Chương 57: Quẻ LÔI TRẠCH QUY MUỘI

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ LÔI TRẠCH QUY MUỘI

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

||:|:: Lôi Trạch Quy Muội (歸妹 guī mèi)

Quẻ Lôi Trạch Quy Muội, đồ hình ||:|:: còn gọi là quẻ Quy Muội (歸妹 gui1 mei4), là quẻ thứ 54 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☱ (||: 兌 dui4) Đoài hay Đầm (澤).

* Ngoại quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn hay Sấm (雷).

Giải nghĩa: Tai dã. Xôn xao. Tai nạn, rối ren, lôi thôi, nữ chi chung, gái lấy chồng. Ác quỷ vi sủng chi tượng: tượng ma quái làm rối.

Đã tiến lên thì phải tới, về một nơi nào đó (nơi đó là mục đích); cho nên sau quẻ Tiệm tới quẻ Qui muội. Qui là về, muội là em gái; qui muội là em gái về nhà chồng.

Thoán từ

歸妹: 征凶, 无 攸利.

Qui muội: chinh hung, vô du lợi.

Dịch: Con gái nhỏ về nhà chồng, tiến lên thì xấu, không có gì lợi cả.

Giảng: Nội quái là Đoài (con gái nhỏ), ngoại quái là Chấn (con trai lớn); chấn lại có nghĩa là động, Đoài có nghĩa là vui vẻ, thuận theo; con gái nhỏ về với trưởng nam, cho nên gọi là qui muội.

Trai gái phối hợp nhau vốn là “cái nghĩa lớn của trời đất” vì có vợ chồng rồi mới có gia đình, xã hội. Vậy mà Thoán từ bảo là xấu, vì lẽ:

– Cặp trai gái này không xứng nhau: trai lớn quá (trưởng nam) gái nhỏ quá (muội).

– Tình của họ không chính đáng: gái chỉ vì vui (hoà duyệt, đức của nội quái Ðoài) mà tự động (Chấn) theo trai; cũng có thể giảng là vì gái cầu trai mà trai đã bị động theo gái; như vậy là bất chính. Sự bất chính đó còn thấy trên bốn hào ở giữa nữa; không một hào nào ở vị chính đáng.

– Lại thêm hào 3 và 5 đều là âm mà cưỡi lên dương: 4 và 2 có cái tượng vợ ăn hiếp chồng.

Ngay từ buổi đầu, sự phối hợp đó không được chính đáng thì biết trước được về sau không có gì lợi, chỉ tệ hại thôi (Lời Đại Tượng truyện).

Hào từ

1. 初九: 歸妹以娣, 跛能履, 征吉.

Sơ cửu: Qui muội dĩ qui đệ, bả năng lý, chinh cát.

Dịch: Hào 1, dương: Em gái về nhà chồng làm vợ bé, chân thọt mà đi được, tiến đi thì tốt.

Giảng: Ý nghĩa chung của quẻ là xấu, nhưng mỗi hào xấu hay tốt tùy hoàn cảnh. Như hào này dương cương ở vị thấp nhất, không có chính ứng ở trên, nên ví với người con gái nhỏ có đức, nhưng không được làm vợ cả (không có chính ứng; hào 4 cũng là dương), chỉ làm vợ bé thôi, giúp đỡ vợ cả. Vì làm vợ bé, nên bảo là chân thọt, vì giỏi giúp việc nên bảo là đi được. Cứ tiến đi siêng năng giúp việc thì tốt.

Thời xưa các vua chúa cưới một người vợ chính thì có năm ba em gái hay cháu gái cô dâu đi phù dâu rồi ở luôn bên nhà trai, gọi là “đệ” như vợ bé.

2. 九二: 眇能視, 利幽人之貞.

Cửu nhị: Diểu (miểu) năng thị, lợi u nhân chi trinh.

Dịch : Hào 2, dương: chột mà thấy được âm thầm giữ đức trinh chính thì tốt.

Giảng: Hào này dương cương đắc trung, là người con gái hiền, trinh; nhưng chính ứng với hào 5 âm nhu, bất chính, tức như gặp người chồng dở, không dựng nổi cơ đồ, nên ví với người chột mắt. Cứ âm thầm giữ đức trung của mình thì tốt. Đây là hoàn cảnh một người không gặp thời.

3. 六三: 歸妹以須, 反歸以娣.

Lục tam: qui muội dĩ tu, phản qui dĩ đệ.

