Chương 58: Quẻ LÔI HỎA PHONG

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ LÔI HỎA PHONG

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

|:||:: Lôi Hỏa Phong (豐 fēng)

Quẻ Lôi Hỏa Phong, đồ hình |:||:: còn gọi là quẻ Phong (豐 feng1), là quẻ thứ 55 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☲ (|:| 離 li2) Ly hay Hỏa (火).

* Ngoại quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn hay Sấm (雷).

Nhật thực miêu tả trong quẻ này diễn ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1070 trước công nguyên.

Giải nghĩa: Thịnh dã. Hòa mỹ. Thịnh đại, được mùa, nhiều người góp sức. Chí đồng đạo hợp chi tượng: tượng cùng đồng tâm hiệp lực.

Qui là về, là tới nơi, tới mục đích, đạt kết quả (qui kết), mà đạt được kết quả thì thịnh lớn, cho nên sau quẻ Qui (muội) tới quẻ Phong (thịnh lớn).

Thoán từ

豐: 亨. 王假之, 勿憂, 宜日中.

Phong : hanh. Vương cách chi, vật ưu, nghi nhật trung.

Dịch: thịnh lớn thì hanh thông. Bậc vương giả tới được đừng lo, nên giữ đạo trung như mặt trời đứng giữa trời.

Giảng: Dưới là Ly (sáng suốt), trên là Chấn (động) sáng suốt mà hành động thì làm nên được sự nghiệp thịnh lớn. Chỉ bậc vương giả có quyền có vị mới làm tới nơi được. Khi đã thịnh lớn thì người sáng suốt biết rằng sẽ phải suy nên thường lo; nhưng đừng nên lo suông, cứ giữ được đạo trung như mặt trời (nội quái Ly có nghĩa là mặt trời) đứng ở giữa trời thì sẽ tốt.

Đại Tượng truyện áp dụng vào việc hình ngục, khuyên người trị dân nên sáng suốt mà soi xét tình dân mạnh mẽ xử đoán thì mau xong việc.

Hào từ

1. 初九: 遇其配主, 雖旬, 无咎, 往有尚.

Sơ cửu: Ngộ kì phối chủ, tuy tuần, vô cữu, vãng hữu thượng.

Dịch: Hào 1, dương: Gặp được người chủ hợp với mình, tuy ngang nhau nhưng không có lỗi tiến đi thì có công nghiệp đáng khen.

Giảng: Hào này ở nội quái Ly, có đức sáng suốt, có tài (vì là dương), ở trên ứng với hào 4, thuộc ngoại quái Chấn, có đức hoạt động, mà cũng có tài (dương cương ) Bình thường thì ứng với nhau, phải một âm một dương mới tốt, ở hào này thì khác, cùng là dương cả mà cũng tốt, vì 1 sáng suốt, 4 hoạt động, hai hào dương thành, chứ không tương phản, giúp nhau làm nên sự nghiệp lớn được. Hai hào ngang nhau, biết châm chước ý kiến nhau là điều tốt cho sự hợp tác; nếu một bên cầu thắng, một bên chỉ nhường, thì không còn là hợp tác nữa, khó mà thành công lớn được.

2. 六二: 豐其蔀, 日中見斗.往, 得疑疾, 有孚發若, 吉.

Lục nhị: phong kì bộ, nhật trung kiến đẩu;

Vãng, đắc nghi tật, hữu phu phát nhược, cát.

Dịch: Hào 2, âm: Bị màn che lớn, dày quá, như ban ngày (mặt trờ bị che lấp) mà thấy sao Bắc đẩu; tiến đi thì bị ngờ và ghét, cứ lấy lòng chí thành mà cảm hoá được người trên thì tốt.

Giảng: Hào âm này ở giữa quẻ Ly, đắc trung đắc chính; nhưng kẻ ứng với nó là hào âm, âm nhu bất chính, không giúp được nó, không tin nó; nó như một hiền thần gặp một ám chúa, nên ví với mặt trời (quẻ Ly) bị mây mù che dày. Có muốn theo 5 thì bị 5 nghi kỵ và ghét; chỉ có cách giữ vững đức trung trinh, lấy lòng chí thành mà đối xử với 5, rồi sau 5 sẽ tỉnh ngộ. Chữ 若 nhược ở đây trỏ hào 5.

3. 九三: 豐其沛, 日中見沬.折其右肱, 无咎.

Cửu tam: Phong kỳ bái, nhật trung kiến muội.

Chiết kì hữu quăng, vô cữu.

