Chương 51: Quẻ THỦY PHONG TỈNH

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ THỦY PHONG TỈNH

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

:||:|: Thủy Phong Tỉnh (井 jǐng)

Quẻ Thủy Phong Tỉnh, đồ hình :||:|: còn gọi là quẻ Tỉnh (井 jing3), là quẻ thứ 48 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☴ (:|| 巽 xun4) Tốn hay Gió (風).

* Ngoại quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm hay Nước (水).

Giải nghĩa: Tịnh dã. Trầm lặng. Ở chỗ nào cứ ở yên chỗ đó, xuống sâu, vực thẳm có nước, dưới sâu, cái giếng. Càn Khôn sát phối chi tượng: Trời Đất phối hợp lại.

Lên (Thăng) tới cùng thì bị khốn, mà té xuống dưới, cho nên sau quẻ Khốn tới quẻ Tỉnh (giếng, tức chỗ thấp hơn hết).

Thoán từ

井: 改邑不改井, 无喪无得, 往來井井.汔至, 亦未繘井, 羸其瓶, 凶.

Tỉnh: Cải ấp bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh.

Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, luy kì bình, hung.

Dịch: giếng: đổi ấp chứ không đổi giếng, nước giếng không kiệt mà cũng không thêm; người qua người lại để múc nước giếng. Gần đến nơi (đến giếng), chưa kịp thòng dây gàu xuống mà bể cái bình đựng nước, thì xấu.

Giảng: Theo tượng quẻ, trên là nước (Khảm), dưới là gỗ (Tốn ở đây không hiểu là gió mà hiểu là cây, là đồ bằng gỗ – trỏ cái gàu), có nghĩa là thòng cái gàu xuống nước để múc lên.

Theo hình của quẻ: dưới cùng là một âm, như mạch nước, rồi tiến lên là hai hào dương, như lớp đất ở đáy giếng; tiến lên nữa là hào âm, tức nước giếng, lòng giếng: trên nữa là một vạch liền, tức cái nấp giếng, trên cùng là một vạch đứt, tức miệng giếng.

Đại tượng truyện giảng một cách khác: nước (Khảm) ở trên cây (Tốn), tức là nhựa (nước từ dưới đất theo thân cây lên) ở ngọn cây, cũng như mạch nước ở trong giếng, chảy ra, cho nên gọi là quẻ Tỉnh.

Bản thể của cái giếng là ở đâu thì ở đấy, ấp còn có khi thay đổi, chứ giếng thì cố định; có nước mạch chảy vô giếng hoài, nên nước giếng không kiệt, nhưng nước giếng chỉ lên tới một mực nào đó, không khi nào tràn ra. Công dụng của giếng là ai cũng lại giếng để lấy nước (tỉnh tỉnh: chữ tỉnh trên là động từ, chữ tỉnh dưới là danh từ), kẻ qua người lại thường, người nào cũng nhờ nó mà có nước, nó giúp đỡ mọi người mà như vô tâm.

Nói về nhân sự thì người đi lấy nước, đã gần tới rồi, chưa kịp thòng dây gàu (duật) xuống, mà đánh vỡ cái bình đựng nước thì thật uổng công; vậy làm việc gì cũng phải cẩn thận, đến nơi đến chốn để khỏi thất bại nửa chừng.

Thoán truyện bảo giếng ở đâu ở đấy, không thay đổi như ấp, vậy là có đức cương trung của hào 2 và hào 5.

Đại tượng truyện khuyên người quân tử nên coi tượng cái giếng mà nuôi dân và chỉ cho dân cách giúp đỡ lẫn nhau.

Hào từ

1. 初六: 井泥不食.舊井无禽.

Sơ lục: tỉnh nê, bất thực, cựu tỉnh vô cầm.

Dịch: Hào 1, âm: Giếng lầy bùn, không ai lại lấy nước; không có con vật nào lại một giếng cũ.

Giảng: Hào 1 âm nhu, ở địa vị thấp nhất, hào 4 ở trên cũng không giúp gì nó, chính là hạng người vô dụng, bất tài, nên ví như cái giếng không có mạch, bị bùn, không ai lại lấy nước, chim muông cũng không tới.

2. 九二: 井谷, 射鮒, 甕敝漏.

Cửu nhị: Tỉnh cốc, xạ phụ, ủng tệ lậu.

Dịch: Hào 2, dương: giếng ở trong hang (có người hiểu là giếng có cái hang), nước chỉ lách tách ít giọt bắn vào con giếc, như cái chum nứt, nước dỉ ra.

Giảng: Hào này dương cương, có tài hơn hào 1, nhưng địa vị cũng thấp, trên cũng không có người ứng viện cho, nên cũng không làm nổi việc đời, ví như cái giếng nước tuy trong, nhưng nước mạch ít, chỉ dỉ ra đủ nuôi con giếc, chứ không có người tới múc. Hào này khác hào 1 ở chỗ 1 vì bất tài mà vô dụng, hào này vì hoàn cảnh mà hoá vô dụng.