Dịch: Hào 3, âm: Em gái về nhà chồng, chờ đợi mãi, nóng lòng trở về làm vợ bé.

Giảng: Hào này ở trên cùng nội quái, có địa vị, đáng lẽ không phải làm vợ bé. Nhưng vì là âm nhu, bất trung bất chính, mà lại đa tình (ham vui là tính cách của nội quái đoài) tính nết như thế nên ế chồng, chờ đợi mãi không ai chịu lấy, đành phải trở về làm vợ bé vậy. Kẻ ham công danh, phú quí, cầu cạnh người, kết quả bị người khinh, coi như tôi tớ, cũng giống cô gái trong hào này.

4. 九四: 歸妹, 愆期, 遲歸, 有時.

Cửu tứ: Qui muội, khiên kì, trì qui, hữu thời.

Dịch: Hào 4, dương: em gái về nhà chồng, lỡ thời; nhưng dù chậm gả ít lâu, rồi cũng sẽ có lúc gặp đựơc chồng tốt..

Giảng: Hào này dương cương, ở ngoại quái là người con gái đã hiền lại sang, nhưng không có hào chính ứng với nó (vì 1 cũng là dương), nên lỡ thời, không sao, cứ đợi giá cao, chậm trễ ít lâu rồi sẽ gặp duyên lành.

5. 六五: 帝乙歸妹, 其君之袂, 不如其娣之袂良, 月幾望, 吉.

Lục ngũ: Đế Ất qui muội, kì quân chi duệ, bất như kì đệ chi duệ lương, nguyệt cơ vọng, cát.

Dịch: Hào 5, âm: Vua Đế Ất (nhà Thương) cho em gái về nhà chồng, tay áo của công chúa (cô dâu) không đẹp bằng tay áo của cô phù dâu (vợ bé); như trăng đêm muời bốn (sắp đến rằm) tốt.

Giảng: Hào này âm nhu đắc trung, ở địa vị cao quí mà lại chính ứng với hào 2 dương, địa vị thấp, như nàng công chúa em vua Ðế Ất mà hạ giá với bình dân. Đã vậy mà khi rước dâu, y phục của nàng lại không đẹp bằng y phục mấy cô phù dâu (vợ bé). Như vậy là đức hạnh rất cao, không hợm mình địa vị cao quí, lại coi thường phục sức. Đức như vậy thật đẹp, như trăng mười bốn (trăng mười bốn tròn, đẹp mà chưa đầy hẳn; chưa đầy hẳn có nghĩa là Khiêm hư).

6. 上六: 女承筐, 无實.士刲羊, 无血, 无攸利.

Thượng lục: Nữ thừa khuông ,vô thực.

Sĩ khuê dương, vô huyết, vô du lợi.

Dịch: Hào trên cùng, âm: (Để cúng tổ tiên) người con gái (vợ) xách giỏ mà giỏ không có đồ cúng, người con trai (chồng) cắt cổ con cừu để lấy huyết mà (cắt giả vờ) không có huyết, không có gì lợi cả.

Giảng: Năm hào trên, các cô em gái đều về nhà chồng cả rồi, hào này là hào trên cùng, muộn nhất, mà lại không có chính ứng ( hào 3 ứng với nó cũng là âm), không thành vợ chồng chính thức được, chỉ sống bậy bạ với nhau, không có gì lợi cả.

Hồi xưa, khi cúng tổ tiên, bổn phận của vợ là dâng đồ cúng, của chồng là dâng huyết cừu; người con gái trong hào này xách giỏ dâng đồ cúng mà giỏ lại trống không, còn người con trai cắt cổ cừu để lấy huyết thì lại cắt giả vờ, không có huyết; như vậy thì tổ tiên nào chứng giám, trai gái không thành vợ chồng chính thức được. Vì hữu danh mà vô thực.

***

Hào đẹp nhất trong quẻ là hào 5. Việc kén dâu, kén vợ, trọng người có đức, không hợm mình cao sang, giàu có, coi thường phục sức, mà khiêm tốn.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

54. 雷 澤 歸 妹  Lôi TRẠCH QUY MUỘI 

Quy Muội Tự Quái歸 妹 序 卦
Tiệm giả tiến dã.漸 者 進 也
Tiến tất hữu sở quy.進 必 有 所 歸
Cố thụ chi dĩ Quy Muội.故 受 之 以 歸 妹

Quy Muội Tự Quái

Tiến là tiến mãi, tiến lên.