Dịch: Hào 3 dương: bị màn che kín mít, ban ngày mà thấy sao nhỏ (muội) gẩy cánh tay phải, không có lỗi.

Giảng: Hào này dương cương, ở trên cùng quẻ Ly là người sáng suốt, có tài; nhưng hào trên cùng ứng với nó lại bất tài (âm nhu), không giúp gì được nó; đã vậy nó còn bị hào 4 che ám, hoàn cảnh còn tệ hơn hào 2 nữa, cho nên bảo là bị tấm màn che kín mít, ban ngày mà tối như đêm, thấy được cả những vì sao nhỏ. Như vậy hào 3 như người bị gẩy cánh tay phải (trỏ hào 5 không giúp gì được nó), nó không có lỗi vì hoàn cảnh khiến vậy.

4. 九四: 豐其蔀, 日中見斗, 遇其夷主, 吉.

Cửu tứ: Phong ki bộ, nhật trung kiến đẩu, ngộ kì di chủ, cát.

Dịch: Hào 4, dương: Bị màn che lớn dày quá, như ban ngày mà thấy sao Bắc Ðẩu gặp được bạn bằng vai vế, tốt.

Giảng: Hào này dương cương, ở địa vị cao, có thể lập được sự nghiệp, nhưng bất trung, bất chính lại bị hào 5 âm nhu, hôn ám che lấp hoàn cảnh cũng như hào 2, cũng ban ngày mà thấy sao Bắc đẩu, nhưng nay được hào 1 ở dưới đồng đức (cũng dương cương ) bằng vai vế ứng với nó, cũng coi là tốt được.

5. 六五: 來章, 有慶, 譽, 吉.

Lục ngũ: Lai chương, hữu khánh, dự, cát.

Dịch: Hào 5, âm: Mời những nhân tài giúp mình thì được phúc, có tiếng khen, tốt.

Giảng: Hào này ở địa vị chí tôn, âm nhu, không có tài tạo được sự nghiệp thịnh lớn, nhưng khá là có đức trung (ở giữa ngoại quái), và có hào 3, 4 dương cương , hiền tài ở dưới mình, nếu biết mời họ giúp mình thì có phúc và được tiếng khen, tốt.

6. 上六: 豐其屋, 蔀其家, 闚其戶.闃其无人,三歲不覿, 凶.

Thượng lục: Phong kì ốc, bộ kì gia, khuy kì hộ,

Huých kì vô nhân, tam tuế bất địch, hung.

Dịch: Hào trên cùng, âm: Cất nóc nhà rất cao lớn mà phòng mình ở lại nhỏ hẹp, bị bưng bít (tự mình không muốn ai lui tới với mình), cho nên nhìn vào cửa, lặng tanh không thấy bóng người, ba năm không thấy ai (hoặc không giác ngộ) xấu.

Giảng: Hào này khó hiểu, mỗi sách giảng một khác, chúng tôi theo cách hiểu của Phan Bội Châu vì hợp với Tiểu Tượng truyện hơn cả.

Hào này âm nhu, như người hôn ám, mà ở trên cùng, có địa vị rất cao, y như người cất nhà, nóc rất cao (địa vị cao), mà buồng mình ở lại thấp hẹp (bản tính âm nhu), thế là tự mình che lấp mình, nên không ai lui tới với mình, do đó mà đứng ở cửa nhìn vào, không thấy bóng người, ba năm không thấy ai (hoặc ba năm vẫn không giác ngộ: địch là thấy rõ). Không gì xấu hơn.

***

Tên quẻ là thịnh lớn, rất tốt mà không có hào nào thật tốt, hào nào cũng có lời răn đe. Cổ nhân muốn cảnh cáo chúng ta ở thời thịnh lớn, có phúc thì cũng có sẵn mầm hoạ, phải cẩn thận lắm mới được.

Các quẻ khác, thường hào dương ứng với âm, âm ứng với dương mới tốt; quẻ này trái lại, dương ứng với dương (như 1 và 4) mới tốt. Đó cũng là một lời khuyên nữa: ở thời thịnh, người ta thường vì quyền lợi chia rẽ nhau mà hoá suy, phải biết đồng đức, đồng tâm với nhau, thì mới tránh được hoạ.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

55. 雷 火 豐  LÔI HỎA PHONG  

Phong Tự Quái豐 序 卦
Đắc kỳ sở qui giả tất đại.得 其 所 歸 者 必 大 
Cố thụ chi dĩ Phong.故 受 之 以 豐 .
Phong giả đại dã.豐 者 大 也 .

