Chương 56: Quẻ PHONG SƠN TIỆM

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ Phong Sơn Tiệm

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

::|:|| Phong Sơn Tiệm (漸 jiàn)

Quẻ Phong Sơn Tiệm, đồ hình ::|:|| còn gọi là quẻ Tiệm (漸 jian4), là quẻ thứ 53 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☶ (::| 艮 gen4) Cấn hay Núi (山).

* Ngoại quái là ☴ (:|| 巽 xun4) Tốn hay Gió (風).

Giải nghĩa: Tiến dã. Tuần tự. Từ từ, thong thả đến, lần lần, bò tới, chậm chạp, nhai nhỏ nuốt vào. Phúc lộc đồng lâm chi tượng: phúc lộc cùng đến.

Ngừng rồi thì có lúc phải tiến lần lần, cho nên sau quẻ Cấn tới quẻ Tiệm. Tiệm là tiến lần lần.

Thoán từ

漸: 女歸, 吉, 利貞.

Tiệm: Nữ qui, cát, lợi trinh.

Dịch: tiến lần lần; Như con gái về nhà chồng, tốt; giữ vững đạo chính thì lợi.

Giảng: Quẻ này trên là Tốn (ở đây có nghĩa là cây), dưới là Cấn (núi). Trên núi có cây, có cái tượng dưới thấp lần lần lên cao, nên đặt tên là Tiệm.

Cấn còn có nghĩa là ngăn, Tốn còn có nghĩa là thuận, ngăn ở dưới mà thuận ở trên, để cho tiến, nhưng không cho tiến vội, mà tiến lần lần thôi. Như trường hợp con gái về nhà chồng, việc gả con, phải thận trong, thung dung, không nên hấp tấp, có vậy mới tốt.

Xét bốn hào ở giữa quẻ, từ 2 tới 5, từ dưới tiến lên, hào nào cũng đắc chính ( hào âm ở vị âm, hào dương ở vị dương), nhất là cũng đắc chính, đắc trung ; cho nên Thoán từ khuyên giữ vững đạo chính như những hào đó thì tốt.

Tiến mà lần lần, không nóng nảy, vẫn tĩnh như nội quái Cấn, vẫn hoà thuận như ngoại quái Tốn thì không vấp váp, không bị khốn cùng.

Đại Tượng truyện Khuyên người quân tử nên theo tượng quẻ này mà tu thân, tiến lần lần cho được thành người hiền, rồi thành bậc thánh, để cải thiện phong tục cho dân (Quân tử dĩ cư hiền đức, thiện tục).

Hào từ

1. 初六: 鴻漸于干, 小子厲, 有言, 无咎.

Sơ lục: Hồng tiệm vu can, tiểu nhân lệ, hữu ngôn, vô cữu.

Dịch: Hào 1, âm: Con chim hồng tiến đến bờ nước, nhỏ dại (hoặc tiểu nhân) cho là nguy, than thở, nhưng không có lỗi.

Giảng: Hồng là loài chim sống ở mặt nước, di thê, mùa lạnh thì bay xuống phương Nam, mùa nóng trở về phương Bắc, bay từng đàn, có thứ tự; sáu hào quẻ Tiệm đều tượng trưng bằng chim hồng.

Hào 1 âm nhu, ở dưới cùng, như chim hồng mới tiến được tới bờ nước, than thở không tiến được mau, cho là nguy, vì còn nhỏ, chưa hiểu biết (tiểu tử), sự thực thì tuy chưa tiến được mấy, nhưng vẫn không tội lỗi gì.

2. 六二: 鴻漸于磐, 飲食衎衎, 吉.

Lục nhị: Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực khản khản, cát.

Dịch: Hào 2 âm: Chim hồng tiến đến phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi, tốt.

Giảng: Hào này đắc trung, đắc chính, âm nhu mà ứng với hào 5 dương cương ở trên, nên tiến được một cách dễ dàng, tới đậu ở phiến đá lớn, vui vẻ, ung dung.

Tiểu tượng truyện khuyên hào này được hào 5 giúp đỡ thì phải làm gì đáp lại, chứ đừng ăn không.

3. 九三: 鴻漸于陸, 夫征不復, 婦孕不育, 凶. 利禦寇.