Tiến nhưng có chốn, có miền hồi quy

Cho nên, Quy Muội tiếp kỳ…

Quy muội là gả em gái, hay cô gái về nhà chồng, mà không đủ lễ nghi cheo cưới. Quẻ  Quy Muội này còn đề cập đến một tục lệ tối sơ của Trung Hoa xưa. Đó là một người quí tộc, có thể lấy một lúc vừa vợ, vừa nàng hầu. Nàng hầu có thể là em, hoặc cháu người vợ chính. Vì thế mà khi nhà giai hỏi vợ, thì bên nhà gái, lúc  con gái mình vu quy, phải cho ít nhất là người con gái út theo chị, và một người cháu gái theo cô để phù dâu, và cũng để làm hầu thiếp sau này.

Song song với tục lệ này, còn có một tục lệ khác, là nhà vua có quyền lấy nhiều vợ và phi tần hơn. Trong quẻ Quy Muội, ta sẽ chỉ lưu ý đến tục lệ một người quí phái, vương tôn có thể lấy một lúc hai chị em và người cháu. 

I. Thoán.

Thoán từ.

歸 妹 . 征 凶 . 無 攸 利 .

Quy muội. Chinh hung. Vô du lợi.

Dịch.

Quy muội, gái nhỏ vu quy,

Lạ lùng, bỡ ngỡ, làm gì cho đây.

Quẻ Quy Muội, trên là Chấn, là trưởng nam, dưới là Đoài, là thiếu nữ. Như vậy về đôi tuổi cũng chênh lệch, lại Đoài là duyệt, Chấn là động; lấy sự thỏa thích làm động cơ cho công việc làm, thì vợ chồng sẽ đi đến chỗ phóng túng  dục tình, cho nên sẽ chẳng ra gì. Nhưng cũng có thể giải cách khác là Phận em, phận lẽkhông nên chuyên quyền, không nên tự quyết, mà nhất nhất phải tùy thuộc vào người vợ cả, chẳng vậy sẽ không ra gì. Vì thế nói: Chinh hung. Vô du lợi. 

Thoán Truyện.  Thoán viết: 

彖 曰 . 歸 妹 . 天 地 之 大 義 也 . 天 地 不 交 . 而 萬 物 不 興 . 歸 妹 人 之 終 始 也 . 說 以 動 . 所 歸 妹 也 . 征 凶 . 位 不 當 也 . 無 攸 利 . 柔 乘 剛 也 .

Quy Muội. Thiên địa chi đại nghĩa dã. Thiên địa bất giao nhi vạn vật bất hưng. Quy muội. Nhân chi chung thủy dã. Duyệt dĩ động. Sở Quy muội dã. Chinh hung. Vị bất đáng dã. Vô du lợi. Nhu thừa cương dã.

Dịch.

Cảm tình Quy Muội, gái trai

Âm Dương phối ngẫu, luật trời xưa nay,

Đất trời gàng quải, đó đây,

Thế thời vạn vật, biết ngày nào sinh.

Gái trai, Quy muội chi tình,

Ấy là đầu cuối, mối manh con người.

Vui nên hành động buông xuôi,

Thế nên, gái mới theo trai ra về,

Làm gì, cũng sẽ ê chề,

Là vì chẳng được xứng bề, xứng ngôi.

Trăm điều, chẳng tốt, chẳng xuôi.

Là vì Nhu lại cưỡi chòi lên Cương.

Thoán Truyện  đề cao sự phối ngẫu, và sánh cuộc hôn nhân giữa con người với sự hòa hài của trời đất (Quy Muội. Thiên địa chi đại nghĩa dã. Thiên địa bất giao nhi vạn vật bất hưng). Cho nên Hôn Lễ đối với con người hết sức là quan trọng. Vì thế Thoán viết tiếp Quy Muội nhân chi chung thủy dã.

Sách Quốc ngữ cũng viết: Hôn nhân họa phúc chi giai (Quốc ngữ, Chu Ngữ, đệ nhất). Hôn nhân là thềm, là bậc, là họa, phúc, vào nhà một vương tôn công tử.

Chu Hi giải quẻ Quy Muội, sở dĩ là chung thủy vì con người về nhà chồng là hết đời con gái, và bắt đầu đời của người mẹ (Quy giả nữ chi chung. Sinh dục giả nhân chi thủy). Chuyện vợ chồng dĩ nhiên là quan trọng. Nhưng vợ chồng lấy nhau cốt để sinh con đẻ cái, là cho giòng họ trở nên hùng tráng, vững bền, lại cũng cùng nhau tế tự tổ tiên, chứ không phải là để phóng túng dục tình. Trong gia đình, muốn ấm êm, phải có tôn ti, trật tự thì mọi sự mới êm đẹp.