Phong Tự Quái

Có nơi qui đáo, ắt thời lớn lao,

Cho nên, Phong mới tiếp vào,

Phong là phong đại, nhẽ nào chẳng to? 

Có nơi qui tụ, sẽ đi đến chỗ thịnh đạt, phong doanh, nên sau quẻ Qui Muội là quẻ Phong.

 I. Thoán.

Thoán từ.

豐 . 亨 . 王 假 之 . 勿 憂 . 宜 日 中 .

Phong. Hanh. Vương cách chi. Vật ưu. Nghi nhật trung.

Dịch.

Phong là phong thịnh, hanh thông,

Phong doanh, phi đấng cửu trùng, nào ai? 

Đừng buồn, đừng sợ chuyện đời.

Hãy như mặt nhật, sáng soi giữa trời.

Khi đã đạt tới phong thịnh, mọi sự sẽ trở nên trôi chẩy (Phong hanh). Chỉ có các bậc vua chúa, mới đi đến chỗ phong đại được, vì chỉ có vua chúa, mới hội đủ điều kiện tinh thần, vật chất, nhân sự, để đi đến chỗ phong doanh, thái thịnh (Vương cách chi). Khi các bậc vương giả, đã đạt được tới giai đoạn thịnh đại, thì đừng có lo âu vì viễn ảnh suy vong trong tương lai, mà hãy nên như mặt trời giữa khung trời thẳm, chiếu soi cho thiên hạ 

Thoán Truyện. Thoán viết:

彖 曰 . 豐 . 大 也 . 明 以 動 . 故 豐 . 王 假 之 . 尚 大 也 . 勿 憂 宜 日 中 . 宜 照  天 下 也 . 日 中 則 昃 . 月 盈 則 食 . 天 地 盈 虛 . 與 時 消 息 . 而 況 人 於 人 乎 ? 況 於 鬼 神 乎 ?

Phong. Đại dã. Minh dĩ động. Cố phong. Vương cách chi. Thượng đại dã. Vật ưu nghi nhật trung. Nghi chiếu thiên hạ dã. Nhật trung tắc trắc. Nguyệt doanh tắc thực. Thiên địa doanh hư. Dữ thời tiêu tức. Nhi huống ư nhân hồ?  Huống ư quỉ thần hồ? 

Dịch. Thoán rằng:

Phong là phong đại, lớn lao,

Thông minh, hoạt động lẽ nào chẳng phong.

Phong doanh, chỉ đấng cửu trùng,

Cửu trùng mới thích vẫy vùng, bao la.

Chuyện đời, đừng sợ đừng lo,

Hãy như mặt nhật, nhởn nhơ giữa trời.

Chiếu soi khắp chốn, khắp nơi,

Khắp cùng thiên hạ,chiếu soi rỡ ràng.

Vừng dương cao sẽ xế ngang,

Trăg tròn, rồi sẽ chuyển sang vơi, gầy.

Đất trời, lúc rỗng, lúc đầy,

Thăng trầm, tăng giảm, đổi thay theo thời.

Đất trời còn thế, nữa người.

Quỉ thần âu cũng một bài thịnh suy.

Thoán Truyện định nghĩa Phong là lớn lao.

Muốn đạt tới Phong đại phải:

1-Thông minh sáng suốt. 2- Có nghị lực để thực hiện các chương trình, ý định của mình. 3-Là bậc Vương giả, mới có mộng lớn lao, những đồ án vĩ đại, mới có những điều kiện tinh thần, vật chất, nhân sự, để thực hiện ý muốn của mình (Minh dĩ động. Cố phong. Vương cách chi. Thượng đại dã). Khi đạt tới mức phong doanh cao đại, bậc vương giả hãy cứ an tâm làm ơn ích, treo gương sáng cho đời, như mặt trời trên khung trời thẳm, tỏa quang huy cùng khắp chốn nơi. (Vật ưu nghi nhật trung. Nghi chiếu thiên hạ dã).

Tiếp theo, Thoán Truyện bàn về việc doanh hư của trời đất, và cho đó là một định luật phổ quát.

– Mặt trời lên đến tột đỉnh, rồi sẽ xế tà dần.

-Mặt trăng tròn rồi lại khuyết.