3. 九三: 井渫不食, 為我心惻.可用汲. 王明, 並受其福.

Cửu tam: tỉnh tiết bất thực, vi ngã tâm trắc.

Khả dụng cấp; vương minh, tịnh thụ kì phúc.

Dịch: Hào 3, dương: giếng trong mà chẳng ăn, để lòng ta thương xót, có thể dùng mà múc lên được; gặp ông vua sáng suốt thì mọi người đều được phúc.

Giảng: Hào dương này đắc chính, là người có tài, muốn giúp đời, nhưng địa vị còn ở thấp (nội quái), không được dùng, ví như cái giếng nước trong mà không ai múc. Nếu được ông vua sáng suốt dùng, thì người đó sẽ giúp cho mọi người được nhờ.

4. 六四: 井甃, 无咎.

Lục tứ: Tỉnh trứu, vô cữu.

Dịch: Hào 4, âm: Giếng mà thành và đáy xếp đá, không có lỗi.

Giảng: Hào này âm nhu, tài tầm thường, nhưng đắc chính, ở gần hào 5 chí tôn, nên nhờ 5 mà làm được việc nhỏ, không có lỗi, ví như cái giếng mạch không nhiều, nhưng xếp đá ở thành và đáy, thì nước mạch thấm vào, lóng lại, cũng tạm dùng được.

5. 九五: 井洌, 寒泉食.

Cửu ngũ: Tỉnh liệt, hàn tuyền thực.

Dịch: Hào 5, dương: Nước giếng trong, lạnh, múc lên ăn được.

Giảng: Hào nay dương cương, đắc trung, ở ngôi chí tôn, có ân trạch với dân chúng, nên ví với nước giếng vừa trong, vừa mát, lại múc lên được.

6. 上六: 井收, 勿幕, 有孚, 元吉.

Thượng lục: Tỉnh thu, vật mạc, hữu phu, nguyên cát.

Dịch: Hào trên cùng, âm: Nước giếng múc lên rồi, đừng che đậy, cứ mãi mãi như vậy, không thay đổi thì rất tốt.

Giảng: Hào trên cùng này tuy là âm nhu, nhưng ở cuối cùng quẻ Tỉnh, nó có cái tượng nước giếng đã múc lên rồi, nên để cho mọi người dùng, chứ đừng che đậy, và cứ như vậy giúp đời mãi thì không gì tốt bằng.

***

Chúng ta để ý: quẻ Tỉnh này có điểm đặc biệt là các hào càng lên cao càng tốt, tốt nhất là hào trên cùng.

Thường các quẻ khác, hào trên cùng có nghĩa là cùng cực: hễ là quẻ tốt như quẻ Càn, quẻ thái thì hào trên cùng xấu; nếu là quẻ xấu như quẻ Bĩ, quẻ khốn thì hào trên cùng tốt, vì luật: cực thì phải biến, tốt biến ra xấu, xấu biến thành tốt. quẻ Tỉnh này với quẻ Đỉnh (và một số quẻ nữa như quẻ Tiêm..), hào trên cùng không có nghĩa cùng cực, mà có nghĩa là lúc cuối (chung), lúc nước đã múc lên (Tỉnh) hoặc thức ăn đã chính (đỉnh), tức là lúc thành công, cho nên đều tốt cả.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

48. 水 風 井  ThỦy Phong TỈnh   

Tỉnh Tự Quái井 序 卦
Khốn hồ thượng giả困 乎 上 者
Tất phản hạ.必 反 下
Cố thụ chi dĩ Tỉnh.故 受 之  以 井

Tỉnh Tự Quái

Cao mà khốn nạn, sẽ thường xuống sâu.

Cho nên Tỉnh tiếp theo sau. 

Khi người bị khốn ở bên trên, sẽ quay xuống phía dưới, cho nên, sau quẻ Khốn là quẻ Tỉnh. Tỉnh là giếng. Nói đến giếng nước, tức là nói đến cung cấp nước uống cho dân chúng từ ngàn xưa tới nay.

Thường làng nào cũng có giếng. Giếng đào sâu xuống cho tới các mạch nước ngầm, nên có thể cung cấp nước ăn uống cho cả dân làng.

Quẻ Tỉnh, trên là quẻ Khảm là nước, dưới là quẻ Tốn là gỗ. Xưa người ta dùng gầu tre, gỗ hoặc những cần cây để múc nước giếng lên. Lại cũng dùng giây thòng gầu xuống để múc nước lên. Ca dao ta có câu: Tưởng giếng sâu, em nối sợi dây dài, ngờ đâu giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây. 

I. Thoán.

Thoán từ.

井 . 改 邑 不 改 井 . 無 喪 無 得 . 往 來 井 井 . 汔 至 . 亦 未  繘 井 . 羸 其 瓶 . 凶 . 