Cửu tam: Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung, lợi ngự khấu.

Dịch: Hào 3, dương: Chim hồng tiến tới đất bằng, chồng đi xa không về, vợ có mang (đẻ con mà) không nuôi, xấu; đuổi cướp thì có lợi.

Giảng:Hào này đã tiến lên đất bằng, nó dương cương còn muốn tiến nữa, mà không muốn ngó lại; nó ở sát hào 4 âm nhu, thân với 4 nhưng không chính ứng với nhau, mà cả hai đều bất trung, ví như cặp vợ chồng không chính đáng; chồng (hào 3) bỏ vợ mà đi không ngó lại, vợ (hào 4), có mang đẻ con mà không nuôi, xấu. Nếu hoà thuận với nhau mà giữ đạo chính (trừ cái bất chính đi như trừ cướp) thì có lợi.

4. 六四: 鴻漸于木, 或得其桷, 无咎.

Lục tứ: Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắc kỳ giốc, vô cữu.

Dịch: Hào 4 âm: Chim hồng nhảy lên cây, may tìm được cành thẳng mà đậu, không có lỗi.

Giảng: Hào 4 âm nhu mà ở trên hào 3 dương cương, như chim hồng bay lên cây cao, không phải chỗ đậu của nó (vì nó vốn ở trên nước), nhưng may được cành thẳng, thì cũng yên ổn. Hào này bản chất âm, nhu thuận mà lại ngoại quái Tốn cũng có nghĩa thuận, nên được yên ổn.

5. 九五: 鴻漸于陵, 婦三歲不孕.終莫之勝, 吉.

Cửu ngũ: Hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng. Chung mạc chi thắng, cát.

Dịch: Hào 5, dương: chim hồng lên gò cao; vợ ba năm không sinh đẻ, nhưng cuối cùng không gì thắng nổi điều chính, tốt.

Giảng: Hào dương này ở ngôi cao, chính ứng với hào 2, âm ở dưới, như vợ chồng muốn ăn nằm với nhau, nhưng hào 5 bị hào 4 ngăn cản (ghen với 2); hào 2 lại bị hào 3 ngăn cản (ghen với 5) thành thử ba năm vợ chồng bị cách trở, mà vợ không có mang được. Nhưng 3 và 4 không thắng được 2 và 5 vì 2 và 5 đều đắc trung, mà việc 5 với 2 kết hợp với nhau là chính đáng, nên rốt cuộc chúng phải chịu thua.

6. 上九: 鴻漸于陸 , 其羽可用為儀, 吉.

Thượng cửu: Hồng tiệm vu quì (chữ 陸 dùng như chữ 逵 quì là đường mây), kì vũ khả dụng vi nghi, cát.

Dịch: Hào trên cùng, dương: Chim hồng bay bổng ở đường mây, lông nó (rớt xuống) có thể dùng làm đồ trang điểm, tốt.

Giảng: Theo thường lệ, hào trên cùng, ở trên hào 5 chí tôn, không có “vị” gì cả, vô dụng. Trong quẻ này, nó ở cao hơn cái gò cao, tức ở trên không trung, trên đường mây (vân lộ). Nó là hạng xuất thế, khí tiết thanh cao, khác phàm; tùy không trực tiếp giúp đời, nhưng tư cách làm gương cho đời, xã hội có họ thì mới văn minh, cũng như lông con hồng không dùng vào việc ăn uống cất nhà, cày ruộng, chở đồ . . được, nhưng làm đồ trang điểm như cờ, quạt, mũ, thì lại quí.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

53. 風  山  漸  Phong Sơn TiỆm 

Tiệm Tự Quái漸 序 卦
Cấn giả chỉ dã.艮 者 止 也
Vật bất khả dĩ chung chỉ.物 不 可 以 終 止
Cố thụ chi dĩ Tiệm.故 受 之 以 漸
Tiệm giả, tiến dã.漸 者 進 也

Tiệm Tự Quái

Cấn là ngưng nghỉ, là dừng chẳng đi.

Vật ngưng, rồi lại suy di.

Cho nên quẻ Tiệm hẹn kỳ tiến lên.

Tiệm là tiến mãi, tiến lên.  