Trời đất theo đà thời gian, đầy rồi lại vơi, tăng rồi lại giảm, thì sự đời làm sao mà cứ thịnh mãi, mà chẳng có suy  (Nhật trung tắc trắc. Nguyệt doanh tắc thực. Thiên địa doanh hư. Dữ thời tiêu tức. Nhi huống ư nhân hồ. Huống ư quỷ thần hồ.)

II. Đại Tượng Truyện.

Tượng viết:

象 曰 . 雷 電 皆 至 . 豐 . 君 子 以 折 獄 致 刑 .

Lôi điện giai chí. Phong. Quân tử dĩ triết ngục trí hình.

Dịch. Tượng rằng: 

Phong là sấm chớp song sinh,

Hiền nhân triết ngục, trí hình hẳn hoi.

Tội tình, xét xử cho đời,

Ngục hình áp dụng rạch ròi, phân minh.

Chớp tượng trưng cho sự sáng láng. Sấm tượng trưng cho sự uy nghi, mạnh mẽ. Cho nên, người quân tử nhân đó cũng phải dùng hết trí thông minh của mình, mà phán đoán các vụ hình án, dùng hết oai lực của mình, mà áp dụng các hình phạt. Trái lại Đại Tượng quẻ Phệ hạp, dạy người quân tử phải dùng trí thông minh của mình mà lập ra các luật pháp và các hình phạt.  

III. Hào Từ & Tiểu Tượng Truyện

1. Hào Sơ Cửu.

初 九 . 遇 其 配 主 . 雖 旬 無 咎 . 往 有 尚 .

象 曰 . 雖 旬 無 咎 . 過 旬 災 也 .

 Sơ Cửu. 

Ngộ kỳ phối chủ. Tuy tuần vô cữu. Vãng hữu thượng.

Tượng viết: 

Tuy tuần vô cữu. Quá tuần tai dã.

Dịch.

Gặp người đồng đức kết đôi,

Ta, người cân xứng, vậy thời lỗi chi.

Tiến lên, sẽ được thỏa thuê.

Tượng rằng: Cân xứng lỗi chi,

Còn như chênh lệch, sẽ bề tai hung. 

Quẻ Phong gồm có Chấn là động, mà quẻ Ly là lửa. 

Ý nói muốn làm nên phong đại, cần phải phối hiệp sự quang minh với nghị lực để hành động.

Hào Sơ đây ứng với Hào tứ, chẳng khác nào gập người cộng sự đồng cân, đồng lạng. Được vậy, chẳng những không có gì đáng trách (Ngộ kỳ phối chủ. Tuy tuần vô cữu), mà lại giúp mình lập được công nghiệp đáng khen (Vãng hữu thượng).

Tượng Truyện cho rằng, hai người cộng sự với nhau, mà  không có  óc  tranh  hơn, tranh  thắng, mới hay, còn  như nếu có óc tranh dành hơn thiệt, thì âu sẽ bị tai hoạ. (Tuần là cân xứng với nhau. Quá tuần là chênh lệch không cân xứng) (Tuy tuần vô cữu. Quá tuần tai dã).

2. Hào Lục nhị.

六 二 .      豐 其 蔀 . 日 中 見 斗 . 往 得 疑 疾 . 有 孚  發 若 . 吉 .

象 曰 .      有 孚 發 若 . 信 以 發 志 也 .

Lục nhị.

Phong kỳ bộ. Nhật trung kiến đẩu. Vãng đắc nghi tật.

Hữu phu phát nhược. Cát.

Tượng viết: 

Hữu phu phát nhược. Tín dĩ phát chí dã.

Dịch.

Dày mà dày bức màn che,

Trưa nhìn sao nhỏ lập lòe thinh không.

Tiến lên sẽ bị nghi lòng,

Chí thành tự thủ, mới mong cảm người.

Tượng rằng:

Chí thành tự thủ cảm người, 

Tín thành là cách để khơi tâm tình. 

Lục nhị cư trung, đắc chính, tượng trưng cho một hiền thần, lại ở  giữa quẻ Ly, nên rất sáng suốt.

Nhưng Lục ngũ thì lại Âm nhu bất chính, hôn ám, nghe lời sàm tấu, không tin dùng Lục nhị, tình trạng này chẳng khác nào khi trời có Nhật thực, giữa ban ngày thấy chòm sao Bắc đẩu hiện ra trên trời (Phong kỳ bộ. Nhật trung kiến đẩu). (Bộ đây là dày đặc, đến nỗi làm mất hết ánh sáng mặt trời). Gặp trường hợp này, mà nếu Lục nhị cứ tiến lên, cứ muốn dở dói, hoạt động thì sẽ chuốc lấy sự nghi kỵ (Vãng đắc nghi tật). Hay nhất là dùng lòng chí thành của mình, mà cảmhóa, mà mở mang tâm trí quân vương. (Hữu phu phát nhược. Cát).