Tỉnh. Cải ấp bất cải tỉnh. Vô táng vô đắc. Vãng lai tỉnh tỉnh.

Ngật chí. Diệc vị duật tỉnh. Luy kỳ bình. Hung.

Dịch.  

Tỉnh là nước giếng nuôi người,

Rời làng, rời ấp, chẳng rời giếng đi.

Dùng nhiều, nước chẳng suy vi,

Không dùng, nước vẫn cứ y chẳng tràn.

Người qua, kẻ lại rộn ràng,

Tha hồ đến giếng, kín mang nước về.

Thòng dây chưa tới, ích chi?

Giây chưa tới nước, cách gì múc lên.

Dùng gầu nứt rạn, chẳng bền,

Dùng gầu nứt rạn, thảo hèn nào hung.

Thoán từ: Giếng là 1 cơ cấu cần thiết nhất trong làng mạc. Xưa, ông Công Lưu, tổ phụ nhà Chu, muốn lập cơ ngơi ở đất Bân, cũng đã đến nghiên cứu phương hướng, chỗ nắng, chỗ râm, cùng là nơi có mạch nước chẩy, thế là đào giếng, rồi mới lập ấp. Vì vậy, sau này dẫu hình dạng làng mạc có đổi thay, kiến trúc nhà cửa có biến đổi, thời cái giếng vẫn y nguyên cùng tuế nguyệt (Tỉnh. Cải ấp bất cải Tỉnh). Đã có giếng tốt, thời dầu nhiều người ăn nước, giếng cũng không hao kiệt, mà thảng hoặc giếng không có ai dùng, thời giếng cũng không tràn đầy (Vô táng vô đắc)

Giếng chỉ làm việc của giếng là cung cấp nước ăn, còn ai đến cũng không mời, ai đi cũng không giữ (Vãng lai tỉnh tỉnh). Nhưng muốn kín nước giếng, phải có dây đủ dài, có gầu lành lặn mới được. Nếu chưa tới mực nước, mà dây đã hết, hoặc gầu múc nuớc mà vỡ chẩy, thì cũng chẳng được ích lợi gì (Ngật chí. Diệc vị duật tỉnh. Luy kỳ bình. Hung).

Ngật chí là chưa tới nơi. Duật là giây để kéo nước. 

Luy kỳ bình là gầu vỡ, gầu chẩy.

Thoán Truyện. Thoán viết:

彖 曰: 巽 乎 水 而 上 水,井﹔井 養 而 不 窮 也。改 邑 不 改 井,乃 以 剛 中 也。汔 至 亦 未 繘 井,未 有 功 也。羸 其 瓶,是 以 凶 也。

Tồn hồ thủy nhi thượng thủy. Tỉnh. Tỉnh dưỡng nhi bất cùng dã. Cải ấp bất cải tỉnh. Nãi dĩ cương trung dã. Ngật chí. Diệc vị duật tỉnh. Vị hữu công dã. Luy kỳ bình. Thị dĩ hung dã.

Dịch.

Ném gầu vào múc nước lên,

Tỉnh Tồn dưới, thủy trên rõ rành.

Giếng là nguồn mạch dưỡng sinh,

Dưỡng nuôi mãi mãi, công trình dài lâu.

Rời làng, giếng chẳng rời đâu,

Cương cường, trung chính, trước sau vững  bền.

Hụt dây, nên nước không lên,

Nghĩa là dang dở, không nên công trình,

Dùng gầu rạn nứt, chẳng lành.

Không lành, không lặn, đã đành là hung.

Thoán Truyện giải thích Tỉnh là ném gầu vào nước để múc nước lên. Thoán viết: Tồn hồ thủy nhi thượng thủy. Tỉnh. Thoán Truyện cũng cho biết đặc tính của giếng là cung cấp nước nuôi dân mãi mãi chẳng cùng (Tỉnh dưỡng nhi bất cùng dã). Kế đó Thoán Truyện giải thích Thoán từ: Cải ấp bất cải tỉnh. Nãi dĩ cương trung dã  thay đổi ấp, mà không thay đổi giếng, vì giếng là cái gì thiên nhiên, còn làng mạc là cái gì nhân tạo. Cương trung tức là cái gì lý tưởng, thiên nhiên. Muốn kín nước, phải giòng dây xuống cho tới mực nước, chưa tới nước thì chưa đi tới đâu (Ngật chí. Diệc vị duật tỉnh. Vị hữu công dã). Muốn kín nước, mà gầu lại thủng, lại vỡ, thì thật là hỏng chuyện (Luy kỳ bình. thị dĩ hung dã).

– Giếng tượng trưng cho cái gì hằng cửu, còn các tổ chức xã hội khác như làng mạc, thôn xóm, tượng trưng cho cái gì biến thiên. Nơi xã hội, giếng cũng tượng trưng cho nhân luân. Dẫu hình thức chính trị đổi thay, dẫu triều đại luân chuyển, nhưng nhân luân sau trước vẫn y nguyên.