Tiệm là tiến, nhưng mà tiến có tuần tiết, thứ đệ, lớp lang, trật tự. Quẻ Tiệm đến sau quẻ Cấn, vì lẽ Trời, ngưng lại động, lại tiến. Tiệm là tiến từ từ, có tuần, có tiết, chứ không đốt giai đoạn. Trong quẻ này, Thánh nhân đã đề cao nguyên lý ấy bằng nhiều cách:

1. Tiệm là cây mọc trên núi, cây mọc trên núi dĩ nhiên là mọc chậm hơn cây mọc dưới đồng bằng.

2. Thoán Từ đề cập tới chuyện cô gái về nhà chồng.

Người Trung Hoa xưa nay rất thận trọng về việc cưới xin. Muốn cưới vợ phải có đủ sáu lễ sau đây:

1. Nạp thái. 2. Vấn danh. 3. Nạp cát. 4. Nạp trưng. 5. Thỉnh kỳ. 6. Thân nghinh.

Thế là muốn cưới vợ, phải có kỳ, có hạn, có lễ nghi đường hoàng, phải tuần tự nhi tiến, chứ không phải chuyện vơ bèo, gạt tép, đốt giai đoạn.

3. Tượng  nói về công trình tích lũy nhân đức, cải thiện phong tục, đó cũng là một công trình lâu lai, trường cửu.

4. Hào Từ lấy chim Hồng, để mô tả sự tiến có tuần tự, tuần tiết. Chim hồng là một loài chim viễn xứ, cứ mùa lá rụng thì bay về Nam, cứ lúc băng tan thì trở về Bắc. Thế là hành xử có tuần tiết. Lúc bay thì có thứ tự, con nhớn bay trước, con nhỏ theo sau, có lớp lang hẳn hoi,  Thế là hành xử có thứ tự.

Sáu Hào lại mô tả con chim Hồng tiến từ thấp, lên cao nguyên. Như vậy bài học của quẻ này thật là rõ ràng.

– Ở đời muốn nên công, đừng có vội vàng, đừng có đốt giai đoạn.

– Cưới xin mà vội vàng, chồng vợ sẽ chẳng ra gì.

– Công danh mà mau được, thời là thứ công danh do sự luồn cúi, cầu cạnh, mua bán.

– Của cải mà mau được, là thứ của cải phi nhân, phi nghĩa. Tiến cho có tuần tiết, trật tự sẽ bảo toàn được lễ nghĩa, liêm sỉ. 

I. Thoán.

漸 . 女 歸 吉 . 利 貞 .

Thoán từ.

Tiệm. Nữ qui cát. Lợi trinh.

Dịch.

Tiệm là tuần tự bước lên, 

Dần dà như gái về bên nhà chồng.

Hợp thời, hợp lẽ thung dung,

Mới mong ích lợi, mới mong tốt lành.

Ở đời những công chuyện quan hệ, đều phải tuần tự nhi tiến, mới tránh được mọi tệ hại. Mà việc cần phải tiến cho tuần tự, cho cẩn thận, cho đúng lễ nghi nhất, là việc cưới xin, vì  quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ. Cưới gả có đường hoàng, chững chạc, có đủ nạp thái, vấn danh, dạm hỏi, treo cưới, thì tình phu phụ sau này mới vững bền. 

Thoán Truyện. Thoán viết:

彖 曰 . 漸 之 進 也 . 女 歸 吉 也 . 進 得 位 . 往 有 功 也 . 進 以 正 . 可 以 正 邦 也 . 其 位 剛 . 得 中 也 . 止 而 巽 . 動 不 窮 也 .

Tiệm chi tiến dã. Nữ qui cát dã. Tiến đắc vị. Vãng hữu công dã. Tiến dĩ chính. Khả dĩ chính bang dã. Kỳ vị. Cương đắc trung dã. Chỉ nhi tốn. Động bất cùng dã.

Dịch. Thoán rằng:

Tiệm là tuần tự bước lên.

Hay, lành như gái về bên nhà chồng.

Tiệm mà ngôi vị thung dung,

Thế là làm đã nên công phỉ tình.

Tiến mà chính trực, liên minh,

Chính dân, chính nước, âu đành có phen.

Ở ngôi cao trọng bên trên,

Một niềm trung chính, cương kiên mới là.

