Chương 6: Quẻ THỦY LÔI TRUÂN

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

Quẻ THỦY LÔI TRUÂN

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

|:::|: Thủy Lôi Truân (屯 chún)

Quẻ Thủy Lôi Truân, đôi khi còn gọi là quẻ Truân (屯 chún) là quẻ số 03 trong Kinh Dịch

* Nội quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn = (雷) Sấm

* Ngoại quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm = (水) Nước

Giải nghĩa: Nạn dã. Gian lao. Yếu đuối, chưa đủ sức, ngần ngại, do dự, vất vả, phải nhờ sự giúp đỡ. Tiền hung hậu kiết chi tượng: trước dữ sau lành.

Theo Tự quái truyện thì sở dĩ sau hai quẻ Càn, Khôn tới quẻ Truân là vì có trời đất rồi vạn vật tất sinh sôi nảy nở đầy khắp, mà lúc sinh sôi đó là lúc khó khăn. Chữ Truân [屯] có cả hai nghĩa đó: đầy và khó khăn

屯 : 元, 亨, 利, 貞, 勿 用 有 攸 往, 利 建 侯 .

Truân: Nguyên, hanh, lợi, trinh, vật dụng hữu du vãng, lợi kiến hầu.

Dịch: Gặp lúc gian truân, có thể hanh thông lắm (nguyên hanh), nếu giữ vững điều chính (trái với tà) và đừng tiến vội, mà tìm bậc hiền thần giúp mình (kiến hầu là đề cử một người giỏi lên tước hầu).

Giảng: Thóan truyện và Đại tượng truyện giảng đại ý như sau:

Tượng quẻ này là sấm (Chấn) ở dưới mà trên mưa (Khảm), tức có nghĩa động ở trong chốn hiểm, (Khảm là nước có nghĩa là hiểm trở) (1) cho nên có nghĩa là truân.

Lại thêm: nội quái có một hào dương (cương) hai hào âm (nhu); ngọai quái cũng thế; như vậy là cương nhu, dương âm bắt đầu giao nhau để sinh vạn vật màl úc đầu bao giờ cũng gian nan: truân.

Trong lúc gian nan mà hành động thì có thể tốt, nhưng phải kiên nhẫn giữ điều chính; đừng vội hành động mà trước hết nên tìm người tài giỏi giúp mình. Người tài đứng ra cáng đáng lúc đầu (người mình cất nhắc lên tước hầu) đó là hào 1 dương . Dương thì cương, có tài; hào 1 lại là hào chủ yếu torng nội quái (chấn) có nghĩa họat động. buổi đầu gian nan thì được người đó, tỉ như lập được một đòan thể có nhiều người có tài kinh luân, thì mọi việc sẽ làm được tốt. Đó là ý nghĩa quẻ Truân.

Hào Từ:

初 九: 磐 桓, 利 居 貞, 利 建 侯 .

Sơ cửu: Bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu.

Dịch: Hào 1, dương : còn dùng dằng, giữ được điều chính thì lợi, được đặt lên tước hầu (nghĩa là được giao cho việc giúp đời lúc gian truân) thì lợi.

Giảng: Như trên tôi đã nói, hào này là dương, tượng người có tài, lại đắc chính vì dương ở dương vị, cho nên giữ được điều chính và có lợi; sau cùng nó là dương mà lại dưới hai hào âm trong nội quái, có cái tượng khiêm hạ, được lòng dân. Vậy là người quân tử mới đầu tuy còn do dự, sau sẽ được giao cho trọng trách giúp đời.

六 二: 屯 如 邅 如, 乘 馬 班 如, 匪 寇 婚 媾 . 女 子 貞 不 字, 十 年 乃 字 .

Lục nhị: Truân như, chuyên như, thừa mã ban như. Phỉ khấu hôn cấu, nữ tử trinh bất tự, thập niên nãi tự.

Dịch: hào 2, âm : Khốn đốn khó khăn như người cưỡi ngựa còn dùng dằng lẫn quẩn (Nhưng hào 1 kia) không phải là kẻ cướp, chỉ là muốn cầu hôn với mình thôi. Mình cứ giữ vững chí, đừng chịu, mười năm nữa sẽ kết hôn (với hào 5).