Tượng Truyện giải rằng:  Dùng lòng chí thành của mình, cốt là để mở mang tâm tình, ý chí của vua vậy (Hữu phu phát nhược. Tín dĩ phát chí dã).

Hào này làm ta liên tưởng đến Chu Công. Khi Võ Vương mất (1114 trước Công Nguyên), con nối ngôi là Thành Vương còn nhỏ, mới 13 tuổi, Chu Công phải chấp chính. Bọn Quản Thúc, Thái Thúc và Hoắc Thúc, đều là anh em ruột của Chu Công, phao tiếng đồn là Chu Công muốn tranh ngôi vua Thành Vương, và bọn ấy còn mưu tính tiếp tay cho Vũ Oanh (con Trụ Vương) phản loạn. Chu Công phải bỏ triều chính một thời gian ngắn, rồi về phía Đông ở, để dẹp yên lòng nghi kỵ trong gia đình và dị nghị của thiên hạ. Đến khi biết lòng của chú, Thành Vương thân chinh đi đón Chu Công về (1112), và giao phó cho việc dẹp loạn Vũ Oanh. Chu Công bình định phản loạn, tổ chức trị yên bốn bể làm cho Trung Quốc trở nên phú cường, thái thịnh.

3. Hào Cửu tam.

九 三 .      豐 其 沛 . 日 中 見 昧 . 折 其 右 肱 .  無 咎 .

象 曰 .      豐 其 沛 . 不 可 大 事 也 . 折 其 右 肱 .  終 不 可 用 也 . 

Cửu tam. 

Phong kỳ bái. Nhật trung kiến muội. Triết kỳ hữu quăng. Vô cữu.

Tượng viết : 

Phong kỳ bái. Bất khả đại sự dã. Triết kỳ hữu quăng.

Chung bất khả dụng dã.

Dịch. 

Phong mà cờ xí dày che,

Trưa nhìn sao nhỏ lập loè thinh không.

Như què tay mặt hết dùng,

Sự đời đến thế, còn hòng trách ai.

Tượng rằng:

Dày mà cờ xí dày che,

Phàm làm đại sự, khó bề nên công.

Đã què tay mặt, hết dùng,

Còn dùng chi nữa, mà mong mai này.

Tới Hào Cửu tam, thì sự khuất lấp của nhà vua lại còn tệ hại hơn nữa, chẳng khác nào mặt trời bị nhật thực  hoàn toàn, đến nỗi giữa ban ngày thấy rõ cả những ngôi sao nhỏ. (Phong kỳ bái. Nhật trung kiến muội). (Bái là cái màn kín mít. Muội là sao nhỏ). Gặp trường hợp này, Cửu tam dẫu có tài, có đức mấy cũng như gẫy hẳn tay mặt, khó bề xoay trở (Triết kỳ hữu quăng). Nhưng như thế, đâu phải do lỗi của Cửu tam (Vô cữu).

Khi đã gặp trường hợp tiểu nhân bưng bít nhà vua như vậy, thì mình làm sao làm công chuyện lớn được (Phong kỳ bái. Bất khả đại sự dã). Chẳng khác nào tay phải đã bị gẫy, làm sao mà còn dùng được (Triết kỳ hữu quăng. Chung bất khả dụng dã).

4. Hào Cửu Tứ.

九 四 .      豐 其  蔀  . 日 中 見 斗 . 遇 其 夷 主 .吉 .

象 曰 .      豐 其 蔀   . 位 不 當 也 . 日 中 見 斗 . 幽 不 明 也 .

                遇 其 夷 主 . 吉 . 行 也 .

Cửu tứ. 

Phong kỳ bộ. Nhật trung kiến đẩu. Ngộ kỳ di chủ. Cát.

Tượng viết: 

Phong kỳ bộ. Vị bất đáng dã. Nhật trung kiến đẩu.

U bất minh dã. Ngộ kỳ di chủ. Cát hành dã.

Dịch.

Dày mà dày bức màn che,

Trưa nhìn sao đẩu lập lòe thinh không.

Dưới mình, nếu có bạn lòng,

Gặp người đồng đức, mới mong tốt lành.

Tượng rằng: Dày bức màn che,

Vị ngôi còn có lắm bề dở dang.

