì bổn phận mà làm thì cũng khó có kết quả.

Tới Quẻ Khốn, thời khó khăn lên tới tột điểm, 5 hào xấu (Khốn, lận) chỉ có hào cuối cùng mới tốt, đành phải chờ thời, giữ đức trung, chính, lòng chí thành mới qua được cơn khốn.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

47.      TRẠCH THỦY KHỐN  

Khốn Tự Quái  序 卦
Thăng nhi bất dĩ tất Khốn.升 而 不 以 必 困
Cố thụ chi dĩ Khốn.故 受 之 以 困.

Khốn Tự Quái

Lên cao cao mãi, đành rằng tai ương,

Cho nên Khốn tả nhiễu nhương… 

Tiếp sau quẻ Thăng, là quẻ Khốn. Tại sao gọi bằng Khốn?  Theo Tự Quái thì Thăng quá sẽ bị khốn. Chữ Khốn có chữ Mộc  nằm  trong bộ Vi. Đó là 1 cây bị tù túng không vươn lên được.

Quẻ Khốn trên có Đoài, dưới có Khảm. Nơi quẻ Đoài, thì 1 Hào Âm khuất lấp 2 Hào Dương, nơi quẻ Khảm thì hai Hào Âm chèn ép một  Hào Dương ở giữa. Vì thế nên gọi bằng Khốn. Khốn tức là Quân tử bị tiểu nhân đè nén, khuất lấp. 

I. Thoán.

Thoán từ.

困 . 亨 . 貞 . 大 人 吉 . 無 咎 . 有 言 不 信 .

Khốn. Hanh. Trinh. Đại nhân cát. Vô cữu. Hữu ngôn bất tín.

Dịch.

Khốn cùng, nhưng vẫn hanh thông,

Trung trinh, quân tử khốn cùng vẫn hay.

Khốn cùng, mà vẫn thẳng ngay,

Tuyệt nhiên không có đơn sai, lỗi lầm.

Gặp thời điên đảo phong trần.

Hãy nên kín miệng, nói năng ích gì.

Thoán từ: Khốn là khốn đốn. Khốn đốn trước mắt phàm phu, thời là cùng cực lao lung, nhưng trước mắt Thánh hiền, thì khốn vẫn mang lại sự hanh thông. Thật vậy, thân tuy khốn, nhưng phẩm giá vẫn vẹn toàn. Đạo vẫn cao, đức vẫn trọng,  vẫn  để được tiếng thơm muôn thuở, đó là trường hợp Nguyễn Tri Phương, Võ Tánh vv…

Khốn mà vẫn Hanh, vì sự khốn khổ là một phương tiện để đào luyện tâm thần một cách hữu hiệu. Mạnh Tử viết: Hễ trời định phó thác trách nhiệm lớn lao cho người nào, trước hết làm cho người ấy phải khổ não tâm trí, lao nhọc gân cốt, đói khát, cầu bơ cầu bất, nghèo nàn, thiếu hụt trước sau, và làm cho rối loạn điên đảo các cuộc hành vi của người ấy. Như vậy đặng phát động lương tâm của người, kiên nhẫn tính tình của người, và gia tăng tài đức còn khiếm khuyết của người.

Thế thường, người ta trước có lầm lỗi, rồi sau mới có thể sửa đổi. Trước có khốn đốn, nơi tâm tư hoạnh nghịch mới mưu lự, rồi sau mới hưng thịnh(Mạnh Tử Cáo Tử Chương cú hạ, 15). Tuy nhiên, chỉ có người quân tử khi gặp lúc cùng khốn, mới giữ được tròn khí tiết, mới xử sự đường hoàng, không ai chê trách được, còn tiểu nhân ắt là không như vậy. Thoán Từ nói: Trinh. Đại nhân cát. Cũng y như Luận ngữ nói: Quân tử cố cùng, tiểu nhân  cùng tư lạm hỹ (Luận Ngữ XV, 1). Lúc cùng khốn, lúc thất thế, mình có nói gì cũng chẳng ai tin mình (Hữu ngôn bất tín). Như vậy, thà kín tiếng, xẻn lời thì hơn. 