Nếu mà vợ lấn át chồng, vợ lẽ đòi hơn vợ cả, thì chẳng làm gì nên chuyện. Cho nên:

– Vợ chồng phải tránh chuyện lấy thú vui làm hành động (Động dĩ duyệt. Sở Quy muội dã ).

– Ngôi vị trong gia đình mà dang dở, sẽ sinh họa hoạn (Chinh hung. Vị bất đáng dã).

-Tất cả những chuyện lăng loàn, vượt quyền, vượt vị sẽ gây nên hậu quả không hay (Vô du lợi. Nhu thừa cương dã).

II. Tượng.

Tượng viết: 

象 曰 . 澤 上 有 雷 . 歸 妹 . 君 子 以 永 終 知 敝 .

Trạch thượng hữu lôi. Quy muội. Quân tử dĩ vĩnh chung chi tệ.

Dịch. Tượng rằng:

Quy muội sấm động mặt hồ,

Nhìn xa để biết hay ho, hư hèn.

Nhìn xa, trông rộng, mới nên.

Muốn biết một việc hay, dở, phải nhìn cho xa. Ví như thấy sự phối hợp bất chính, thì sẽ đoán được chung cuộc sẽ chẳng hay. Suy ra thì muôn sự đều như vậy. Hễ không đường hoàng, chính đáng, cuối cùng sẽ sinh tệ hại. Như vậy Tượng dạy ta, phải xét việc đời trên phương diện vĩnh cửu, luôn luôn phải tự hỏi xem công việc mình làm có ích lợi cho mình mãi không? hay cuối cùng sẽ có hại.

III. Hào Từ & Tiểu Tượng Truyện

1. Hào Sơ Cửu.

初 九 .     歸 妹 以 娣 . 跛 能 履 . 征 吉 .

象 曰 .     歸 妹 以 娣 . 以 恆 也 . 跛 能 履. 吉 . 相 承 也 .

Sơ Cửu. 

Quy Muội dĩ đệ. Bả năng lý. Chinh cát.

Tượng viết:

Quy muội dĩ đệ. Dĩ hằng dã. Bả năng lý. Cát. Tương thừa dã.

Dịch.

Phận em, phận lẽ vu quy,

Kiên trinh, hiền thục, vẹn bề trước sau.

Què mà đi được, chẳng sao.

Biết điều, biết xử, biết theo tốt lành.

Sơ Cửu mô tả một người em cùng về nhà chồng với chị, để làm phận lẽ, nếu không dám tự chuyên, biết khuôn xử hợp ý người vợ cả, thì mọi sự đều hay, chẳng khác nào người thọt chân mà vẫn đi lại được.

Xưa, thiên tử, chư hầu cưới vợ, thì lúc về nhà chồng, người vợ đích (vợ cả) bao giờ cũng mang theo em, cháu về theo để làm hầu thiếp. Đó là cái vinh dự cho người em.

Tượng Truyện cho rằng: Về nhà chồng mà chị dẫn  em theo là chuyện thông thường, thông lệ (Quy Muội dĩ đệ. Dĩ hằng dã). Người em mà biết thuận thảo với người chị, thì cũng hay (Bả năng lý. Cát. Tương thừa dã).

2. Hào Cửu nhị.

九 二 .      眇 能 視 . 利 幽 人 之 貞 .

象 曰 .      利 幽 人 之 貞 . 未 變 常 也 .

Cửu nhị.

Diếu năng thị. Lợi u nhân chi trinh.

Tượng viết:

Lợi u nhân chi trinh. Vị biến thường dã.

Dịch.

Chột mắt, mà vẫn trông nhìn.

Con người hiền đức, trinh bền, vẫn hay.

Tượng rằng:

Con người trinh chính vẫn hay,

Đạo thường lẽ phải, chẳng hay, chẳng rời.