-Giếng cũng tượng trưng cho nguồn sống, cho thiên tính nơi con người. Đó là tầng lớp sâu xa nhất trong con người. Nếu một tổ chức xã hội nào, một nền văn minh, giáo dục nào mà sao lãng nguồn sống ấy, thiên tính ấy, thì chỉ là cơ cấu nhân tạo tạm bợ, không có ích lợi gì lâu dài; y như đi múc nước giếng, mà dây không đủ dài, gầu không đủ kín, thời sao múc được nước ăn.

Nói cách khác, trong cuộc tu thân của chúng ta, điều cốt yếu là phải đạt tới nguồn mạch siêu nhiên, sống động trong con người. Nếu trạng thái siêu nhiên ấy chưa đạt được, thời con người chỉ sống trong tình trạng giả tạo, y thức như người muốn uống nước giếng trong mát, mà dây không đủ dài, gầu không đủ kín, nên đành phải chịu khát.

Tào Thăng giải Tỉnh là cái gì bất biến tượng trưng cho Đạo. Tỉnh cũng tượng trưng cho đời sống chính trị, cũng y như giếng cần phải có nước luôn luôn, để cung cấp nhu cầu cho nhân loại.

Vương đạo hay một nền hành chánh hoàn hảo, cũng là nguồn mạch sống động của đời sống quốc gia. Không  gian, thời gian có thể đổi thay, nhưng một nền cai trị hoàn hảo bao giờ cũng là lý tưởng của nhân loại.

Tóm lại, Thoán của quẻ Tỉnh dạy ta hai bài học chính yếu:

1- Phải cố gắng đạt tới nguồn mạch sống động, siêu nhiên nơi con người, phải đạt tới Trời, tới Đạo, nơi tầng sâu con người, để thoả mãn nguyện vọng sâu xa, huyền bí nơi con người.

2- Phải có 1 nền hành chánh hoàn hảo, để thoả mãn nhu cầu muôn dân.

 II. Đại Tượng Truyện.

象 曰 . 木 上 有 水 . 井 . 君 子 以 勞 民 勸 相 .

Tượng viết:  

Mộc thượng hữu thủy. Tỉnh. Quân tử dĩ lao dân khuyến tướng.

Dịch. Tượng rằng:

Tỉnh là nước có trên cây,

Khuyên dân lao tác, dở hay đỡ đần.

Mới hay quân tử thương dân, 

Nuôi dân, lại dạy tương thân, tương phù.

Giải là : Trên gỗ, trên cây có nước là giếng. Người quân tử nhân đó khuyến khích dân lao tác, và giúp đỡ lẫn nhau. Nói là nước trên gỗ, trên cây, vì xưa dùng cần cây, dùng gầu mà múc nước lên. Vua chúa xưa đã tổ chức phương pháp Tỉnh Điền để chúng đân đồng lao, cộng tác với nhau. Phép Tỉnh Điền được gói ghém trong chữ Tỉnh. Chữ Tỉnh gồm có 9 ô:

 -Tám ô chung quanh là ruộng đất chia cho 8 gia đình, gọi là tư điền. Ô thứ 9, ở giữa có cái giếng, gọi là công điền. 8 gia đình chung quanh, cùng ăn nước ở cái giếng chung ấy, lại cùng khai thác thửa ruộng công điền ấy để nộp lợi tức cho triều đình. Còn phần tư điền bên ngoài, làm được bao nhiêu thời giữ lấy mà ăn.

Thế là nhờ phép Tỉnh điền, vua chúa vừa khiến dân lao tác, vừa khuyến khích họ tương trợ lẫn nhau. 

III. Hào từ & Tiểu Tượng Truyện

Hào từ & Tiểu Tượng Truyện, nói lên các điều kiện mà một giếng nước cần phải có.

-Nước giếng không được dơ bẩn (Hào Sơ).

-Giếng không được nứt rạn, có hang hốc chung quanh (Hào nhị).

-Giếng tốt, nhưng cần phải được người dùng (Hào 3)

-Giếng cũng có khi cần sang sửa lại (Hào 4).

-Khi giếng có nước ngon, cần phải để cho mọi người dùng (Hào 5, 6).

1. Hào Sơ Lục.

初 六 .      井 泥 不 食 . 舊 井 無 禽 .

象 曰 .     井 泥 不 食 . 下 也 . 舊 井 無 禽 . 時 舍 也 .

Sơ Lục. 

Tỉnh nê bất thực. Cựu tỉnh vô cầm.

Tượng Truyện.

Tỉnh nê bất thực. Hạ dã. Cựu tỉnh vô cầm. Thời xả dã.

Dịch.

Giếng bùn, chẳng thể uống ăn,

Giếng xưa quạnh quẽ, biệt tăm chim trời.