Thoán Truyện.

Thoán viết: 

彖 曰 . 困 . 剛 掩 也 . 險 以 說 . 困 而 不 失 其 所 . 亨 . 其 唯 君 子 乎 ?  貞 大 人 吉 . 以 剛 中 也 . 有 言 不 信 . 尚 口 乃 窮 也 . 

Khốn. Cương yểm dã. Hiểm nhi duyệt. Khốn nhi bất thất kỳ sở hanh.

Kỳ duy quân tử hồ. Trinh đại nhân cát. Dĩ cương trung dã.

Hữu ngôn bất tín. Thượng khẩu nãi cùng dã.

Dịch.

Khốn là cứng bị mềm che,

Tuy trong gian hiểm, thỏa thuê khác nào.

Khốn cùng, mà vẫn thanh tao,

Trừ phi quân tử, nhẽ nào hanh thông.

Khốn cùng, mà vẫn trinh trung,

Phải là quân tử, mới mong tốt lành.

Gặp thời cùng khốn, điêu linh,

Sắt son, trung chính, thế tình mấy ai?

Chẳng nên cả tiếng, lắm lời,

Bạ mồm, có thể họa tai khôn cùng.  

Thoán Truyện trước hết giải thích chữ Khốn, và cho rằng khốn là Dương cương bị khuất lấp. Dương cương là ánh sáng, là người quân tử, cũng y như nói ánh sáng bị che khuất, quân tử bị tiểu nhân đàn áp, bưng bít. (Khốn cương yểm dã). Gặp hiểm nguy, mà vẫn yên vui, vẫn giữ lòng an bình, thanh thản, thì chỉ có người quân tử mới làm được như vậy (Hiểm nhi duyệt. Khốn nhi bất thất kỳ sở hanh. Kỳ duy quân tử hồ). Đó là trường hợp đức Khổng bị vây 5,7 ngày ở Trần, Thái mà vẫn đàn ca, (Sử ký Tư Mã Thiên, Khổng tử thế gia), hoặc Nhan Hồi sống trong ngõ hẹp với 1 giỏ cơm, 1 bầu nước mà vẫn lấy làm ung dung, sung sướng (Luận Ngữ, VI, 9).

Người  quân  tử,  gặp  cảnh khốn cùng, vẫn giữ được lòng minh chính, vẫn giữ được lòng sắt son, như vậy mới hay (Trinh. Đại nhân cát). Họ tuy gặp cảnh khốn cùng, vẫn là đại nhân. Diogène,  sống trong ống cống,  với chiếc bát để ăn uống; được vua Alexandre đến thăm, ông xin vua một ân huệ là đứng lui ra, đừng lấp ánh mặt trời của ông.

Gặp nguy hiểm, khốn cùng, có nói cũng chẳng ai tin, nên dẫu có khua múa cũng chỉ chuốc lấy hoạ hại. Tiết Nhân Quí bị Lý Đạo Tông, là em vua Đường Thái Tôn bày mưu hại. Lý Đạo Tông giả chiếu chỉ triệu Tiết Nhân Quí về trào, mời về dinh dự tiệc, chuốc  rượu  mê cho say, và vu cho rằng định hãm hiếp và cố sát Quận Chúa. Đường Thái Tông nổi giận đòi chém, mà có đợi cho Tiết Nhân Quí biện bạch được lời nào đâu. 

II. Đại Tượng Truyện

象 曰 . 澤 無 水 . 困 . 君 子 以 致 命 遂 志 .

Tượng viết:

Trạch vô thủy. Khốn. Quân tử dĩ trí mệnh toại chí.

