Chương 60: Quẻ THUẦN TỐN

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ THUẦN TỐN

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

Quẻ Thuần Tốn, đồ hình :||:|| còn gọi là quẻ Tốn (巽 xun4), là quẻ thứ 57 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☴ (:|| 巽 xun4) Tốn hay Gió (風).

* Ngoại quái là ☴ (:|| 巽 xun4) Tốn hay Gió (風).

Giải nghĩa: Thuận dã. Thuận nhập. Theo lên theo xuống, theo tới theo lui, có sự giấu diếm ở trong. Âm dương thăng giáng chi tượng: khí âm dương lên xuống giao hợp.

Lâm vào cảnh ở quê người thì thái độ nên thuận tòng người, cho nên sau quẻ Lũ tới quẻ Tốn. Tốn là gió mà có nghĩa là thuận, là nhập vào.

Thoán từ

巽: 小亨, 利有攸往, 利見大人.

Tốn: tiểu hanh, lợi hữu du vãng , lợi kiến đại nhân.

Dịch: Thuận thì hơi được hanh thông, tiến hành thì có lợi, lựa bậc đại nhân mà tin theo thì có lợi.

Giảng: Quẻ này có một hào âm ở dưới hai hào dương, là âm phục tòng dương, nên gọi là Tốn. tiểu nhân mà phục tòng quân tử thì có thể tốt, nhưng phải có việc để tíến hành, chứ không phải chỉ ở yên mà tốt, lại phải lựa bậc đại nhân (có tài, đức) mà tin theo. Đại nhân trỏ hào 2 và hào 5, cũng mà dth, tiểu nhân là hào 1 và hào 4. Nhất là hào 5, đắc trung lại đắc chính nữa, 1 và 4 đều phải theo hào đó.

Đại tượng truyện giảng: trên là gió, dưới là gió (Tốn), là có hai luồng gió tiếp tục theo nhau. Người quân tử tiếp tục xuất phát mệnh lệnh để thi hành chính sự, mà thiên hạ phục tòng, cũng như vạn vật ngả theo gió.

Hào từ

1. 初六: 進退, 利武人之貞.

Sơ lục: tiến thoái, lợi vũ nhân chi trinh.

Dịch: Hào 1, âm: Tiến lui tự do, thêm vào cái chí hướng bền của hạng võ dũng thì có lợi.

Giảng: Hào này âm nhu ở dưới cùng quẻ Tốn là người nhu thuận thái quá, còn nghi ngờ, không cương quyết tiến hay lui, không thể làm gì được; Hào từ khuyên phải theo cái chí kiên cường của hạng người võ dũng thì mới trị được tật nghi hoặc.

2. 九二: 巽在床下, 用史巫 紛若, 吉,无咎.

Cửu nhị: Tốn tại sàng hạ, dụng sử vu phân nhược, cát, vô cữu.

Dịch: Hào 2, dương: Thuận nép ở dưới giường, dùng vào việc lễ bái, đồng cốt rối ren thì tốt, không có lỗi.

Giảng: Hào dương mà ở vào vị âm thời Tốn (thuận), nên quá thuận đến nỗi nép ở dưới giường. May àm đắc trung, không phải là kẻ siểm nịnh, mà lại có lòng thành; trong việc tế thần, mà như vậy thì tốt, không có lỗi. “sử” là chức quan coi việc tế, “Vu” là chức quan coi về việc trừ tai hoạ, như đồng cốt. “Phân nhược” (rối ren) dùng để tả việc cúng tế, cầu thần.

3. 九三: 頻巽吝.

Cửu tam: Tần tốn, lận.

Dịch: Thuận tòng quá nhiều lần (quá mức), đáng xấu hổ.

Giảng: Hào này quá cương (dương ở vị dương), bất đắc trung, vốn nóng nảy, kiêu căng, thất bại nhiều lần, sau mới làm bộ tự hạ, thuận tòng, nhưng lại thuận tòng quá mức, việc gì cũng thuận tòng dù không phải lúc, đáng xấu hổ, R. WilheLm giảng: suy nghĩ đi suy nghĩ lại nhiều lần kĩ quá, mà không quyết định hành động, xấu hổ.

4. 六四: 悔亡, 田獲三品.

Lục tứ: Hối vong, điền hoạch tam phẩm.

Dịch: Hào 4, âm: Hối hận mất đi; đi săn về, được chia cho ba phần.

Giảng: Hào này âm nhu, hào 1 ứng với nó cũng âm nhu, không giúp gì được nó, mà lại bị kẹt giữa 4 hào dương ở trên và dưới, xấu; nhưng nhờ nó đắc chính, địa vị cao (ở ngoại quái, sát hào 5) mà lại có đức tự khiêm, thuận tòng, nên được trên dưới mến, chẳng những không có gì hối hận mà còn được thưởng công. Thời xưa đi săn về, chia làm 3 phần (phẩm vật): một phần để làm đồ tế, một phần để đãi khách, một phần giao cho nhà bếp. Có công lớn mới được chia như vậy.