Tượng rằng:

Giếng bùn, chẳng thể uống ăn.

Nghĩa là đáy đục, chỉ thuần bùn dơ.

Giếng xưa chim chóc hững hờ,

Người đời ruồng rẫy, nên ra hoang tàn.

Giếng cần phải tinh khiết. Nước giếng mà bùn, đục, thời sẽ chẳng ai ăn (Tỉnh nê bất thực). Chẳng những thế chim muông cũng bỏ rơi, không thèm lai vãng nữa, (Cựu tỉnh vô cầm).

Tiểu Tượng giải rằng: Giếng bùn đục không ai ăn, là vì giếng cạn quá (Tỉnh nê bất thực hạ đã). Giếng xưa hoang phế, chim muông không còn lai vãng tới nữa, là vì giếng đã bị người đời bỏ không dùng (Cựu tỉnh vô cầm. thời xã dã). Cũng một lẽ, những người hạ tiện, dơ bẩn, hèn hạ trong xã hội, cũng sẽ bị đời ruồng bỏ không dùng. 

2. Hào Cửu nhị.

九 二 .     井 谷 射 鮒 . 瓮 敝 漏 .

象 曰 .     井 谷 射 鮒 . 無 與 也 .

Cửu nhị.

Tỉnh cốc xạ phụ. Ửng tệ lậu.

Tượng viết:

Tỉnh cốc xạ phụ. Vô dữ dã.

Dịch.

Giếng mà có ngách rỉ xuôi,

Nước rò rỉ xuống, nuôi loài ốc sên.

Giếng mà gáo lại chẳng bền,

Giếng mà gáo thủng, nước lên cách nào?

Tượng rằng:

Nước mà có ngách rỉ xuôi,

Nước rò rỉ xuống, nuôi loài ốc sên.

Giếng mà chẳng có nước lên,

Tại vì chẳng được bên trên khuông phò.

Hào Cửu nhị: Một cái giếng, mà có hang, có hốc chung quanh (Tỉnh cốc), thời nước giếng sẽ rò rỉ ra bên ngoài (Xạ), bất quá là nuôi được các loài sên, loài ốc (Phụ), chứ còn nước đâu nữa mà cung cấp cho người. Hoặc đi kín nước, lại dùng gầu rách, gầu thủng thì làm sao mà có nước? (Ửng tệ lậu).

Đó là trường hợp những người có tài, mà vì không có lý tưởng cao đại, chí hướng vững chắc, nên đã để cho tài năng mình phao phí, mai một. Chẳng những thế, lại hạ mình theo vật dục, bầu bạn với tiểu nhân, hạ cấp, thì làm sao có thể làm ích cho đời?. Tiểu tượng bình rằng: Giếng có hang hốc, nước rò rĩ ra ngoài để nuôi sên ốc, là có ý nói rằng: Không còn được cấp trên đoái tưởng nữa.

Tượng viết: Tỉnh cốc xạ phụ. Vô dữ dã. Một người thiếu tư cách, không còn được cấp trên ngó ngàng tới, thì cũng vô dụng như cái giếng, mà nước rò rỉ hết ra ngoài, hay cái gầu múc nước bể, thủng không còn kín nước được nữa.

3. Hào Cửu tam.

九 三 .      井 渫 不 食 . 為 我 民 惻 . 可 用 汲 . 王 明 . 并 受 其 福 .

象 曰 .      井 渫 不 食 . 行 惻 也 . 求 王 明 . 受 福 也 .

Cửu tam. 

Tỉnh tiết bất thực. Vi ngã tâm trắc. Khả dụng cấp.

Vương minh. Tỉnh thụ kỳ phúc.

Tượng viết:

Tỉnh tiết bất thực. Hành trắc dã. Cầu vương minh. Thụ phúc dã.

 Dịch.

Giếng trong, mà chẳng ai ăn,

Làm ta luống những băn khoăn tấc lòng.

Băn khoăn vì nước giếng trong,

Thời nên kín nước mà dùng, mà ăn.

Nếu như có được minh quân,

Toàn dân phúc trạch, hồng ân tràn đầy.

Tượng rằng:

Giếng trong mà chẳng ai ăn,

Bộ hành luống những băn khoăn tấc lòng.

Cầu cho có đấng minh quân,

Toàn dân phúc trạch, hồng ân tràn đầy.

Hào Cửu tam: Khi đã có nước giếng tốt, nước đã lắng trong (Tỉnh tiết), mà vẫn bị người đời quên không dùng (Bất thực); thấy tình cảnh ấy, ai cũng phải bùi ngùi tấc dạ (Dĩ ngã tâm trắc). Đây là một thứ nước giếng có thể cung cấp nước ngon (Khả dụng cấp). Nếu gặp được minh quân dùng, thời cả đôi bên đều được phúc khánh (Vương minh tịnh thụ kỳ phúc).