Dịch. Tượng viết:

Khốn là nước rút khỏi chầm,

Khốn cùng, quân tử xả thân vẹn nghì. 

Hồ mà không có nước, thì cá lấy đâu mà sống, người lấy nước đâu mà dùng nên ắt khốn. Người quân tử suy ra rằng, lúc cùng khốn phải biết coi thường sinh mạng, để bảo tồn đạo nghĩa (Quân tử dĩ trí mệnh toại chí). Trình tử cho rằng: Gặp nguy mà biết đó là Mệnh Trời, thời sẽ bình tĩnh tự thủ, không đến nỗi xao xuyến tâm thần, còn không thời sẽ mất tinh thần, và sẽ mắc kẹt trong tai ách. Giải như vậy cũng hay. 

III. Hào từ & Tiểu Tượng Truyện

1. Hào Sơ Lục.

初 六 .      臀 困 于 株木 . 入 于幽 谷 . 三 歲 不  .

象 曰 .      入 于 幽 谷 . 幽 不 明 也 .

Sơ Lục. 

Đồn khốn vu chu mộc. Nhập vu u cốc. Tam tuế bất địch.

Tượng viết:

Nhập vu u cốc. U bất minh dã.

Dịch.

Mông trần, gốc trụi ngồi nhằm,

Vào trong hang tối ba năm thấy gì?

Tượng rằng: Hang tối đi vào,

Thế là dốt nát, chứ nào thông minh.

Hào Sơ Lục tượng trưng một người mắc khốn, mới đầu không hiểu vì đâu mà có tai bay, vạ gió như vậy, thực là như ngồi phải chông, phải cọc (Đồn khốn vu chu mộc), như lạc vào hang sâu (Nhập vu u cốc), đến 3 năm, mà cũng chẳng thấy được nẻo ra, chẳng thấy được người cứu (Tam tuế bất địch). Đó là trường hợp Tiết Nhân Quí bị Lý đạo Tông hãm hại như đã nói trên, và phải giam cầm nơi thiên lao 3 năm tròn. (Nhập vu u cốc). Nhiều khi mình mắc hoạ hoạn, chính là vì mình không sáng suốt (U bất minh dã).

2. Hào Cửu nhị. 

九 二 .      困 于 酒 食 . 朱 紱 方 來 . 利 用 亨 祀 . 征 凶 . 無 咎 .

象 曰 .      困 于 酒 食 . 中 有 慶 也

Cửu nhị:

Khốn vu tửu thực. Chu phất phương lai. Lợi dụng hưởng tự. Chinh hung. Vô cữu.

Tượng viết: 

Khốn vu tửu thực. Trung hữu khánh dã.

Dịch.

Ngoài tuy ăn uống, rượu chè,

Nhưng mà lòng vẫn ủ ê, buồn phiền.

Rồi ra vua sẽ lưu liên,

Rồi ra tất đỏ có phen gặp mình,

Lòng thành cảm động thần minh,

Nhưng đừng vội vã tiến hành việc chi.

Vội làm hung họa có khi,

Mình làm, mình chịu, kêu gì được ai.

Tượng rằng:

Rượu chè, mà vẫn khốn nàn,

Một lòng trung liệt, chứa chan phước lành.