Giảng: Hào 2, âm, vừa đắc trung lẫn đắc chính, lại ứng với hào 5 cũng đắc trung đắc chính ở trên, như vậy là tốt. Chỉ hiềm cách xa hào 5 mà lại ở sát ngay trên hào 1, dương , bị 1 níu kéo, cho nên còn ở trong cảnh truân chuyên (khó khăn). Nhưng đừng ngại, hào 1 có tư cách quân tử , không phải là kẻ xấu muốn hảm hại mình, chỉ muốn cưới mình thôi (1 là dương, 2 là âm). Đừng nhận lời, cứ giữ vững chí, mươi năm nữa sẽ kết hôn với hào 5.

Chữ tự [ 字 ] ở đây nghĩa là gả chồng. Theo kinh Lễ, con gái tới tuổi gã chồng thì cài trâm và đặt tên tự.

六 三: 即 鹿, 无 虞, 惟 入 于 林 中. 君 子 幾, 不 如 舍, 往 吝 .

Lục tam: Tức lộc, vô ngu, duy nhập vu lâm trung. Quân tử cơ, bất như xả, vãng lận.

Dịch: Hào 3 âm: đuổi hươu mà không có thợ săn giúp sức thì chỉ vô sâu trong rừng thôi (không bắt được). Người quân tử hiểu cơ sự ấy thì bỏ đi còn hơn, cứ tíếp tục tiến nữa thì sẽ hối hận.

Giảng: Hào 3 là âm, ở dương vị, bất chính bất trung; tính chất đã không tốt mà ở vào thời truân; hào 6 ở trên cũng là âm nhu không giúp được gì mình, như vậy mà cứ muốn làm càn, như người ham đuổi hươu mà không được thợ săn giúp (chặn đường con hươu, đuổi nó ra khỏi rừng cho mình bắt) thì mình cứ chạy theo con hươu mà càng vô sâu trong rừng thôi. Bỏ đi là hơn.

六 四: 乘 馬 班 如 . 求 婚 媾, 往 吉, 无 不 利 .

Lục tứ: Thừa mã ban như. Cầu hôn cấu, vãng cát, vô bất lợi.

Dịch: Hào 4, âm: cưỡi ngựa mà dùng dằng. Cầu bạn trăm năm (hay đồng tâm) ở dưới (ở xa) thì không gì là không tốt.

Giảng: Hào này âm nhu, đắc chính là người tốt nhưng tài tầm thường, gặp thời Truân không tự mình tiến thủ được. Tuy ở gần hào 5, muốn cầu thân với 5, nhưng 5 đã ứng với 2 rồi, thế là 4 muốn lên mà không được, như người cưỡi ngựa muốn tiến mà dùng dằng. Chu Công khuyên hào 4 nên cầu hôn với hào 1 ở dưới thì hơn: (vì 1 có tài đức) mà cùng nhau giúp đời, không gì là không lợi.

Chúng ta để ý: cặp 5-2 rất xứng nhau, cả hai đều đắc chính, đắc trung, rất đẹp, cặp 4-1 không đẹp bằng: 4 bất trung, kém 2; cho nên phải kết hợp với 1 ở dưới, 1 tuy ở dưới mà đắc chính, như vậy là xứng đôi. Đó là luật: “dĩ loại tụ”, họp với nhau thì phải xứng nhau, đồng tâm, đồng đạo.

九 五: 屯 其 膏; 小 貞 吉, 大 貞 凶 .

Cửu ngũ: Truân kì cao; tiểu trinh cát, đại trinh hung

Dịch: Hào 5, dương: Ân trạch không ban bố được (nguyên văn: dầu mỡ (cao) không trơn (truân), chỉnh đốn việc nhỏ thì tốt, việc lớn thì xấu.