Thung dung, thư thái, ôn hòa,

Tiến trình hoạt động bao la chẳng cùng.

Thoán Truyện một lần nữa lại nhấn mạnh đến chuyện tiến phải có thứ bậc, tuần tiết y như gái về nhà chồng, phải có đủ dạm hỏi cưới xin mới tốt.(Tiệm chi tiến dã. Nữ qui cát dã). Trong công cuộc tuyển lựa nhân tài, để trị dân, trị nước, cũng phải có những sự thử thách, tuyển lựa cho hẳn hoi. Người sĩ phu phải leo dần lên các bậc thang danh vọng, mà điều cần nhất là tài đức phải xứng kỳ vị, như vậy xã hội mới tránh được mọi tệ đoan, nhũng loạn.

Kẻ sĩ tuần tự tiến lên như trên, sẽ tránh được nạn mua dân, bán nước, tránh được nạn đầu cơ chính trị, luồn lọt cửa trước, cửa sau, mất hết giá trị con người. Vì thế, nói tiến lên mà xứng ngôi, xứng vị, đã có đủ kinh nghiệm, đủ tài đức để giữ địa vị, để làm nhiệm vụ được giao phó, thời làm việc mới có hiệu năng (Tiến đắc vị. Vãng hữu công dã). Tiến lên, mà phải lẽ, phải đạo, nghĩa là người có tài, có đức, mới lên được những địa vị lãnh đạo, thì dĩ nhiên nước sẽ có kỷ cương trật tự, người trên sẽ là người xứng mặt, xứng ngôi (Tiến dĩ chính. Khả dĩ chính bang dã). Nếu cứ theo đường lối ấy mà tiến, thời khi lên đến cấp lãnh đạo, sẽ là những người hoàn hảo, và địa vị sẽ được vững chãi (Kỳ vị. Cương đắc trung dã). Tâm trí họ sẽ bình tĩnh, thái độ họ sẽ từ tốn, cho nên khi hành xử, họ sẽ không bị vấp vướng, bế tắc. (Chỉ nhi tốn. Động bất cùng dã).

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰 . 山 上 有 木 . 漸 . 君 子 以 居 賢 德 . 善 俗 .

Tượng viết:  

Sơn thượng hữu mộc. Tiệm. Quân tử dĩ cư hiền đức thiện tục.

Dịch. Tượng rằng:

Tiệm là trên núi có cây,

Cho nên quân tử ăn ngay, ở lành.

Mình mà nhân đức, tinh thành.

Rồi ra sẽ khiến nhân tình thuần lương.

Cây mọc trên núi, mọc chậm chạp, nhưng khi đã lên cao, thời ảnh hưởng đến phong cảnh cả vùng. Người quân tử cũng theo đó mà bắt chước. Tu nhân, tích đức cho ngày một hoàn hảo hơn, và cải thiện cho phong hóa ngày một thuần mỹ hơn. Tục ngữ có câu: Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ, hoặc Nước chẩy đá mòn. Tất cả, đều nói lên được sự tiệm tăng, tiệm tiến. 

III. Hào từ & Tiểu Tượng Truyện

Sáu Hào nhấn mạnh, cần phải tiến dần dà từ dưới mà lên

– Lúc ở địa vị thấp, đừng lo buồn (Hào Sơ).

– Khi có địa vị, đừng ăn không, ngồi rồi. (Hào 2).

– Đừng dùng những trò ma giáo mà tiến lên.(Hào3)

– Ở địa vị cao, phải từ tốn, nhũn nhặn, mới thoát hiểm. (Hào 4)

– Ở địa vị lãnh đạo quốc gia, phải có hiền tài phụ bật, mới giúp ích được cho đời. (Hào 5)

– Ở điạ vị thánh hiền, nên treo gương cho đời (Hào 6)

Sáu Hào đều dùng chim Hồng thủ tượng, vì chim Hồng là loài chim đi về có tuần tiết, khi bay thì có đoàn ngũ, có thứ tự. Có người còn thêm rầng chim Hồng là loài chim có tình nghĩa, con trống mà chết đi, thời con mái ở vậy, cho nên hợp với đề tài.

1. Hào Sơ Lục.

初 六 .     鴻 漸 于 干 . 小 子 厲 . 有 言 . 無 咎 .