Cửu nhị tượng trưng người vợ hiền. Lục ngũ tượng trưng người chồng dở. Vợ hay mà chồng dở, cũng khó dựng được nghiệp lớn, như người một mắt chỉ trông được gần, không tinh tường bằng người có đủ hai mắt (Diếu năng thị). Gặp tình cảnh ấy, nếu biết im hơi lặng tiếng, một lòng chung thủy với chồng là hay nhất (Lợi u nhân chi trinh). Hào từ này cũng có thể giải thích là, người vợ cả hiền thục, nhưng không được chồng yêu, mà lại đi yêu người vợ lẽ kém tài, kém đức hơn mình. Tượng viết: Lợi u nhân chi trinh. Vị biến thường dã.

Những người đàn bà hiền thục, thời dầu gặp hoàn cảnh nào cũng không thay lòng, đổi dạ. Trinh liệt như vậy, nên mới đẹp đẽ. 

3. Hào Lục tam.

六 三 .     歸 妹 以 須 . 反 歸 以 娣 .

象 曰 .     歸 妹 以 須 . 未 當 也 .

 Lục tam. 

Quy Muội dĩ tu. phản quy dĩ đệ.

Tượng viết:

Quy muội dĩ tu. Vị đáng dã.

Dịch.

Vu quy, có lúc nên chờ,

Không chờ, lấy lẽ mới ra thân hèn.

Tượng rằng: 

Vu quy có lúc nên chờ,

Dở dang, nên hãy đắn đo chờ thời. 

Hào Lục tam, Âm nhu, bất trung, bất chính, không khéo xử, không biết chờ thời (Quy muội dĩ tu), nên không được làm vợ chính, mà phải cam phận làm vợ lẽ, nàng hầu (Phản quy dĩ đệ). Tu đây được hiểu là chờ đợi.

Kiến An Khâu thị giải đại khái rằng:  Lục tam vốn hèn hơn Cửu nhị, mà lại ngạo nghễ muốn trèo đèo, đòi lấn át Cửu nhị, tức là người vợ cả, như vậy ắt sẽ bị ruồng rẫy, cứ nên cam phận lẽ mọn của mình thì hơn. Tu đây được hiểu là người con gái ti tiện.

Tượng viết: Quy muội dĩ tu. Vị đáng dã. Tượng Truyện cho rằng tất cả những chuyện éo le, dang dở của Lục tam, đều là do sự cư xử không thích đáng mà ra. Nên Kiến An Khâu thị cho rằng: Hào Sơ dưới, biết phận hầu thiếp của mình, ở ăn phải đạo, thế là cư xử đúng vị. Hào tam, Nhu mà đòi lướt Cương, Tiện mà đòi vượt Quí, thế là cư xử không chính đáng.

4. Hào Cửu tứ.

九 四 .     歸 妹 愆 期 . 遲 歸 有 時 .

象 曰 .     愆 期 之 志 . 有 待 而 行 也 .

Cửu tứ. 

Quy muội khiên kỳ. Trì quy hữu thì.

Tượng viết:

Khiên kỳ chi chí. Hữu đãi nhi hành dã.

Dịch.

Vu quy, phải hoãn, phải chờ,

Từ từ, cho hợp thời cơ mới là.

Tượng rằng:

Có gan, khoan dãn đợi chờ,

Đợi chờ, cho gặp thời cơ mới làm.

Cửu tứ là người con gái hiền đức, biết tự trọng, nhưng vì không có chính ứng, nên nói rằng Khiên kỳ (Chậm về nhà chồng). Quy muội khiên kỳ. Nhưng nếu mình biết chờ đợi, rồi ra cũng lấy được chồng hay, chậm về nhà chồng, nhưng rồi cũng về nhà chồng (Trì quy hữu thì).

Tượng Truyện cho rằng: Cửu tứ chậm đi lấy chồng, không phải vì ế chồng, mà là có ý kén chồng tốt mới chịu lấy (Khiên kỳ chi chí. Hữu đãi nhi hành dã). Thế là:

  Lộc còn ẩn bóng cây tùng .

Thuyền quyên đợi bóng anh hùng vãng lai.  

5. Hào Lục ngũ.

六 五 .     帝 乙 歸 妹 . 其 君 之 袂 . 不 如 其 娣 之 袂 良 . 月 几 望 . 吉 .

象 曰 .     帝 乙 歸 妹 . 不 如 其 娣 之 袂 良 也 . 其 位 在 中 . 以 貴 行 也 .

Lục ngũ. 

Đế Ất quy muội. Kỳ quân chi duệ. Bất như kỳ đệ chi duệ lương.

Nguyệt cơ vọng. Cát.

Tượng viết:

Đế Ất quy muội. Bất như kỳ đệ chi duệ lương dã.

Kỳ vị tại trung. Dĩ quí hành dã.