Giảng: Hào cửu ngũ này vừa chính vừa trung, ở địa vị chí tôn, đáng lẽ tốt; nhưng vì ở trong thời gian truân (quẻ Truân) lại ở giữa ngọai quái là Khảm, hiểm, nên chỉ tốt vừa thôi. Hào 2 tuy ứng với nó nhưng âm nhu , không giúp được nhiều; lại thêm hào 1 ở dưới, có tài đức, được lòng dân, uy quyền gần như lấn 5, mà ân trạch của 5 không ban bố khắp nơi được. Cho nên 5 phải lần lần chỉnh đốn các việc nhỏ đã, đừng vội làm việc lớn mà hỏng.

Nghĩa là tuy có tài đức, có địa vị, nhưng cũng phải đợi có thế có thời nữa.

上六: 乘 馬 班 如, 泣 血 漣 如 .

Thượng lục: Thừa mã ban như, khấp huyết liên như.

Dịch: Hào trên cùng âm. Cưỡi ngựa mà dùng dằng, khóc tới máu mắt chảy đầm đìa.

Giảng: Hào này ở trên cùng, là thời gian truân tới cực điểm. Nếu là hào dương (có tài trí) thì gian truân cùng cực sẽ biến thông; nhưng hào này là hào âm, bất tài, bất trí, nhu nhược, chỉ biết lên lưng ngựa rồi mà vẫn dùng dằng mà khóc đến chảy máu mắt (Hào tuy ứng với hào 6 nhưng cũng âm nhu, chẳng giúp được gì)

*

Đọc xong ba quẻ đầu này chúng ta cũng đã thấy: thể của hào chỉ cò: âm và dương, vị của hào chỉ có 6: từ hào sơ đến hào thượng; nhưng ý nghĩa mỗi hào rất thay đổi, tùy ý nghĩa của trọn quẻ, cho nên hào 1 dương quẻ Càn không giống hào 1 dương quẻ Truân; hào 5 dương quẻ Truân cũng không giống hào 5 dương quẻ Càn; hào 2 âm quẻ Khốn không giống hào đó quẻ Truân, hào 6 âm quẻ Truân cũng không giống hào đó qủe khôn. ý nghĩa của quẻ quyết định ý nghĩa của hào, nói cách khác: quẻ là cái thời chung của các hào, mà hào là mỗi việc, mỗi hoàn cảnh trong thời chung đó.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

3. 水 雷 屯    THỦY LÔI TRUÂN   

Truân Tự Quái屯 序 卦
Hữu thiên địa.有 天 地
Nhiên hậu vạn vật sinh yên.然 後 萬 物 生 焉。
Doanh thiên địa chi盈 天 地 之
Gian giả duy vạn vật.間 者 唯 萬 物
Cố thụ chi dĩ Truân.故 受 之 以 屯
Truân giả doanh dã.屯 者 盈 也

Truân Tự Quái

Đất trời rồi mới quần sinh.

Quần sinh đầy dẫy, quán doanh đất trời.

Truân là sơ khởi pha phôi.

Truân là muôn vật sinh sôi tràn đầy.

Truân là vạn vật chào  đời. 

Truân có hai nghĩa:  1. Là đầy dẫy. 2. Truân chiên vất vả. Truân, nếu là thời kỳ đất trời vừa thoạt giao nhau, làm cho vạn vật nẩy sinh đầy dẫy khắp nơi, nhưng chính vì Âm Dương vừa thoạt giao nhau, nên sinh khí còn uất kết, chưa thông suốt.

Truân tượng trưng cho bước truân chiên (truân chuyên) thuở ban đầu, quẻ Truân là hoạt động trong nguy hiểm.

Truân đối với vũ trụ, là thời kỳ thiên địa sơ khai, vạn vật bắt đầu sinh. Truân đối với cá nhân, là lúc sơ sinh, ấu trĩ. Truân đối với quốc gia là thời kỳ khai quốc, sáng nghiệp . . .

 Truân là thời kỳ gian nan, vất vả lúc ban đầu, khác với Kiển là gian nan lúc giữa cuộc, khác với Khốn là khốn khổ lúc chung cuộc, khác với Khảm là gian nan, hoạn nạn nói chung. 

I. Thoán.

Thoán Từ: 

屯:元,亨,利,貞,勿用,有 攸 往,利 建 侯。 

Truân. Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Vật dụng hữu du vãng. Lợi kiến hầu

Dịch.