象 曰 .     小 子 之 厲 . 義 無 咎 也 . 

Sơ Lục. 

Hồng tiệm vu can. Tiểu tử lệ. Hữu ngôn. Vô cữu.

Tượng viết:

Tiểu tử chi lệ. Nghĩa vô cữu dã.

Dịch.

Chim hồng dần tiến đến bờ.

Tiểu nhân sợ hải, xuýt xoa than phiền,

Tuy là dang dở, chưa yên,

Nhưng không đến nỗi tội khiên, lỗi lầm.

Sơ Lục bản chất Âm nhu, ở dưới chót quẻ, trên lại không có người ứng dữ. Như vậy, chẳng tiến được là bao. Y như chim Hồng, vừa đáp xuống bến nước là chỗ thấp nhất của bờ biển (Hồng tiệm vu can). Người quân tử khi còn ở địa vị thấp, không than thở, nhưng tiểu nhân thì bồn chồn, phàn nàn. Tuy vậy cũng chẳng có gì đáng trách. (Tiểu tử lệ. Hữu ngôn. Vô cữu.)

Tượng Truyện bình rằng: Tiểu nhân ở cấp dưới, chưa tiến được thời lo buồn, lấy làm nguy hại, nhưng thực ra xét theo nghĩa lý thì chẳng có gì đáng trách (Tiểu tử chi lệ. Nghĩa vô cữu dã).

2. Hào Lục nhị.

六 二 . 鴻 漸 于 磐 . 飲 食  衎 衎  . 吉 .

象 曰 . 飲 食  衎 衎  . 不 素 飽 也 .

 Lục nhị. 

Hồng tiệm vu bàn. Ẩm thực khản khản. Cát.

Tượng viết:

Ẩm thực khản khản. Bất tố bão dã.

Dịch.

Chim Hồng dần tới thạch bàn,

Uống ăn vui vẻ, bình an tốt lành.

Tượng rằng: Vui vẻ uống ăn,

No nê, không phải một thân một mình.

Hào Lục nhị : ẩm đắc trung chính, tiến lại có Cửu ngũ ứng dữ, tượng như một vị công thần, ở vào một địa vị vững như bàn thạch, y thức như chim Hồng đã đậu trên bàn thạch (Hồng tiệm vu bàn).

Chim Hồng vui vẻ uống ăn, nhưng không ăn uống một mình, mà chia sẻ ngọt bùi cùng nhau (Ẩm thực khản khản. Cát). Người quân tử, khi ở địa vị công thần, há lại thua chim Hồng, há lại vinh thân, phì gia sao? Vì thế Tượng Truyện tiếp lời mà khuyên người quân tử, không nên vì không có bổng lộc nhà vua, mà không lo gì cho đất nước.(Ẩm thực khản khản. Bất tố bảo dã).

3. Hào Cửu tam.

九 三 .      鴻 漸 于 陸 . 夫 征 不 復 . 婦 孕 不 育 . 凶 . 利 御 寇 .

象 曰 .      夫 征 不 復 . 離 群 丑 也 . 婦 孕 不 育 . 失 其 道 也 .

                利 用 御 寇 . 順  相 保 也 .

Cửu tam. 

Hồng tiệm vu lục. Phu chinh bất phục. Phu dựng bất dục.

Hung. Lợi ngự khấu.

Tượng viết:

Phu chinh bất phục. Ly quần xú dã. Phụ dựng bất dục.

Thất kỳ đạo dã. Lợi dụng ngự khấu. Thuận tương bảo dã.

Dịch.

Chim Hồng đến tới cao nguyên,

Chồng đi, đi mải nên quên cả về.

Vợ thời cũng chẳng ra gì.

Đẻ con, chẳng dám tính bề nuôi con,

Nếu mà sớm biết thiệt hơn,

Cải tà, qui chính, vẫn còn là hay.

Tượng rằng:

Chồng đi, đi mãi quên về,

Nghĩa là muối mặt, bỏ bê thân tình.

Vợ sinh, mà bỏ con mình,

Thế là trái với đạo hành nhân luân.

Biết điều cải quá, tự tân,

Thi hành chính nghĩa, thân nhân lưỡng toàn.