Hào Cửu nhị tượng trưng là 1 bậc công thần, tuy bên ngoài vẫn sống trong nhung lụa, vẫn ăn sung, mặc sướng, nhưng không vì thế mà vui được, trái lại nhiều khi vẫn buồn khổ (Khốn vu tửu thực). Buồn khổ, có khi vì vận nước điêu linh, nhân dân đồ thán, có khi vì thù nhà chưa báo. Những người như vậy, rồi ra sẽ được quân vương cố cập (Chu phất phương lai). (Chu phất là mảnh vải điều bao đầu gối của vua chúa). Trong khi chờ đợi, hãy tâm thành van vái thần minh (Lợi dụng hưởng tự). Nếu vội vàng hành động, sẽ mang họa và không đổ lỗi cho ai được (Chinh hung vô cữu). Ví như Ngũ Tử Tư dẫu là mưu thần của Hạp Lư, nhưng bao lâu chưa đem quân về phá Sở được, để báo thù cho cha là Ngũ Xa, thì lòng vẫn rầu rĩ, khôn khuây. Thế là Khốn vu tửu thực. Sau này, Hạp Lư cũng phải chiều ý, mà cất quân đánh Sở, giúp cho Ngũ Tử Tư báo thù. Thế là Chu phất phương lai. Tuy nhiên, từ lúc lập chí báo thù, cho đến khi thực hiện được chí hướng ấy, cần 1 thời gian dài, nếu làm vội vã sẽ thất bại. Thế là Vãng hung vô cữu.

Tượng Truyện bình rằng: Cơm rượu ê hề, mà vẫn thấy lòng đau đớn, những người có lòng thành như vậy sẽ cảm động được đất trời, nên rồi ra cũng sẽ được phúc khánh (Khốn vu tửu thực. Trung hữu khánh dã).

3. Hào Lục tam.

六 三 .      困 于 石 . 據 于 蒺 藜 . 入 于 其 宮 . 不 見 其 妻 . 凶 .

象 曰 .      據 于 蒺 藜 . 乘 剛 也 . 入 于 其 宮 . 不 見 其 妻 . 不 祥 也 .

Lục tam. 

Khốn vu thạch. Cứ vu tật lê. Nhập vu kỳ cung. Bất kiến kỳ thê. Hung.

Tượng viết: 

Cứ vu tật lê. Thừa cương dã. Nhập vu kỳ cung. Bất kiến kỳ thê.

Bất tường dã.

Dịch.

Những là vấp đá, chạm gai,

Khốn sao khốn khổ, tơi bời tấm thân.

Về nhà thời vợ biệt tăm,

Tứ bề quạnh quẽ, thập phần hung tai.

Tượng rằng: Dựa phải bụi gai,

Mình nhu, mà dám cưỡi chòi trên cương,

Về nhà vợ biệt hà phương,

Thế là gặp chuyện bất tường còn chi. 

Hào Lục tam tượng trưng một người Âm nhu chi tài, lại bất trung, bất chính. Gặp lúc cùng khốn, đã không có tài, mà lại làm liều, thì làm sao thoát nạn. Muốn tiến lên, thì Cửu tứ, Cửu ngũ như đá ngăn trước mặt (Khốn vu thạch). Muốn lùi, mà sau có Cửu nhị, như gai đâm sau lưng (Cứ vu tật lê), lại trên không ứng với Thượng Lục, có khác nào người gặp nguy khốn đã tiến thoái, lưỡng nan; mà tìm về nhà thì vợ đã biệt tăm tích (Nhập vu kỳ cung. Bất kiến kỳ thê), như vậy thì dĩ nhiên là hung hoạ rồi. Tượng Truyện bình rằng: Phàm Nhu mà cưỡi lên Cương, phàm những người bất tài, bất tướng mà chèo đèo, đòi ăn trên, ngồi chốc người anh tài, thế là dựa vào gai, đạp vào gai vậy (Cứ vu tật lê. Thừa cương dã). Thân đã bất an, mà còn đạp gai, đạp góc, thế là bất tường vậy, y như về nhà mà không thấy vợ (Nhập vu kỳ cung. bất kiến kỳ thê. Bất tường dã).

4. Hào Cửu tứ.

九 四 .       來 徐 徐 . 困 于 金 車 . 吝 . 有 終 .

象 曰 .       來 徐 徐 . 志 在 下 也 . 雖 不 當 位 . 有 與 也 .

Cửu tứ.

Lai từ từ. Khốn vu kim xa. Lận. Hữu chung.