Truân chiên vất vả lúc ban đầu.

 Nhưng sẽ hanh thông vận hội sau,

 Phải biết bền gan đừng vọng động

Tìm người trợ giúp, ích bền lâu.

Tuy nhiên, dầu có gian nan, nhưng rồi ra các trở ngại sẽ như băng tan, tuyết tán, các rối ren sẽ được tháo gỡ, mọi chuyện éo le, trắc trở, nhờ tài kinh luân của con người biết tạo thời thế sẽ được giải quyết êm xuôi. 

Thoán Truyện viết:

屯,剛 柔 始 交 而 難 生,動 乎 險 中,大 亨 貞。雷 雨 之 動 滿 盈,天 造 草 昧,宜 建 侯 而 不 寧。

Truân cương nhu thủy giao nhi nạn sinh. Động hồ hiểm chung. Đại hanh trinh. Lôi vũ chi động mãn doanh. Thiên tạo thảo muội. Nghi kiến hầu nhi bất ninh. 

Dịch.

Thoán rằng:

Cương, nhu vừa mới giao nhau

Truân chuyên, trắc trở bắt đầu nẩy sinh.

Mưu đồ giữa buổi điêu linh,

Bền gan sẽ thấy tiền trình hanh thông.

Mưa rơi, sấm động trập trùng,

Muôn loài nhờ đó tưng bừng nẩy sinh.

Vận trời rối rắm, u minh,

Tìm người phụ bật, riêng mình chớ ngơi.

Cho nên, thấy khó khăn đừng vội thất vọng, mà phải biết một dạ sắt son, giữ cho tròn Đạo lý, phải lo tìm cách gỡ rối, lo tìm người đồng tâm, đồng chí chung sức tái tạo non sông. Phương châm hoạt động lúc này, là phải biết tìm ra nguyên nhân của rối ren, tao loạn, hoạch định những phương sách phò nguy, cứu khổ cho rõ ràng, tìm người phụ bật cho hay, lựa thời thế thuận tiện, mới ra tay lèo lái, chớ đừng nhắm mắt làm liều. 

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰: 云,雷,屯 . 君 子 以 經 綸。

Tượng viết:  

Vân lôi. Truân. Quân tử dĩ kinh luân.

Dịch.

Tượng rằng: Mây, Sấm là Truân,

Hiền nhân phải biết kinh luân, mới tài.

Gặp buổi truân chiên, quân tử hãy ra tay gỡ rối, phải dùng hết trí lực, tài ba mà lo xoay chiều thế cuộc. 

III. Hào  Từ & Tiểu Tượng Truyện.

1. Hào  Sơ Cửu.

初 九: 磐 桓 , 利 居 貞,利 建 侯。 

象 曰: 雖 磐 桓,志 行 正 也。以 貴 下 賤,大 得 民 也。

Sơ Cửu. Bàn hoàn. Lợi cư trinh. Lợi kiến hầu.

Tượng viết: 

Tuy bàn hoàn. Chí hành chính dã. Dĩ quí hạ tiện. Đại đắc dân dã.

Dịch.

Hào  Sơ, dùng dắng, ngỡ ngàng,

Hay thay, chính Đạo tâm xoang chẳng rời,

Hay thay, phụ bật gặp người.

Tượng rằng:

Dùng dắng, ngỡ ngàng,

Nhưng mà chính Đạo quyết mang thi hành.

Phẩm cao mà lại hạ mình,

Quí người bề dưới, dân tình vui theo.

 Gặp buổi truân chiên, nếu mình có chân tài, lại khôn ngoan, cương quyết, biết chiêu hiền đãi sĩ, biết hạ mình phục vụ dân, cố chinh phục lòng dân, thì sẽ có ngày lãnh đạo được dân.

2. Hào  Lục nhị.

六 二:     屯 如 邅 如,乘 馬 班 如。匪 寇 婚 媾,

              女 子 貞 不 字,十 年 乃 字。 

象 曰:     六 二 之 難,乘 剛 也。 十 年 乃 字,反 常 也。

Lục nhị: Truân như chiên như. Thừa mã ban như.