Chim Hồng (ngỗng trời) vốn là một loài chim nước, nay lại lên cao nguyên, như vậy là không phải (Hồng tiệm vu lục). Đó là tình cảnh một người có tài (dương Hào), nhưng bất trung (tam là bất trung), sốt ruột muốn đốt giai đoạn mà tiến lên. Tuy trên, không có người đường hoàng nâng đỡ (Thượng Cửu không ứng với Cửu tam), nhưng cố tình kết cấu với những người có quyền thế mình gặp (Lục tứ) một cách hết sức bừa bãi. Đó là những hạng người vì quyền thế, vì công danh, mà có thể quên họ hàng, bè bạn.

Họ vì lợi quên nghĩa, có mới nới cũ, chẳng theo đạo lý, cho nên vợ họ cũng là thứ vợ lang chạ, đẻ con ra mà chẳng dám nuôi (Phu chinh bất phục. Phụ dựng bất dục). Thế là một phường mèo mả gà đồng, làm sao mà hay, mà tốt được (Hung).  Cho nên bài học của Hào này, là đừng vì lòng ham muốn tiến lên mà làm điều xằng bậy, phi lý, phi nghĩa, như vậy mới hay(Lợi ngự khấu).

Trình tử cho rằng: Cái gì đến một cách phi lý thì gọi là khấu, và ngự khấu là theo chính, lánh tà.

Tượng Truyện giải: Chồng đi chẳng về là bỏ bầy, bỏ bạn. Phu chinh bất phục. Ly quần xú dã. Vợ có mang mà chẳng dám nuôi, là làm điều sái với đạo lý (Phụ dựng bất dục. Thất kỳ đạo dã). Lợi dụng ngự khấu là phải theo chính đạo, mới bảo toàn được mình và người. Thế là Tượng Truyện cũng muốn nói lên rằng: Đừng vì lòng ham danh, cầu tiến mà bỏ đạo lý, bỏ tình nghĩa. Hãy theo chính đạo, mới bảo toàn đuợc mình, được người (Lợi dụng ngự khấu. Thuận tương bảo dã).

4. Hào Lục tứ.

六 四 .     鴻 漸 于 木 . 或 得 其 桷 . 無 咎 .

象 曰 .     或 得 其 桷 . 順 以 巽 也 .

Lục tứ. 

Hồng tiệm vu mộc. Hoặc đắc kỳ giốc. Vô cữu.

Tượng viết:

Hoặc đắc kỳ giốc. Thuận dĩ tốn dã.

Dịch.

Chim Hồng dần tiến tới cây,

Nếu mà gặp được cành ngay, khỏi phiền.

Rồi ra mới hết tội khiên.

Tượng viết: May gặp cành ngay,

Thế là khéo xử, khéo xoay hợp thời.

Lục tứ là hoàn cảnh của chim Hồng đậu trên cành cây cao. Chân chim Hồng có màng như chân vịt, nên có tài bơi dưới nước, mà vụng đậu trên cây. Tuy nhiên, nếu đậu cành thẳng cũng không sao. Ý nói rằng kẻ sĩ, được địa vị cao, nhưng nếu một lòng trung quân, tôn kính bề trên, thì cao mà vẫn không nguy (Ngự Án). Vì thế Tượng viết: Hoặc đắc kỳ giốc. Thuận dĩ tốn dã.

5. Hào Cửu ngũ.

九 五 .      鴻 漸 于 陵 . 婦 三 歲 不 孕 . 終 莫 之 勝 . 吉 .

象 曰 .      終 莫 之 勝 . 吉 . 得 所 愿 也 .

Cửu ngũ. 

Hồng tiệm vu lăng. Phụ tam tuế bất dựng. Chung mạc chi thắng. Cát.

Tượng viết: 

Chung mạc chi thắng cát. Đắc sở nguyện dã.

Dịch.

Chim Hồng dần tới non cao,

Ba năm, vợ chẳng lần nào sinh con.

Rồi ra cản trở sạch trơn,

Rồi ra sẽ được vuông tròn, hẳn hoi.

Tượng rằng: Cản trở sạch trơn,

Thế là tốt đẹp, nhơn nhơn phỉ tình.