Tượng Truyện bàn thêm rằng: Nước giếng trong mát mà không được ăn, nên người bộ hành thấy bùi ngùi tấc dạ, ước mong gặp được đấng minh quân, có gặp thì cả hai đàng đều được phúc khánh.

Tượng viết: Tỉnh tiết bất thực. Hành trắc dã. Cầu vương minh thụ phúc dã. (Tiết là trong; hành là người đi đường) Dương Mưu Trai bình rằng: Nước ngon có thể ăn là phần của giếng, không ăn nước giếng là quyền của người. Không được ăn, giếng không than thở, nhưng người đi đường phải than thở. Đây không phải than thở cho giếng, mà than thở cho người quân tử có tài, có đức mà không được trọng dụng. Giếng một khi được dùng , thời cả thôn ấp được phúc. Có giếng ngon mà không được dùng, thời cũng như không có giếng. Có hiền nhân mà không có minh vương, thời cũng như không có hiền nhân. Đức Khổng nói: Không có minh vương ra đời, thời thiên hạ ai là người biết trọng dụng ta (Lễ ký) (Minh vương bất hưng. Thiên hạ thục năng tông dư).

Hào Cửu tam tuy nói về giếng, mà thực ra nói về người quân tử. Nếu không có bậc minh quân như vua Nghiêu, thời vua Thuấn âu chỉ là một ngư phủ nơi điền trạch. Nếu không có một minh vương như Cao Tông, thời Phó Duyệt chỉ là một dung phu nơi núi rừng… 

4. Hào Lục tứ.

六 四 .      井無 咎 .

象 曰 .      井無 咎 . 修 井 也 .

 Lục tứ.

Tỉnh trứu vô cữu.

Tượng viết:

Tỉnh trứu vô cữu. Tu tỉnh dã.

Dịch.

Giếng xây, sửa lại lỗi chi

Tượng rằng:

Giếng xây, sửa lại lỗi chi. 

Sửa sang cho giếng có bề khang trang.

Hào Lục tứ: (Trứu là lát gạch, sang sửa lại phía bên trong giếng). Giếng đôi khi cần ngưng cung cấp nước, để sửa chữa lại phía bên trong cho hẳn hoi. Như vậy có gì là đáng trách đâu.

Tượng Truyện giải: Tỉnh trứu là chữa giếng.

Tượng viết: Tỉnh trứu vô cữu. Tu tỉnh dã. Các công bộc quốc gia, nhiều khi cũng phải có thời gian để tu bổ lại:

-Tu bổ lại nghề nghiệp

-Chấn chỉnh lại lề lối làm việc.

-Tu sửa lại đức hạnh.

Như vậy, tuy mất ít ngày không làm ích cho đời, như giếng đang sửa phải ngưng cung cấp nước, nhưng sau đó sẽ trở nên mới, nên hay, và sẽ giúp ích nhiều hơn.

Sửa giếng cho giếng trở nên tốt, tức là Nhật tân kỳ đức. Xây giếng cho hết mọi lỗ hổng tức là Nhàn tà, Tồn thành, là ngăn chặn mọi điều tà ác, để giữ gìn lấy cái tinh thành. Hào 4 này dạy ta những bài học tu thân chí lý vậy. 

5. Hào Cửu ngũ.

九 五 .      井 冽 . 寒 泉 食.

象 曰 .      寒 泉 之 食 . 中 正 也 .

Cửu ngũ. 

Tỉnh liệt. Hàn tuyền thực.

Tượng viết:

Hàn tuyền chi thực. Trung chính dã.

Dịch.

 Giếng mà trong vắt, trong veo,

Nước tuôn mát lạnh cho nhiều người ăn.

Tượng rằng:

Nước tuôn mát lạnh, người ăn,

Là đem trung chính trị dân, trị đời.

Hào Cửu ngũ đây vì Dương cương trung chính, lại ở ngôi trên, nên tài đức đều tận thiện, tận mỹ. Đối với giếng, thì đó là một giếng nước trong (Tỉnh liệt), do 1 mạch nước mát mẻ cung cấp (Hàn tuyền), như vậy có thể dùng để ăn được (Thực). Tượng Truyện bình rằng: Nước giếng trong mát, có thể ăn được, là chí thiện, là hoàn hảo vậy.

Một giếng nước chỉ trở nên hữu ích, khi nào được uống, được ăn. Một nhà lãnh đạo hoàn hảo, chỉ trở nên hữu ích thực sự, khi làm cho dân được theo phương châm mình, tôn chỉ mình mà hành động. Như vậy, ích lợi mới trở nên vô tận (Hàn tuyền chi thực. Trung chính dã).

6. Hào Thượng Lục.

上 六 .       井 收 勿 幕 . 有 孚 無 吉 .

象 曰 .       元 吉 在 上 . 大 成 也 .

Thượng Lục.

Tỉnh thu vật mạc. Hữu phu nguyên cát.