Phỉ khấu hôn cấu. Nữ tử trinh bất tự. Thập niên nãi tự.

Tượng viết: 

Lục nhị chi nạn. Thừa cương dã. Thập niên nãi tự. Phản thường dã.

Dịch.

Truân Lục nhị như quanh, như quẩn,

Ngựa cỡi rồi, dùng dắng chẳng đi,

Đó đành chẳng phải gian phi,

Cùng ta những muốn sính kỳ duyên may.

Nhưng trinh trắng, gái này đã quyết,

Quyết bền gan, tiết liệt chờ ai,

Mười năm ta vẫn chờ người.

Tượng rằng:

Hào  nhị gặp gian nan,

Là vì lâm cảnh cưỡi Dương cương.

Mười năm nếu biết chờ phối ngẫu,

Rồi ra vận số sẽ như thường.

Nếu mình là người có tài đức, xứng đáng là bậc lương đống quốc gia sau này, hãy biết bền gan chờ minh chúa, chớ đừng nghe lời dụ dỗ, chào  mời của những kẻ tá ơn.  

3. Hào  Lục tam.

六 三:      既 鹿 無 虞,惟 入 于 林 中,君 子 几 不 如 舍,往 吝。

象 曰:    既 鹿 無 虞,以 縱 禽 也。君 子 舍 之,往 吝 窮 也。 

Lục tam:  Tức lộc vô ngu. Duy nhập vu lâm trung.

Quân tử cơ. Bất như xả. Vãng lận.

Tượng viết: 

Tức lộc vô ngu. Dĩ tùng cầm dã. Quân tử xả chi. Vãng lận cùng dã.

Dịch.

Săn hươu thiếu kẻ thuộc đường rừng,

Xông xáo rừng sâu lạc ở trong,

Quân tử thấy thời chưa thuận tiện,

Cho nên dùng dắng, chửa ra công.

Nếu đi liều lĩnh lung tung,

Làm sao tránh khỏi uổng công, nhọc lòng.

Tượng rằng:

Săn hươu thiếu kẻ thuộc đường rừng,

Cũng bởi ham mồi ruổi tứ tung,

Quân tử biết thời, không ruổi bắt,

Ruổi rong âu chỉ tổ hoài công.

Những  người  bất tài, lại  không  người phụ bật, mà lại tham danh, tham lợi, không biết gì thời thế mà đòi nhảy ra khua môi, múa mỏ, vỗ ngực vì nước, vì dân, phò nguy, cứu khổ, chắc là đi đến chỗ thất bại. . . 

4. Hào  Lục tứ.

六 四 :    乘 馬 班 如,求 婚 媾,無 不 利 。 

象 曰:   求 而 往,明 也。

Lục tứ. Thừa mã ban như. Cầu hôn cấu. Vãng cát. Vô bất lợi.

Tượng viết: 

Cầu nhi vãng. Minh dã. 

Dịch.

Cưỡi ngựa dùng dằng, chưa muốn bước,

Cố tìm cho được hảo hôn nhân,

Tế Truân lý hiểm, xoay vận nước,

Rồi ra mọi sự sẽ êm dầm.

Tượng rằng: Một dạ cầu hiền,

Rồi ra hóa giải truân chuyên cho đời.

Thế là sáng suốt mấy mươi.

Có những người giữ địa vị cao trong chính trường, nhưng bất tài. Nhưng nếu họ thực lòng vì dân, vì nước, biết hạ mình cầu hiền, cố tìm cho ra những người  hay, người giỏi, để cùng mình cộng tác, như vậy cũng là một hành động khôn ngoan cho đất nước.  

5.  Hào  Cửu ngũ.

九 五 : 屯 其 膏,小 貞 吉,大 貞 凶。

象 曰: 屯 其 膏,施 未 光 也。 

Cửu ngũ. Truân kỳ cao. Tiểu trinh cát. Đại trinh hung.

Tượng viết: 

Truân kỳ cao. Thi vị quang dã.

Dịch.

Truân muốn thi ân cũng khó lòng.