Cửu ngũ là chim Hồng đã lên đậu trên đỉnh núi (Hồng tiệm vu lăng). Đó là một ông vua có đức (Dương cương), đắc trung, đắc chính, dưới lại có hiền thần phụ bật. Dẫu có kẻ dèm pha, gàng quải, thì cũng chỉ chia rẽ nhất thời, rồi ra quân thần cũng sẽ hoà hợp với nhau. Thế là Âm Dương hoà hợp, mọi điều phúc khánh sẽ do đấy phát sinh. Chẳng khác nào vợ từ ba năm nay không thai nghén, kể từ nay sẽ tha hồ cưu mang, tha hồ cúc dục (Phụ tam tuế bất dựng). Mới hay, tà chẳng thể thắng chính, những lời dèm pha, ly gián rút cuộc cũng chẳng đi đến đâu (Chung mạc chi thắng. Cát). Thế là cuối cùng, thời đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, thỏa thuê nguyện ước (Đắc sở nguyện dã).

6. Hào Thượng Cửu.

上 九 .     鴻 漸 于 逵 . 其 羽 可 用 為 儀 . 吉 .

象 曰 .     其 羽 可 用 為 儀 . 吉 . 不 可 亂 也 .

Thượng Cửu. 

Hồng tiệm vu quì. Kỳ vũ khả dụng vi nghi. Cát.

Tượng viết:

Kỳ vũ khả dụng vi nghi cát. Bất khả loạn dã.

Dịch.

Chim Hồng dẫn tới đường trời,

Lông Hồng có thể hành ngơi, trang hoàng

Tốt lành, đẹp đẽ mọi đàng.

Tượng rằng:

Lông Hồng có thể hành ngơi,

Hay vì trật tự, chẳng lơi, chẳng loàn.

Hào Thượng Cửu chính là: Cánh Hồng bay bổng tuyệt vời (Hồng tiệm vu quì). Chính bản viết là chữ Lục, nhưng thường đọc là Quì, nghĩa là đường mây. Đây ám chỉ một bậc Thánh Hiền bay vút trên chín tầng mây đạo đức, không còn dính líu sự duyên. Tuy nhiên, các ngài còn có chỗ sở dung, là vẫn có thể treo gương sáng cho đời soi, như lông chim Hồng rớt xuống, vẫn có thể làm hành ngơi, trang điểm cho các loại cờ mao, cờ tinh, cờ đạo vv… Các vị Thánh Hiền có thể làm gương cho đời, vì các ngài khinh khoát, siêu nhiên, không gì làm loạn tâm, loạn trí được (Kỳ vũ khả dụng vi nghi cát. Bất khả loạn dã).

ÁP DỤNG QUẺ TIỆM VÀO THỜI ĐẠI

Vào đời, bất cứ làm chuyên gì cũng phải tiến hành một cách tuần tự, thì kết quả sẽ vững vàng hơn, kinh nghiệm sẽ rồi rào hơn. Ví như, một người học lái xe, nếu tay lái chưa vững, mà đã đỗ, thì dễ bị tai nạn.

Nếu ta thấy một người thợ sửa chữa một cái gì đó, mà làm quá nhanh, thì ta phải coi chừng, vì nó sẽ cẩu thả tạm bợ, lấy có, lấy rồi mà thôi. Nhưng phải biết phân biệt, sự làm cẩn thận, và sự làm chậm chạp vì lười biếng, hay vì bản tính chậm chạp.

Đi học, mà không chịu học cẩn thận, chăm chỉ, lại dùng thủ đoạn để lấy điểm cao, thì khi tốt nghiệp, mảnh bằng cũng không giúp ta được bao nhiêu.

Ra đời, mà ham làm giàu quá nhanh, sẽ dễ đi vào con đường bất chính. Nếu may mà thoát khỏi lưới pháp luật, thì tâm tư lúc nào cũng lo lắng, không yên.

Tóm lại, bất cứ làm việc gì, cũng nên làm cẩn thận, giải quyết việc gì cũng nên tuần tự xét suy, xem sự việc đó khởi đầu tự đâu mà ra, thì việc khó đến đâu ta cũng có thể giải quyết được.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

53.Phong sơn tiệm

Ðại cương:

Tên quẻ: Tiệm là Tiến (tiến dần như chim bay lên cao dần).

Thuộc tháng 1.