Tượng viết: 

Nguyên cát tại thượng. Đại thành dã.

Dịch.

Giếng ngon, người múc tha hồ,

Chẳng nên đậy điệm, để cho người dùng.

Nước tuôn mãi mãi chẳng cùng,

Thế là mỹ mãn, thành công tốt lành. 

Hào Thượng Lục: Giếng nước ngon, đã được mọi người đến múc (Tỉnh thu) thời hãy để mặc tình cho đời dùng, chẳng nên đậy nó làm chi (Vật mạc). Nếu cứ được như vậy mãi, (Hữu phu), sẽ được muôn phần tốt đẹp (Nguyên cát).

Các quẻ khác, thì khi nói đến Hào 6, là nói đến biến, đến cực, đến bất dụng. Riêng quẻ Tỉnh, quẻ Đỉnh thời cung cấp vật thực, nên cái hay nhất là nước được đem ra dùng, đồ ăn được đem ra ăn. Vì thế Tượng Truyện mới bình rằng: Quẻ Tỉnh này, Hào trên hết mới thật là hay (Nguyên cát tại thượng), vì lúc này nói là lúc thành công mỹ mãn.(Đại thành dã). Xét về phương diện nhân sự, thì người quân tử ở cao ngôi, làm ích cho đời càng nhiều, càng hay, càng lâu, càng tốt, như vậy mới là thành công mỹ mãn, như vậy mới là đại thành.

ÁP DỤNG QUẺ TỈNH VÀO THỜI ĐẠI

Ta phải biết khai thác những khả năng còn tiềm ẩn trong ta, từ lúc còn ở học đường, nếu có thể, để giáo sư chú ý đến ta, mà tiến dẫn ta mai sau.

Khi làm việc trong một hãng xưởng nào, nếu ta thấy ta có tài gì đặc biệt, mà chưa được cấp trên biết tới, thì ta phải tìm cách thi thố tài năng đó, bằng cách nhờ người đề bạt, hay tự mình đề bạt lên cấp trên. Không nên ù lì, nhút nhát, chịu yên phận một chỗ, để mai một tài năng mình. Một khi đã lên cao rồi, thì phải hết sức mang tài ra, mà làm những công việc ích nước, lợi dân. Phải luôn luôn học hỏi nghiên cứu, để tiến thêm, chớ đừng tự mãn, cho thế là đủ, rồi đâm ra lười biếng, quay ra hưởng lạc, thì uổng phí tài năng. Và như vậy, thì cũng như giếng tốt mà không có người dùng.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

48.Thủy Phong Tỉnh

Tên quẻ: Tỉnh là Tĩnh (an tĩnh đợi thời vận như đợi mạch nước giếng thơi

Thuộc tháng 3

Lời tượng

Mộc dương hữu thủy: Tỉnh. Quân tử dĩ lạo dân khuyến tướng.

Lược nghĩa

Trên cây có nước là quẻ Tỉnh (cái giếng . Người quân tử lấy đấy mà an ủi dân, khuyên họ giúp đỡ lẫn nhau.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi nạp giáp:

Tân: Sửu, Hợi, Dậu

Mậu: Thân, Tuất, Tý

Lại sanh tháng 3 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG

Đường đi dù tiến chưa yên,

Cùng thời sẽ biến, động nên tốt lành,

48 THỦY PHONG TỈNH

Tên quẻ Tỉnh là Tĩnh (an tĩnh đợi thời vận như đợi mạch nước giếng thơi

Thuộc tháng 3

Lời tượng

Mộc thượng hữu thủy: Tỉnh. Quân tử dĩ lạo dân khuyến tướng.

Lược nghĩa

Trên cây có nước là quẻ Tỉnh (cái giếng . Người quân tử lấy đấy mà an ủi dân, khuyên họ giúp đỡ lẫn nhau.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi nạp giáp:

Tân: Sửu, Hợi, Dậu

Mậu: Thân, Tuất, Tý.

Lại sanh tháng 3 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Muốn xem an lạc nơi nào,

Trước tiên nghe tiếng hô hào giúp nhau

HÀO 1 ÂM: Tỉnh nê bất thực, cựu tỉnh vô cầm.

Lược nghĩa

Giếng bùn không ăn được, giếng cũ không có con chim nào (xuống uống nước .

Hà Lạc giải đoán

Ý hào: Không có đức, bị đời coi như bỏ.

Mệnh hợp cách: Dù có tài đức cũng không gặp cơ hội công danh, than thân trách phận.

Mệnh không hợp: Thấp kém ô nhiễm, tối tăm, thành bại chẳng ra sao, hoặc có bệnh kiết lỵ, lại khi tức ở trên, có thể giảm thọ.

XEM TUẾ VẬN:

– Quan chức: Thoái nhàn, cầu danh không toại ý, kinh doanh trở trệ. Số xấu khó thọ.