Từ từ chỉnh đốn, mới nên công,

Thế hiểm mà toan mưu đại sự.

Tránh sao cho khỏi những điều hung.

Tượng rằng: Thi ân mà cũng khó lòng,

Nghĩa là chưa được quảng thông xa gần.

Làm đầu một nước, nhiều khi cũng chẳng nắm trọn quyền, đôi khi cũng chẳng ảnh hưởng đến đời, đến dân được bao lăm. Đó là trường hợp na ná như vua Lê, chúa Trịnh nước ta: Vua ở ngôi, Chúa nắm quyền (Thiên hạ phân qui nhị chủ). Nhà vua có thể là người có tài đức, nhưng quần thần, thủ túc, không ai là kẻ có tài. Trong trường hợp này, nhà vua nên nhẫn nhục, làm những công việc nho nhỏ, mới có cơ bền vững. Còn muốn làm những chuyện to lớn sẽ chuốc lấy bại vong.

Gương lịch sử còn đó, Vua Lê Cảnh Hưng biết chịu đựng, có thể ngồi lặng ở ngôi 46 năm. Đó là Tiểu trinh cát. Vua Lê Chiêu Thống vì muốn thanh toán họ Trịnh và nhà Nguyễn Tây Sơn, nên đã mang hận táng thân nơi đất khách.. Đó là Đại trinh hung. 

6. Hào Thượng Lục.

上 六 : 乘 馬 班 如,泣 血 漣 如。象 曰:泣 血 漣 如,何 可 長 也

Thượng Lục. Thừa mã ban như. Khấp huyết liên như.

Tượng viết:

Khấp huyết liên như. Hà khả trường dã.

Dịch.

Cưỡi ngựa dùng dằng, khôn tiến bước,

Huyết lệ đôi dòng chẩy chẳng thôi

Tượng rằng: Huyết lệ tuôn rơi.

Làm sao có thể lâu dài mà mong.

Như gặp thời vận quá suy, mà mình lại tài hèn, sức bạc, làm sao cứu vãn được cơ trời. Thế là rỏ huyết lệ ngồi nhìn cảnh suy vong. Thơ rằng:

Muốn nói nhưng mà nói với ai?

Muốn làm, ai kẻ bạn đường đời!

Gia vong, quốc phá, niềm thương hận,

Huyết lệ đôi dòng gửi khúc nhôi !      

ÁP DỤNG QUẺ TRUÂN VÀO THỜI ĐẠI

Quẻ Truân nói lên tình trạng Truân chuyên (khó khăn) lúc ban đầu của những người muốn lập sự nghiệp. 

    I. Những người muốn dùng Chính trị làm sự nghiệp.

Khi nếp sống ở nơi định cư đã được yên ổn, thì con người bắt đầu nghĩ đến xây dựng lại sự nghiệp đã mất.

Có người vì muốn bảo vệ cho đồng bào ruột thịt của mình được hữu hiệu, nên họ đã nghĩ cách chen chân vào chính quyền của dân bản xứ, họ đầu đơn ứng cử nghị viên, dân biểu vv… Họ thành công hay thất bại không quan trọng, nhưng quan trọng nhất là họ đã đi đúng đường, vì họ có mục tiêu rõ rệt là nếu thành công họ có thể bảo vệ đồng bào của họ một cách đường hoàng, hữu hiệu nơi xứ người.

Nhưng lại có 1 số người khác, không có chính kiến, hay lập trường gì rõ rệt, nhưng lại thích làm chính trị, thích  a dua theo bè phái, họ theo mà không rõ theo cái gì? 

  Họ sống trong mộng ảo là có thể nhờ tụ họp bè nọ, phái kia, may ra  có thể tiến hơn. Những người này là những người rất dễ bị bọn Hoạt đầu chính trị, tham tâm, mưu lợi, lợi dụng họ. Họ chỉ theo vì a dua, chứ không bao giờ chịu suy nghĩ rằng: những người muốn cầm đầu mình, lơi dụng mình đó, thực ra họ có tài năng, đức độ, kinh nghiệm không?  và họ có chính kiến gì không?  Nơi đây có môi trường gì để họ hoạt động? Nếu có, thì chính kiến của họ đúng hay sai?  Nếu không có, thì hoạt động sẽ đi đến đâu?