Trưa nhìn sao đẩu rõ ràng,

Tối tăm mù mịt, sang làm sao đây?

Gặp người đồng đức, mới hay,

Đi tìm gặp gỡ, mới may mới lành.

Khi nhà vua bị tiểu nhân bưng bít, như mặt trời bị khuất lấp, bị nhật thực, ban ngày trông rõ cả sao Bắc Đẩu, thì bậc Đại thần chỉ có cách kết liên với những người đông tâm, đồng đức, như vậy mới là hay.

Tượng Truyện giải thích thêm rằng:  Cửu tứ vì ở vào địa vị không được hẳn hoi, nhưng chẳng khác nào như bị bưng bít (Phong kỳ bộ. Vị bất  đáng dã). Đàng khác, thì nhà vua hôn ám, chẳng khác nào mặt trời bị nhật thực, đến nỗi ban ngày cũng thấy sao Bắc Đẩu (Nhật trung kiến đẩu. U bất minh dã). Trong trường hợp ấy, mà gặp được người đồng tâm, đồng đức, cộng tác với mình. Thì mọi sự mới là hay (Ngộ kỳ di chủ. Cát hành dã).  Di chủ là người cộng tác với mình.

5. Hào Lục ngũ.

六 五 .     來 章 . 有 慶 譽 . 吉 .

象 曰 .     六 五 之 吉 . 有 慶 也 . 

Lục ngũ. 

Lai chương. Hữu khánh dự . Cát. 

Tượng viết: 

Lục ngũ chi cát. Hữu khánh dã.

Dịch.

Nếu mà chiêu mộ hiền tài,

Thế thời phúc khánh, thế thời vẻ vang.

Tượng rằng: Lục ngũ mà hay,

Thế thời phúc khánh, đó đây đã đành.

Lục ngũ là một bậc quân vương không lấy gì làm xuất sắc, cho nên cần phải biết hạ mình mà cầu người hiền, chiêu mộ những bậc hiền tài (Lai chương). Như vậy mới được phúc khánh (Hữu khánh). Dùng được hiền tài, thời phong doanh, thái thịnh mới có cơ thực hiện, và như vậy mới được vẻ vang, danh giá, còn gì tốt lành hơn nữa (Dự cát).

Cái hay của Lục ngũ chính là được phúc khánh vậy (Lục ngũ chi cát. Hữu khánh dã).

6. Hào Thượng Lục.

上 六 .     豐 其 屋 . 蔀 其 家 . 窺 其 戶 .闃 其 無 人 . 三 歲 不 見 . 凶 .

象 曰 .     豐 其 屋 . 天 際 翔 也 . 窺 其 戶 . 闃  其 無 人 . 自 藏 也 .

Thượng Lục. 

Phong kỳ ốc. Bộ kỳ gia. Khuy kỳ bộ. Huých kỳ vô nhân.

Tam tuế bất địch. Hung.

Tượng viết: 

Phong kỳ ốc. Thiên tế tường dã. Khuy kỳ bộ.

Huých kỳ vô nhân. Tự tàng dã.

Dịch.

Tuy là gia thế phong doanh,

Màn che, trướng rủ bao quanh lấp nhà.

Từ trong cánh cửa nhìn ra,

Tứ bề quạnh quẽ, hỏi là còn ai ?

Ba năm chẳng thấy bóng người,

Sự tình đến thế, thế thời chẳng hay.

Tượng rằng: Gia thế phong doanh,

Một mình tung cánh tầng xanh, liệng vòng.

Từ trong khe cửa vời trông,

Mòn con mắt ngó, tuyệt không bóng người.

Mình che, mình dấu, mình vùi,

Mình xa chẳng phải tự người muốn xa.

Một kẻ chỉ mong vinh thân, phì gia, kiêu căng vô lối, sẽ mất nhân tâm, và sẽ sống một cuộc đời cô độc. Có khác nào một người bưng bít nhà mình, (Phong kỳ ốc. Bộ kỳ gia),  rồi nhìn qua khe cửa, chung quanh chẳng thấy một ai (Khuy kỳ bộ. Huých kỳ vô nhân). Tứ bề quạnh quẽ, mấy năm trời cũng chẳng thấy ai lai vãng, thế là xấu, chẳng có ra gì (Tam tuế bất địch. Hung).

Một người cao ngạo, sống cô độc, bưng bít, xa cách mọi người như vậy,  chẳng  khác  nào  như bay bổng lên trời, (Phong kỳ ốc. Thiên tế tường dã). Không thấy ai chung quanh mình, chính là vì mình đã có thái độ xa cách đối với mọi người vậy (Huých kỳ vô nhân. Tự tàng dã).