Tượng viết:

Lai từ từ. Chí tại hạ dã. Tuy bất đáng vị. Hữu dữ dã.

Dịch.

Tới nhưng chậm chạp, dùng dằng.

Muốn đi, khốn nổi xe ngăn mất đường.

Tuy là đáng phải phàn nàn,

Cuối cùng âu cũng sẽ làm nên công.

Tượng rằng:

Tới nhưng chậm chạp, dùng dằng,

Xót tình kẻ dưới, dạ hằng vấn vương.

Tuy là ngôi vị dở dang,

Nhưng mà vẫn kẻ lo toan cùng mình.

Hào Cửu tứ: Nhiều khi thấy những người chân tay mình mắc nàn, mà muốn giúp cũng khó lòng, phải tuần tự nhi tiến (Lai từ từ), phải tránh né cho khỏi vấp váp sự chống đối của đối phương (Khốn vu kim xa), tuy làm vậy cũng đáng hổ ngươi, nhưng không đáng trách (Lận. Hữu chung). Cửu tứ muốn cứu Sơ Lục, mà phải đi chầm chậm (Lai từ từ). Khốn vu kim xa là bị Cửu nhị như chiếc xe sắt cản trở.

Y như bè bạn Tiết Nhân Quý, có Trình Giảo Kim, Uất Trì Cung, Từ Mậu Công từng làm quan lớn trong triều, mà muốn cứu Tiết Nhân Quí khỏi tội,  khỏi bị hại cũng mất mấy năm trời.

Tượng Truyện bình rằng: Tuy là hoạt động chậm chạp, nhưng mà ý chí vẫn gởi gấm nơi người dưới (Lai từ từ. Chí tại hạ dã). Tuy rằng ngôi vị không được chính đáng, nhưng sau cùng cũng vẫn tới được mà cứu vớt được Sơ (Tuy bất đáng vị. Hữu dữ dã).

5. Hào Cửu ngũ.

九 五 .      劓 刖 . 困 于 赤 紱 . 乃 徐 有 說 . 利 用 祭 祀 .

象 曰 .      劓 刖 . 志 未 得 也 . 乃 徐 有 說 . 以 中 直 也 .

                利 用 祭 祀 . 受 福 也 .

Cửu ngũ. 

Tị nguyệt. Khốn vu xích phất. Nãi từ hữu duyệt. Lợi dụng tế tự.

Tượng viết:

Tị nguyệt. Chí vị đắc dã. Nãi từ hữu duyệt. Dĩ trung trực dã.

Lợi dụng tế tự. Thụ phúc dã.

Dịch.

Ra uy cắt mũi, chặt chân.

Quân thần xui khiến, ra thân khốn nàn.

Từ từ, lòng sẽ rảnh rang,

Hãy nên tế lễ, vái van ơn trời.

Tượng rằng:

Ra uy cắt mũi, chặt chân.

Ý nguyền chưa được thập phần thỏa thuê.

Từ từ âu sẽ đẹp bề,

Một niềm trung trực, lo gì chẳng hay.

Tế thần sẽ được phúc dầy,

Chân thành cầu đảo, tràn đầy ơn trên.

Hào Cửu ngũ:  có nhiều cách bình giải:

Trình tử giải đại khái rằng:  Bậc quân vương mà bị khốn, là vì trên, dưới đều bỏ mình  (Tị nguyệt: Tị là bị thương ở mũi, ở trên: Nguyệt là bị thương ở chân, ở dưới; trên dưới đều bị thương. Bậc quân vương mà bị khốn là vì thiên hạ bỏ mình (Khốn vu xích phất). Tuy nhiên Cửu ngũ đồng đức với cửu nhị, rồi ra sẽ được Cửu nhị cứu khốn phò nguy. Phàm Quân vương bị khốn, phải lo  cầu hiền tài, với tất cả lòng thành như là tế tự thần minh vậy, âu sẽ gặp may lành (Nãi từ hữu duyệt. Lợi dụng tế tự)

Lai Trí Đức giải đại khái như sau:

Tị nguyệt là vua bị khốn.