Lời tượng

Sơn thượng hữu mộc: Tiệm. Quân tử dĩ cư hiền đức thiện tục.

Lược nghĩa

Trên núi có cây là quẻ Tiệm (tiến dần). Người quân tử lấy đấy mà cư xử theo đức tốt dần lên, làm cho phong tục lành dần lên.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi nạp giáp:

Bính: Thìn, Ngọ, Thân

Tân: Mùi, Tỵ, Mão

Lại sanh tháng 1 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Ôm cần đợi cá bên sông,

Đợi lâu được cá xúm đông đớp mồi

Hào 1:

Hồng tiệm vu can, tiểu tử can, hữu ngôn vô cữu. Ý HÀO: Không được yên,chưa phải thời, không tiến được.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có hiền đức, do khoa danh mà dần dần tiến chức nhưng phòng bị gian nịnh xuyên tạc.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng sinh nhai đi từ thấp lên, nhưng vất vả và hay miệng tiếng.

XEM – YUẾ – VẬN: _Quan chức: Phải nói thẳng, điều trần lợi hại. _Giới sĩ: Không có người ứng viện, tiến khó. _Người thường: Bị cùng đường tai ách.

Hào 2:

Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực khản khản, cát. Ý HÀO: May gặp được an hưởng lộc vị.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài cao đức trọng, Ðem nước đến chỗ an vui như ngồi bàn thạch, phúc trạch dồi dào.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng no ấm có thừa, là kẻ sĩ ở ẩn nơi sơn lâm, hoặc tiêu dao nơi giang hồ.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ðược hưởng lộc tế lễ. _Giới sĩ: Dự yến tiệc. _Người thường: Bận việc cỗ bàn bếp núc, có lợi và vui vẻ.

Hào 3:

Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dụng bất dục, hung; lợi ngự khấu. Ý HÀO: Không được yên ổn, vô đức nên không tiến được.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Kiêm tài đức, văn võ, chỉ khổ về vợ con.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Bỏ tổ nghiệp, bỏ văn theo võ Tự cao tự đại, chẳng hợp tính với ai, hình khắc vợ con, xử sự lầm lỡ.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Bị cách giáng. _Giới sĩ: Bị ngăn trở. _Người thường: Sợ hãi, bất hòa, trộm cướp.

Hào 4:

Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắc kỳ dốc, vô cữu. Ý HÀO: Gặp bạo mà được yên lành.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có đức có vị nhưng khiêm nhường thì suốt đời an vui.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Sinh kế khó khăn, phải kiệm ước, muộn mới đủ dùng.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Gặp cường bạo không chế phục nổi, đổi việc vô định. _Giới sĩ: Ðỗ khoa mùa thu. _Người thường: Lợi việc tu tạo, nhà yên ổn.

Hào 5:

Hồng tiệm vu lăng, phụ tạm tuế bất dựng; chung mạc chi thắng, cát. Ý HÀO: Tiến đến hào nguyên thủ, lại gặp người hiền phu tá, nên việc trị nước thành công.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có tài đức nhưng tới muộn mới phát.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Có thanh danh, ở ẩn nơi núi rừng, chí hướng muộn tuổi mới đạt, con muộn sanh.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Hay bị dèm pha, trước mờ ám sau sáng. _Giới sĩ: Sau mới thành. _Người thường: Trước khó sau dễ, già tổn thọ, nhỏ khó nuôi. Người tận số có triệu chứng đem chôn trên gò cao. Sanh tháng 1 là đại phú quí.

Hào 6:

Hồng tiệm vu qui, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát. Ý HÀO: Vượt ra ngoài sự thường tình.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Hoặc làm nghi biểu một thời hay sư biểu cho bốn phương. Xa gần đều kính phục.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Làm tăng đạo, khoác áo lông chim không màng danh lợi, không làm phe cánh, khó hưởng giầu sang.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ðược nghi thức đại bát. _Giới sĩ: Bỗng lừng danh. _Người thường: Ðược đề cử, có mưu kế lỗi lạc, không tai họa, có phúc trạch dài lâu.

Chương 55: Quẻ THUẦN CẤN
Chương 57: Quẻ LÔI TRẠCH QUY MUỘI
Chia Sẻ Bài Viết