Tự tàng là tự mình che bít mình.

ÁP DỤNG QUẺ PHONG VÀO THỜI ĐẠI

Phong là giàu có, thái thịnh. Quẻ Phong trên là Lôi (Sấm), dưới là Ly (lửa, sáng). Ý nói muốn trở nên giàu có, con người cần phải cố gắng, nỗ lực (Lôi), phải thông minh, sáng suốt(Ly). Khi mình đã cố gắng, đã hết sức suy tư, thì dẫu sự đời có thăng trầm, biến hóa, ta cũng đừng có ngại.

Ở đời, chúng ta thấy nguyên kiếm được miếng cơm, manh áo, nhiều khi cũng rất là khó khăn. Ta có những câu như Hai sương, một nắng, nghĩa là làm việc từ tờ mờ sáng, lúc còn sương mù, cho đến đêm khi bắt đầu có sương. Ngay xứ Mỹ này, còn biết bao người chẳng những đi làm toàn thời gian, mà còn làm thêm nhiều giờ phụ trội để kiếm ăn nữa .

Nhưng bao giờ cũng như bao giờ, chúng ta vẫn cần những người lãnh đạo cho hay, cho giỏi, sống gần dân, chứ không bị bao che, bưng bít, sống không biết dân là gì

Ngày nay, tuy rằng Khoa học đã tiến bộ, nhưng Đạo đức lại thụt lùi, nên tệ đoan của xã hội không giảm được bao nhiêu, mà ở các nước nghèo, chậm tiến, lại càng tệ hơn nữa.

Vậy bổn phận làm người dân của nước nào chăng nữa (dù chính thức hay bán chính thức), nếu chúng ta muốn quốc gia, mà ta đang hiện cư ngụ, được phong thịnh, ta cũng phải có bổn phận cộng tác với chính quyền, giúp đỡ chính quyền trong mọi vấn đề, dù nhẹ nhàng hay nan giải, nếu một khi chính quyền cần đến sự cộng tác của ta.

Ta đừng nên đòi hỏi sự hoàn hảo, hoàn toàn nơi chính quyền, vì quyết nghị của một đạo luật nào, thì cũng là ý kiến của một số người mà thôi, mà đã là người thì không thể không có sai lầm, nên thấy điều gì sai lầm, ta phải mạnh dạn đứng lên vạch rõ sự sai lầm đó, và thành khẩn đưa ra những ý kiến xây dựng của mình, yêu cầu họ cứu xét lại.

Ta phải cộng tác với chính quyền trong việc bài trừ tham nhũng, lưu manh, du đãng, buôn xì ke, ma túy vv… để lành mạnhhóa xã hội.

Tóm lại, đừng bưng bít những gì xấu xa, tệ hại. Phải can đảm đứng lên cộng tác với chính quyền, dù kẻ xấu đó là nhân viên cao cấp của chính quyền cũng đừng sợ hãi. Luôn luôn, phải nhớ rằng, sự thái thịnh của quốc gia, là sự thái thịnh của mình vậy. Nếu quốc gia mà nghèo nàn, công nợ, thì con dân trong nước làm sao được chính phủ lo lắng, hoặc chăm sóc chu toàn cho mình được. Hãy làm tròn bổn phận một người công dân có trách nhiệm với nước của mình, hay với nước mình đang cư ngụ. Như vậy mới xứng đáng là người quân tử, giúp đời, giúp nước.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

55.Lôi hỏa phong

Ðại cương:

Tên quẻ: Phong là phong mãn, phong phú là đại (lớn, đầy, thịnh nên e rằng đến cực rồi sẽ suy).

Thuộc tháng 9

Lời tượng

Lôi điện giai chí: Phong. Quân tử dĩ chiết ngục trị hình

Lược nghĩa

Sấm chớp đều đến là quẻ Phong (lớn). Người quân tử lấy đấy mà làm gãy gọn được lời xét đoán tù đày, làm sáng tỏ được hình án.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi nạp giáp:

Kỷ: Mão, Sửu, Hợi

Canh: Ngọ, Thân, Tuất

Lại sanh tháng 9 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Ước hẹn rồi như mộng

Vô duyên bị kẹt liền,

Nếu cầu hanh thái vận,

Phải đợi buổi Dần, Thìn

Hào 1:

Ngộ kỳ phối chủ, tuy tuần vô cữu, vãng hữu thượng. Ý HÀO: Ðức ngang nhau, công giúp nhau.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài to, thời thịnh, cung ngang đức lẫn nhau, thành nghiệp lớn.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cậy tài kiêu hãnh, gây oán ghét, cốt hình thương.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Gặp cấp trên sáng suốt dễ vượt lên. _Giới sĩ: Gặp nhiều tri kỷ dễ thành danh. _Người thường: Ðược quí nhân dẫn giắt, Toại ý số xấu thì mắc lỗi lầm lớn, thêm tai ương.