Khốn vu xích phất là tôi bị khốn.

Nãi từ hữu duyệt là rồi ra cũng sẽ thoát nạn.  

Lợi dụng tế tự là thành khẩn cầu xin sẽ được phúc.

Dưới đây xin dẫn sự tích lịch sử, để giúp ta hiểu rõ Hào này: Vua Tống Thái Tổ đi chinh phạt Nam Đường, bị yêu đạo Dư Hồng vây khốn tại thành Thọ Châu, bị bắt mất 12 tướng, lại gần hết lương thực. Vua rưng rưng nước mắt mà than rằng: Binh tướng bị vây, vua rầu, tôi nhục, uổng công xây dựng 18 năm trời, lại nỗi mẹ già buồn bực đêm ngày, 80 tuổi trông con dựa cửa. Nói tới đó, cầm lòng không đậu, lụy ngọc chan hòa. Miêu Quang Vũ và bá quan xúm nhau lại khuyên giải. Miêu Quang Vũ khuyên vua nên đặt hương án, cầu trời, khấn phật, họa may trời phật sai thần tiên xuống trừ nó mới xong. Đêm ấy vua tôi ăn chay, tắm gội, mặc đồ mới, đồng quì trước hương án mà cầu trời…Hứa nếu thoát nạn, khi về nước rồi, sẽ giảm thuế, tha tù, làm phúc mà chuộc tội. Rạng sáng, trời sai Phi thử đem tha vào  kho cho vua ba mươi vạn hộc lúa, và mấy ngày sau Hoàng Thạch Công sai Trịnh Ân xuống phá vòng vây để đi cầu viện cho vua.

6. Hào Thượng Lục.

上 六 . 困 于 葛  . 于  . 曰 動 悔 . 有 悔 .  征 吉 .

象 曰. 困 于 葛. 未 當 也 . 動 悔 . 有 悔  . 吉  行 也 .

Thượng Lục.

Khốn vu cát lũy. Vu nghiệt ngột. Viết động hối. Hữu hối . Chinh cát.

Tượng viết: 

Khốn vu cát lũy. Vị đáng dã. Động hối hữu hối. Cát hành dã.

Dịch.

Sắn bìm quấn quít, nhiễu nhương,

Khó bề dở dói, nên vương khốn nàn.

Khốn nàn mà biết lo toan,

Lỗi lầm mà biết phàn nàn thời hay.

Tượng rằng:

Sắn bìm quấn quít, vấn vương,

Hãy còn khốn đốn, chưa đường thoát ra.

Tránh điều ân hận, phiền hà.

Liệu cơ thoát khốn, mới là mắn may.

Hào Thượng Lục: Lúc này, là thời khốn đã tới cùng, cùng tất biến. Tuy nhiên Thượng Lục còn bị khốn khó như dây dợ sắn bìm, vướng mắc chưa thoát được (Khốn vu cát lũy), hoạt động còn có mòi nguy hiểm lắm (Vu nghiệt ngột). Nhưng nếu biết tự nhủ rằng: Hoạt động sẽ gặp điều đáng phàn nàn (Viết động hối). Nếu làm sai, mà biết phàn nàn, sang sửa (Hữu hối), được như vậy mà tiến hành công chuyện, sẽ thoát khốn (Chinh cát).

Tượng viết:  Khốn vu cát lũy. Vị đáng dã. Động hối. Hữu hối. Cát hành dã. Bị khốn khó buộc ràng, chưa biến đổi hoàn cảnh, thế là chưa biết xử sự cho hay, hành động cho khéo (Khốn vu cát lũy. Vị đáng dã). Biết lo trước những trắc trở khi hoạt động, làm sai biết hối quá, như vậy có thể thoát khốn, thế là tiến hành sẽ gặp may (Động hối. Hữu hối. Cát hành dã). 