Thực ra, trên đời này Làm chính trị đâu có dễ. Người có tâm huyết làm Cách Mạng như cụ Phan Bội Châu, được dân kính mến, cũng đành thúc thủ, huống chi những người không có chút tiếng tăm, hoặc tài năng gì. Hơn nữa ở nơi xứ người đâu có môi trường làm chính trị?  Cho nên, nếu ta nhẹ dạ, nghe theo lời họ, thì không biết sẽ còn đi đến đâu, nếu ta theo họ mà làm điều gì quá đáng. Sự thật, cầm đầu một gia đình còn khó, huống hồ làm việc đại sự.  

II. Những người gây dựng sự nghiệp bằng thương mại.

A. Người có tài thực sự, nhưng lại thiếu người cộng tác. Những người này phải đi tìm người cộng tác, phải chịu trả lương cao để kéo người giỏi về mình. Nhưng nếu họ kiêu ngạo, coi rẻ, bóc lột tài năng người cộng tác, thì cũng chẳng đi tới đâu. Sự nghiệp của họ nếu thành công đi chăng nữa, thì sự thành công đó cũng không vững bền.

B. Người không có tài, nhưng lại có chí muốn gây dựng sự nghiệp. Những người này sẽ thành công, nếu họ biết tìm người tài năng hơn họ, biết cư xử khéo để lấy lòng người. Những người này, họ biết mình kém tài, thua kém người mà họ mời về cộng tác, nên họ không hợm hĩnh, kiêu ngạo, nếu họ lại tỏ ra rộng rãi với người cộng tác với họ, thì chắc chắn họ sẽ thành công. Tóm lại, Sự thành công ở đời không phải do tại số, hay do may mắn, mà phải nói thành công ở đời, ít nhất cũng phải tài giỏi về một phương diện nào đó vậy.

III. Người gây dựng sự nghiệp bằng sự chuyên cần học hành, nghiên cứu của mình.

Những người này là những người có óc thực tế, Họ biết lợi dụng sự giúp đỡ của chính quyền nước bạn, của sự thông minh, của sự chuyên cần nơi chính bản thân họ, để đạt đến mục đích của họ. Họ đã rất vất vả lúc ban đầu (có khi kéo dài cả 10 năm), vừa đi làm, vừa đi học; và nay đã có nhiều người, đã chiếm được địa vị khả quan trong xã hội người bản xứ. Nhiều người, trong số những người này đang đi vào con đường phát minh, nghiên cứu, ngõ hầu có thể mang tài năng mình ra để phụng sự cho nhân loại, cho dân tộc. Họ là những người đáng cho ta kính trọng, và xứng đáng là người dẫn dắt cho con em chúng ta mai sau. Họ là người biết dùng thời gian, biết xử dụng tài năng, biết xây dựng sự nghiệp cho mình một cách đúng cách.

IV. Những người xây dựng bằng sự nghiệp văn chương.

Những người này như con tầm nhả tơ, mang hết óc chất của mình ra để tạo ra những áng thơ, văn hoặc những sưu tầm nghiên cứu của mình, lòng chỉ mong có thể mang lại lợi ích gì cho thế hệ mai sau, nhưng như 2 câu thơ sau:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như.

(Ba trăm năm sau còn ai khóc Tố Như (Nguyễn Du)

Nhưng, những áng thơ gợi hình, gợi cảnh của truyện Kiều, khó làm ta quên được. Vẫn biết Văn chương hạ giới rẻ như bèo, nhưng những người cầm bút chân chính, vẫn không sao bỏ nghề được. Phải chăng đó là cái Nghiệp?

Chúng ta, những người đã đi, đang đi, và sắp đi vào con đường xây dựng sự nghiệp ở trên, mong rằng hãy suy nghĩ kỹ càng, rồi mới hành sự, cũng chưa muộn vậy.  

Chương 5: Quẻ THUẦN KHÔN
Chương 7: Quẻ SƠN THỦY MÔNG
Chia Sẻ Bài Viết