Dịch.

Kìa vua Đế Ất gả em,

Nàng dâu, tay áo trông xem kém người,

Kém người lẽ mọn, tôi đòi.

Tôi đòi, lẽ mọn, trông ngoài sang hơn.

Vầng trăng xấp xỉ chưa tròn,

Vừa cao, vừa quí, vừa ngoan, vừa lành.

Tượng rằng: Đế Ất gả em,

Xuềnh xoàng áo xống, trông xem kém người.

Kém người phù tá, tôi đòi,

Xuềnh xoàng, dản dị, thế thời mới hay.

Vị cao, mà đức lại dày,

Trinh trung, nhu thuận ra người cao sang.

Lục ngũ bàn về chuyện vua Đế Ất gả em gái là Thái Tự cho vua Văn Vương. Đế Ất là vua giáp chót nhà Ân, trước vua Trụ. Đế Ất trị vì từ 1191 đến 1155 trước Công nguyên. Theo Trình Tử thì vua Đế Ất đã ra sắc chỉ quy định rằng công chúa mà lấy chồng, cũng phải vâng phục quyền chồng. Nàng dâu ở đây rất đức hạnh, không ưa trang điểm, nên phục sức có vẻ thua sút các nàng dâu đi theo phù dâu  (Kỳ quân chi duệ. Bất như kỳ đệ chi duệ lương). Quân đây là nàng dâu, là vợ cả. Xưa vợ cả được gọi là Nữ quân hay Quân mẫu. Nàng lại khiêm cung, không dám lấn át chồng. Như vậy mới là ngoan (Nguyệt cơ vọng cát).

Tượng Truyện khen nàng dâu nhã nhặn, không ưa phục sức lộng lẫy, và cho rằng sở dĩ được vậy là vì địa vị đã cao, xử xự lại đúng mức, hành vi lại thanh quí (Đế Ất quy muội. Bất như kỳ đệ chi duệ lương dã. Kỳ vị tại trung. Dĩ quí hành dã).

6. Hào Thượng Lục.

上 六 .      女 承 筐 無 實 . 士 囗 羊 無 血 . 無 攸 利 .

象 曰 .      上 六 無 實 . 承 虛 筐 也 .

Thượng Lục. 

Nữ thừa khuông vô thực. Sĩ khuê dương vô huyết. Vô du lợi.

Tượng viết: 

Thượng Lục vô thực. Thừa hư khuông dã.

Dịch.

Gái bưng một cái giỏ không,

Giai đem dê giết, máu hồng chẳng rơi.

Việc gì, cũng chẳng có lơi,

Việc gì cũng sẽ lôi thôi, chẳng toàn.

Tượng rằng: Thượng Lục rỗng lòng,

Thế là bưng cái giỏ không có đồ. 

Xưa người vợ hiền, phải cộng tác với chồng để đồng tế lễ tiên tổ. Đó là một công chuyện hết sức hệ trọng, không thể làm hời hợt được. Những bà vợ không làm tròn bổn phận tế lễ tiên tổ, có thể bị chồng trả về cha mẹ vợ. (Xem Li Ki, Couvreur II, 197 ).

Hào Thượng Lục đây đề cập đến trường hợp cả hai vợ chồng đều lỗi bổn phận trong khi tế lễ. Vợ thì dâng giỏ không (Nữ thừa khuông vô thực), chồng thì chọc tiết dê không ra máu, (Sĩ khuê dương vô huyết). Như vậy là cặp vợ chồng hỏng (Vô du lợi), không ăn đời, ở kiếp với nhau được, cho nên thay vì dùng chữ Phu Phụ, Hào từ dùng chữ Sĩ, Nữ. Người vợ mà không làm tròn phận sự tế lễ, dâng giỏ không, thời chắc chẳng phải là một người có thể cùng chồng tính kế bách niên, giai lão (Thượng Lục vô thực. Thừa hư khuông dã). Quẻ Quy Muội đã làm sống lại cả một dĩ vãng xa xăm, với những phong tục đặc biệt, mà nay khảo sát đến, ta không khỏi bỡ ngỡ một cách thích thú.