ÁP DỤNG QUẺ KHỐN VÀO THỜI ĐẠI

Nhìn vào đời sống xã hội, nhân quần, ta thấy xưa nay không biết là bao người đã bị giông tố xã hội, gia đình, thời gian, hoàn cảnh cuốn lôi, đã lâm vào những cảnh cùng khốn hết sức.

Cách đây 50 năm, ở Đức, Hitler đã ra lệnh thiêu sống 6 triệu người Do Thái, mà Thế giới chịu không can thiệp nổi.

Lại gần đây, ở Việt Nam, biết bao người đi vượt biên đã bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp, giết chóc khiến gia đình ly tán, người còn, người chết, tình cảnh thật thê lương.

Xưa kia, biết bao công thần đã bị nhà vua cố tình giết chết, hoặc bị đồng liêu giá họa và đã đi đến chỗ tử vong. Họ tỏ ra ung dung, thư thái trước cái chết, như Nhạc Phi,vv…

Dịch kinh, khuyên ta nếu gặp hoàn cảnh trên, phải bình tĩnh mà tìm cách thoát khỏi cảnh  nguy khốn đó.

Theo tôi (tác giả viết bài này), nếu dân Do Thái lúc ấy cùng đoàn kết nổi lên chống lại, thì làm sao Đức quốc xã thiêu sống nổi 6 triệu người. Nếu trước khi vượt biên, mà ta hoạch định sẵn chương trình, tất cả đều mang gậy gộc, hoặc dấu vài khẩu súng theo. Khi trông thấy thuyền cướp Thái Lan từ xa tiến lại, ta nhất tề đứng lên, với tư thế sẵn sàng ứng chiến, thì tôi nghĩ với vài tên cướp biển chắc chắn không dám xâm phạm ta. Nhà tôi có người bạn, cũng ở trong trường hợp này, ông ta cùng với những người nam trong thuyền, mang theo gậy gộc và khi trông thấy bọn cướp có vài ba đứa tiến đến, là nhất tề cầm gậy ứng chiến. Bọn cướp thấy khó ăn, nên đã không dám làm gì.

Còn trường hợp Nhạc Phi,  hồi  nhỏ lúc đọc Truyện, tôi đã không tán thành hành động của Người, vì theo tôi đó là Ngu trung, thật vậy Người đã không đặt Quốc Gia, Dân tộc trên hết, mà đã vì chữ trung, sẳn sàng chịu chết bởi tay gian thần Tần Cối, và một vị vua hôn ám. Thật là một cái chết không đáng vậy. Tóm lại, Học Dịch cốt để phòng những tai họa, khó khăn có thể xẩy ra, ta sẽ giải quyết  được nó dễ dàng hơn, và xa hơn nữa ta sẽ bớt đi được nhiều lỗi lầm trong đời ta.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

47.Trạch thủy khốn

Ðại cương:

Tên quẻ: Khốn là Nguy (nguy nan khốn khổ, nên kiên nhẫn)

Thuộc tháng 5

Lời tượng

Trạch vô thủy: Khốn. Quân tử dĩ trí mệnh toại chí.

Lược nghĩa

Đầm không có nước là quẻ Khốn. Người quân tử lấy đấy mà trút bọ (hy sinh) tính mệnh để thỏa chí hướng của mình (cũng như sát thân dĩ thành nhân: giết thân mình để thành đạo nhân).

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi nạp giáp:

Mậu: Dần, Thìn, Ngọ

Đinh: Hợi, Dậu, Mùi

Lại sanh tháng 5 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Thiên hình sau chẳng đổi

Kim mộc khó bề yên,

Chuột bọ khinh không hại,

Tai nguy ngay thấy liền

Hào 1:

Ðồn khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam thế bất địch. Ý HÀO: Không có tài ra thoát nơi khốn.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tuy không được đắc dụng, nhưng cũng là kẻ sĩ một thời ở ẩn nơi núi sâu, không bị nhục.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Nhu nhược, tối tăm, không nhìn thấy cơ sự, không thoát được khốn.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: nen lui. _Giới sĩ: Ðợi thời. _Người thường: Có sự kinh sợ., tang phục.