THƠ RẰNG:

Mây che, đường tối, trăng mờ

Mây tan, trăng tỏ, hãy chờ đừng đi

HÀO 2 DƯƠNG: Tỉnh cốc, xạ phu, ủng lệ lậu.

Lược nghĩa

Giếng hang (róc rách , nước bắn vào con cá giếc, cái vò nứt đã róc.

Hà Lạc giải đoán

Ý hào: Có đức nhưng lực không đủ phát động ra ngoài.

Mệnh hợp cách: Khó gặp được người lãnh đạo (minh chủ nên an phận vui sống.

Mệnh không hợp: Ít học, vô danh, có tật nghiền.

XEM TUẾ VẬN:

– Quan chức: Lui về tự dưỡng.

– Giới sĩ: đợi thời

– Người thường: Cẩn thủ

THƠ RẰNG:

Trời an tĩnh, bóng nhạn thâu

Cành hoa mưa dậm, má sầu bên sông

HÀO 3 DƯƠNG: Tỉnh điệp, bất thực, vị ngã làm trắc, khả dụng cấp, vương minh, tịnh thu kỳ phúc.

Lược nghĩa

Giếng sạch chẳng ăn, vì ta (hào 3 mà lòng đau, nên dùng múc lên, được ông vua sáng suốt thì thụ hưởng phúc.

Hà Lạc giải đoán

Ý hào: Tiếc chưa được dùng, mà hứa sẽ đắc dụng.

Mệnh hợp cách: Đức có thể đem dùng, huệ có thể giúp dân, công danh đạt, phúc tốt.

Mệnh không hợp: Không được thụ dụng, không được hưởng lộc, chưa chút phát triển, buồn thiu.

XEM TUẾ VẬN:

– Quan chức: Không được gặp cấp trên sáng suốt, giải nghiệm là hơn.

– Giới sĩ: Khó gặp dịp may, hãy tu dưỡng.

– Người thường: Thủ phận. Số xấu có sự buồn thảm.

THƠ RẰNG:

Gặp thời tri kỷ tương phùng,

Hẹn kỳ làm lớn Tổ tông phúc dày.

HÀO 4 ÂM: Tỉnh trứu vô cửu

Lược nghĩa

Giếng sửa lại, không lỗi gì

Hà Lạc giải đoán

Ý hào: Tự tu, giữ điều thiện dù chỉ một mình.

Mệnh hợp cách: Cẩn hậu nhưng thiếu cả quyết, không lập được sự nghiệp đối với quốc gia, nhưng bề tu dưỡng cũng đẹp đẽ.

Mệnh không hợp: Trù tính được, nhưng không gặp cơ hội, ngoài thì khả quan, trong thì buồn.

XEM TUẾ VẬN:

– Quan chức: Nên điều trần

– Giới sĩ: Cố sức học tập để đợi thời.

– Người thường: Cầy ruộng đào giếng, hoặc xây đắp tu tạo.

THƠ RẰNG

Sửa nhà gặp được thợ hay,

Tùng xanh chẳng sợ sương bay, gió lùa

HÀO 5 DƯƠNG: Tỉnh liệt, hàn tuyền thực

Lược nghĩa

Giếng trong sạch, suối mát lạnh, ăn (ngon

Hà Lạc giải đoán

Ý hào: đức minh trọn vẹn, công thành.

Mệnh hợp cách: Tài kinh tế, đức bao dung, công danh phú quý lên to.

Mệnh không hợp: Giữ nghĩa, an phận nghèo.

XEM TUẾ VẬN:

– Quan chức: Đức vị kiêm toàn

– Giới sĩ: Được tiến cử, lợi danh có đủ

– Người thường: kinh doanh hoạch lợi

THƠ RẰNG:

Nước ngon như suối trong veo,

Bên Đông trời mọc, nước reo, núi hùng.

HÀO 6 ÂM: Tỉnh thu, vật mạc, hữu phu, nguyên cát

Lược nghĩa

Giếng nước múc lên, chớ che đậy (cho mọi người cùng ăn cứ thường thế mãi, thì tốt nhất.

Hà Lạc giải đoán

Ý hào: đức trạch đã phổ biến, nên giữ gốc mãi.

Mệnh hợp cách: Đức có thực, cách trị có gốc, ơn trạch dồi dào, sự nghiệp lớn, danh thơm thiên cổ.

Mệnh không hợp: Cũng tích đức, tuy không đỉnh chung, mà có chí Đào Chu làm giàu.

XEM TUẾ VẬN:

– Quan chức: Công lớn, thăng cao

– Giới sĩ và người thường: Thành danh, của dùng sung túc, toại ý.

THƠ RẰNG:

Gió đông mạnh, đỉnh núi xanh,

Khói tan, giếng lặng, ngon lành nước trong.

Chương 50: Quẻ TRẠCH THỦY KHỐN
Chương 52: Quẻ TRẠCH HỎA CÁCH
Chia Sẻ Bài Viết