ÁP DỤNG QUẺ QUI MUỘI VÀO THỜI ĐẠI

Chế độ đa thê trong quẻ Quy Muội đã quá lỗi thời, không phù hợp hiện tại. Ngày nay ta ở trong chế độ Một vợ, một chồng. Nhưng sự lo lắng về hôn nhân cho con cái, thì quẻ Quy muội cũng khiến ta nên suy nghĩ, để rút tỉa những cái khôn ngoan của người xưa, mà áp dụng dung hòa cho ngày nay. Xưa, con gái mới 12, 13 tuổi, cha mẹ đã lo dựng vợ, gả chồng, con cái có yên bề gia thất, thì cha mẹ mới coi như đã làm tròn bổn phận. Nhưng ngày nay, tiêm nhiễm theo văn minh Âu Mỹ, những thanh thiếu niên ý thức được những cái hay của nước người là làm việc chuyên cần, chịu khó, thì đều thành công trong xã hội, còn những người chỉ trông thấy sự tự do của họ thì bắt chước theo, nhưng đã đi quá trớn như:

Tự do hôn nhân. Thay vì được lựa chọn người yêu như ý mình, thì họ yêu đương bừa bãi, không cân nhắc, không suy nghĩ; thậm chí bất chấp lời khuyên can của cha mẹ, của các bậc bề trên, nhiều khi còn cho ra đời những đứa con không cha, và chính bản thân mình không có ai muốn cưới hỏi đàng hoàng. Vậy thử hỏi các bậc cha mẹ, có ai thoát khỏi nỗi đau lòng, khi trông thấy con cái mình như vậy?  Quẻ Quy Muội giúp ta suy nghĩ và cân nhắc về sự suy tính của trí tuệ người xưa, và biến đổi nó lại, để áp dụng cho thời đại ngày nay. Trong bài này, ta chỉ đề cập đến vấn đề hôn nhân, và giáo dục con cái mà thôi..

Khi xưa, ở Trung Hoa, nhà có nhiều con gái, cháu gái, sợ có nhiều người bị ế chồng, và khi đi lấy chồng là coi như phải xa nhà, mỗi khi muốn về thăm cha mẹ cũng khó khăn, phải được bố mẹ chồng hoặc chồng cho phép. Nếu gặp gia đình nhà chồng khắt khe, thì người nàng dâu đó rất cô đơn và khổ sở, nên xã hội phải đặt ra tục lệ như quẻ Quy Muội tả trên, cho em gái hoặc cháu gái cùng về nhà chồng, để làm hầu thiếp, để đỡ đần công việc, và chia xẻ ngọt bùi, cho cô dâu bớt cô đơn. Nhưng đồng thời, bậc cha mẹ cũng phải huấn luyện con gái mình, thành người hiền thục, khoan hồng, đại lượng, và các cô hầu thiếp đi theo cũng phải phục tùng, và thuận thảo, nếu ai làm trái ngược thì coi như mang tai họa đến cho nhà chồng. Do đó nhờ có sự giáo dục cẩn thận của cha mẹ, nên trên dưới một lòng.

Áp dụng vào ngày nay, thì cha mẹ nên để ý giáo dục con ngay từ lúc còn nhỏ, lo để ý tìm bạn cho con giao thiệp, trong đám con cháu của bè bạn mình, như vậy là mình phải dành chút thì giờ cuối tuần để lo giao thiệp, để dạy con làm công việc nội trợ, để đưa con đi chơi, để cho chúng thấy mình được cha mẹ thương yêu, lo lắng cho, chớ để cho con cái thấy mình bị cô đơn, không ai ngó ngàng tới, cả ngay bố mẹ chúng chỉ tối ngày lo làm tiền, mà không để ý gì đến chúng. Sự thật tiền thì ai cũng cần, nhưng con cái mình còn quan trọng hơn tiền. Như vậy con cái đã có tình yêu của cha mẹ đầy đủ, đã có bè bạn tốt, có giáo dục đầy đủ, thì sự sa đoạ cũng bớt đi nhiều, và như vậy việc Hôn nhân của chúng cũng làm ta bớt mệt óc, vì chúng có nhiều đối tượng tốt để so sánh, do đó cũng khó sa ngã. Và Tự Do Hôn Nhân là tự do lựa chọn, với sự hướng dẫn của các bậc phụ huynh, như vậy cũng làm cho ta yên trí và tin tưởng được phần nào.   

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

54.Lôi trạch quy muội

Ðại cương:

Tên quẻ: Quy muội là đại, là bất chính thức (không căng tri tế nhị, xử sự đại đi cho xong việc, sau sẽ làm cứ hối, cần phải kiểm thảo).

Thuộc tháng 7.

Lời tượng

Trạch thượng hữu lôi: quy muội. Quân tử dĩ vĩnh chung tri tệ.