Hào 2:

Khốn vu tửu tự (thực) chu phất phương lai, lợi dụng hưởng tự, chinh hung, vô cữu. Ý HÀO: Có tài đức nhung không có thời, nên không cứu khốn, giải nguy được.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Vị cao lộc hậu, vừa lòng trên, cảm được thần, tuy không cứu khốn được, nhưng không bị tai họa gì.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Thiên lệch, hay ăn uống rượu chè vào phục vụ nhà sang, hoặc làm nghề bói toán đủ ăn đủ mặc, nhưng không thành sự nghiệp gì lớn lao.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ðược thăng chuyển, hoặc giữ chức trông coi việc tế lễ. _Giới sĩ: Có vui mừng. _Người thường: Ðược quí nhân dẫn dắt, doanh mưu được lợi., tĩnh thì tốt, động thì xấu.

Hào 3:

Khốn vu thạch, cứ vu tật lê, nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, hung. Ý HÀO: Không tài cứu khốn đến nỗi thân nguy.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Ðậu thân nơi sơn lâm, hoặc làm lính gác nơi cung môn, chẳng vợ con gì.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Thân cô thế nguy.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Vào nơi thanh cấm để sửa lỗi. _Giới sĩ: Ðược vào trường thi, nhưng có biến ở thê thiếp. _Người thường: Số xấu danh nhục thân nguy, có thể không nhình thấy vợ con.

Hào 4:

Lai từ từ, khốn vu kim xa, lận, hữu chung. Ý HÀO: Tài nhỏ không cứu được khốn ngay lúc đầu, nhưng sau sẽ gặp nhau.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tuy thành danh sớm nhưng muộn mới được hưởng lộc.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Trước khó sau dễ, nhờ nơi quyền thế, sau mới thành được.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Kiêm nhiệm phức tạp. _Giới sĩ: Tiến thủ vụng về. _Người thường: Mưu vọng vất vả, mãi sau mới khỏi bế tắc, nhà buôn bị khổ về xe cộ.

Hào 5:

Tỵ nguyệt, khốn vu xích phất, nãi từ hữu duyệt, lợi dụng tế tự. Ý HÀO: Lấy đức cứu khốn, lấy lòng thành cảm thần.

MỆNH – HỢP -CÁCH: Theo cổ, hành đạo, tiến thủ, tuy gian nan sau có cơ hội, ngôn lô ngay thẳng, hoặc làm chức trông coi tế lễ.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Trước khốn sau yên, hoặc cốt nhục bị hình thương.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Trước khó sau dể. Hoặc coi tế lễ. _Giới sĩ: Trước nghịch sau thuận. _Người thường: Trước hỏng sau được. Số xấu có kiện tụng, hoặc tang phục, tế lễ.

Hào 6:

Khốn vu cát lũy, vu niết ngột(I) viết động hối hữu, hối, chinh cát. Ý HÀO: Không có tài cứu khốn, nên phản tỉnh.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Sửu lỗi làm lành, rồi có đủ tài nguy cứu khốn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Tâm nhược thân nguy mà không giải thoát được, hoặc rời tổ đi xa lập nghiệp.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Phòng hình phạt, bị chăng chói. _Giới sĩ: Bị đình giáng, nhục nhằn. _Người thường: Phòng lo sợ, tang phục, Chỉ người buôn bán tiến hành có lợi.

Chương 49: Quẻ ĐỊA PHONG THĂNG
Chương 51: Quẻ THỦY PHONG TỈNH
Chia Sẻ Bài Viết