Hào 2:

Phong kỳ bô, nhật trung kiến đẩu, vãng, đắc nghi tật, hữu phu, phát nhược, cát. Ý HÀO: Có đức mà bị người trên che lấp, cứ giữ chí thành.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Vị cao ở trung ương, tuy gặp cấp trên hôn ám, ngờ ghét, mà vẫn giữ lòng thực để tìm cách chuyển hóa.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Không có người che chở, trơ trọi, ít có bạn, hay bị dèm pha, oán trách, trước trở ngại, sau mới thuận tiện.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Nói thẳng, hay bị xuyên tạc sự thực, trước xấu, sau lành. _Giới sĩ: Chờ lâu, may phát đạt. _Người thường: Khốn lâu, nay phát tài, có kiện tụng rồi tự nhiên lý sẽ sáng tỏ, bệnh sẽ khỏi. Số xấu phòng ngừa trên có sự lo buồn.

Hào 3:

Phong kỳ bái, nhật trung kiến muội, chiết kỳ hữu quăng, vô cữu. Ý HÀO: Gặp chủ không xứng đáng, mình sáng suốt cũng vô dụng.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có tài đức làm phụ tá, nhưng cấp trên hôn ám, đồng liêu lầm lỗi.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Ðẹp nhưng không ngon, thương thân phá tổ, tính việc nhỏ thôi hoặc có tật chân tay.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Muốn hồi hưu. _Giới sĩ: Khó tiến. _Người thường: Khó toại ý, bị che lấp mất hay, sinh tranh tụng chân tay có tật ách, khó làm việc.

Hào 4:

Phong kỳ bộ, nhật trung kiến đẩu, ngộ kỳ di chủ, cát. Ý HÀO: Tuy gặp cấp trên không xứng đáng, nhưng cũng tiến lên thì tốt.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tuy bị che lấp nhưng có bạn đồng đức hiệp lực, nên cũng thành công nghiệp, phúc trạch dồi dào.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Bỏ nhà đi xa lập nghiệp, dựa vào người thân quí để sinh kế, trước tối, sau sáng.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Giữa trên dưới có nghi kỵ không ổn. _Giới sĩ: Gặp tri kỷ nhờ đó tiến được. _Người thường: Sáng bị che lấp, có người giải thích cho, khách buôn ra ngoài gặp bọn, phòng thuyền gẫy cột buồm.

Hào 5:

Lai chương, hữu khánh, dự cát. Ý HÀO: Khuyên cấp trên cầu hiền, nên nhân đó được người hiền.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Trước tối sau sáng, tích đức xả kỷ nên hiển đạt, phúc lộc dồi dào.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng văn chương nổi tiếng, lộc vị cao.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Lên cao được. _Giới sĩ: Ðỗ cao thành danh. _Người thường: Ðược người đề cử. Mưu vọng toại ý.

Hào 6:

Phong kỳ ốc, bộ kỳ gia, khuy kỳ hộ, huých kỳ vô nhân, tam tuế bất địch, hung. Ý HÀO: Sàng quá nên tối vậy.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Ðược tổ nghiệp mà không quản trị nổi, cậy tài thông minh, làm bậy sau mê tối không tỉnh, khó tránh tai họa.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Hữu tài vô đức, tự tôn tự đại, tuyệt người thân, bỏ bạn hữu, câu chấp không định, phàm việc hư hết chỉ có làm tăng đạo ở núi rừng là đỡ tai nạn.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Vị cao nhưng bị tai ách. _Giới sĩ: Có triệu chứng bay bổng. _Người thường: Cốt nhục tương tàn, ly tô thành gia, khó tránh kiện tụng, hình ngục, khẩu thiệt, hoặc lầm lỗi ở nơi môn hộ.

Chương 57: Quẻ LÔI TRẠCH QUY MUỘI
Chương 59: Quẻ HỎA SƠN LỮ
Chia Sẻ Bài Viết