Lược nghĩa

Trên đầm có sấm là quẻ Quy muội (gả em gái). Người quân tử lấy đấy mà (nghĩ cho kỹ) mãi về sau, để biết cái tệ hại sẽ xảy ra.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi nạp giáp:

Đinh: Tỵ, Mão, Sửu

Canh: Ngọ, Thân, Tuất

Lại sanh tháng 7 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Về đi mé nước thơm lừng

Mận đào một đóa đợi chừng gió xuân

Hào 1:

Qui muội, dĩ đệ, phả năng lý, chinh, cát. Ý HÀO: Có đức mà thiếu ứng viện, cam Phận vậy.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có đức mà chẳng gặp thời, Phận dưới mà không người giúp chỉ được việc nhỏ.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng giữ Phận thường, đi từ sự khó nhọc, hoặc tái bệnh chân, phải ngồi.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Gặp được chữ sự có tiếng. _Giới sĩ: Ðỗ khoa nhỏ. _Người thường: Ðức nhỏ, được lợi nhỏ thôi, hoặc lấy thêm thiếp, hoặc vào nhà quyền thế để giải quyết cái sống.

Hào 2:

Diêu năng thị, lợi u nhân chi trinh. Ý – HÀO: Có đức mà không gặp cấp trên biết cho.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Mình gồm tài đức, mà không gặp ” minh chủ ” nhưng tấm lòng vẫn không ai lay chuyển nổi.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Có học vấn mà không danh lợi, ở chốn sơn lâm tiền của đủ dùng, phúc trạch vững giữ tĩnh đạm phòng mục tật.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Vị khó thay đổi. _Giới sĩ: Khó gặp dịp may. _Người thường: Yên Phận, không hại gì, số xấu người u hiểm, lại mất trong cảnh tối tăm.

Hào 3:

Qui muội dĩ tu, phản qui dĩ đệ. Ý HÀO: Vô đức vô ứng, nên cam Phận đệ thiếp.

MỆNH – HỢP – CÁ CH: Không gặp dịp tốt, chỉ làm được việc nhỏ.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Chí hẹp hòi, việc làm thì vất vả, nhờ cậy vào kẻ mạnh thì phúc trạch nhỏ, không cho hơn gì.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Gặp họa cách giáng. _Giới sĩ: Khốn khổ đợi thời. _Người thường: Phải lao công chán lắm, lo buồn tiến thoái, nế NGUYÊN ÐƯỜNG tốt thì có tỳ thiếp đỡ đầu.

Hào 4:

Qui muội thiên kỳ, trì qui hữu thì. Ý HÀO: Cốt giữ đạo, chẳng tiến cẩu thả được.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Chính đại, nhưng giữ đạo, đợi thời không đỗ đạt sớm, muộn tuổi thành việc lớn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Ðức lớn nhưng bị trở lực, vợ trẻ con muộn, muộn tuổi mới vinh hoa.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ở ngoài đợi gọi về trung ương. _Giới sĩ: Ðợi thời đợi bổ nhiệm. _Người thường: Ði buôn bán xa chưa về.

Hào 5:

Ðế Ất qui muội, kỳ quân chi duệ, bất nhu, ký duệ chi duệ lương, nguyệt cơ vọng cát. Ý HÀO: Gái có đức, phong tục tốt đẹp.

MỆNH- HỢP – CÁCH: Theo nếp cổ, khoan lượng, ưa nhã nhặn, công danh đạt, phúc lộc thịnh.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Sang hèn cũng đối đãi thế, phú chẳng kiêu, có lòng muốn nhưng không tham.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức và giới sĩ: Thăng chuyển và đỗ đạt. _Người thường: Ðược toại nguyện. Lấy vợ được của, hoặc làm quí khách của nước .

Hào 6:

Nử thừa khuông vô thưc, sĩ khuê dương vô huyết, vô du lợi. Ý HÀO: Vô đức, vô ứng, ước trước mà không hẹn sau.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có tài mà không được dùng, có bằng mà chẳng lộc vị, có vợ mà khó có con.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Có khổ mệt óc, nghĩ nhiều chỉ quẩn.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Chỉ hư vị. _Giới sĩ: Hư danh. _Người thường: Kinh doanh uổng sức. Người già có tang, tế

Chương 56: Quẻ PHONG SƠN TIỆM
Chương 58: Quẻ LÔI HỎA PHONG
Chia Sẻ Bài Viết