5. 九五: 貞吉, 悔亡, 无不利, 无初有終.

先庚三日, 後庚三日.吉.

Cửu ngũ: Trinh cát, hối vong, vô bất lợi, vô sở hữu chung.

Tiên canh tam nhật, hậu canh tam nhật, cát

Dịch: Hào 5, dương : giữ đạo chính thì tôt, hối hận mất đi, không có gì là không lợi, mới đầu không khá mà cuối cùng tốt; (đinh ninh như ) trước ngày canh ba ngày, (đắn đo như) sau ngày canh ba ngày, tốt.

Giảng: Hào này ở thời Tốn, phải thuận tòng, mà bản thể và vị đều là dương cả, mới đầu không tốt (vô sợ), e có điều hối hận, may mà đắc trung, đắc chính, hợp với tư cách một vị chủ, cứ giữ đức trung, chính ấy thì sau sẽ tốt (hữu chung), hối hận mất hết mà không có gì không lợi. Tuy nhiên, muốn kêt quả được tốt thì trước khi hành động, canh cải, phải đinh ninh cân nhắc cho kỹ, rồi sau khi canh cải phải khảo nghiệm chu đáo.

Trong thập can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh Tân, Nhâm, quí, Canh đứng hàng thứ 7, quá giữa, tới lúc phải thay đổi. (chữ Canh trong hào từ 庚cũng dùng như chữ Canh 更 là đổi) Ba ngày trước ngày Canh là ngày Đinh, chữ Đinh 丁 này mượn nghĩa chữ đinh 叮嚀 (đinh ninh); ba ngày sau ngày Canh là ngày Quí, chữ quí này 癸 mượn nghĩa chữ quĩ 揆度 (quĩ đạc là đo lường)

Cách dùng chữ ở đây cũng như cách dùng chữ trong Thoán từ quẻ Cổ.

6. 上九: 巽在床下, 喪其資斧, 貞凶.

Thượng cửu: Tốn tại sàng hạ, táng kì tư phủ, trinh hung.

Dịch: Hào trên cùng, dương: Thuận nép ở dưới giường, mất đồ hộ thân, cứ giữ thói xấu đó thì càng bị hoạ.

Giảng: Ở trên cùng quẻ Tốn là thuận tòng đến cùng cực như kẻ nép ở dưới giường; tới nỗi đức dương cương – ví với đồ hộ thân (tư phủ) của mình cũng mất luôn. Cứ giữ thói xấu xa, đê tiện, siểm nịnh đó thì càng bị hoạ.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

57. 巽 為 風   TỐN VI PHONG  

        Bát thuẦn TỐn

Tốn Tự Quái巽 序 卦
Lữ nhi vô sở dung.旅 而 物 所 容 .
Cố thụ chi dĩ Tốn.故 受 之 以 巽 .
Tốn giả nhập dã.巽 者 入 也

Tốn Tự Quái

Lữ mà chẳng chốn đường vào.

Lữ mà chẳng có chốn nào dung thân.

Cho nên Tốn mới theo chân,

Tốn vào, vả lại có phần sướng vui. 

Sau quẻ Lữ là quẻ Tốn, vì lẽ rằng khi cô thân, chích ảnh nơi quê người, khi lữ thứ, tha hương, mà không có chốn dung thân, thời phải từ tốn, mềm mỏng, khéo léo, mới có thể gây được cảm tình, mới chinh phục được lòng người.

Tốn có nhiều nghĩa: *Cây, *Gió, *Mệnh lệnh, *Mềm mại, *Từ tốn, *Xâm nhập, *Lọt vào v.v … 

Nơi quẻ Tốn này, ta thấy Kinh, Truyện, và các lời Bình Giải, đều đề cập đến các nghĩa trên;  ngoại trừ nghĩa Tốn là Cây. Gió thổi ra muôn phương, làm cây cỏ rạp theo chiều. Mệnh lệnh truyền ra muôn phương, làm dân chúng phải hoạt động theo chiều hướng, và ý muốn của nhà vua. Vì thế Tốn vừa là Gió, vừa là Mệnh Lệnh.

Ta có thể ảnh hưởng đến người, bắt người theo ý mình, bằng những đường lối dã man, tàn bạo, nhưng ta có thể ảnh hưởng đến người, khiến người theo ý mình, bằng đường lối mềm mại, khéo léo, ngon ngọt, dỗ dành, bằng cách nói đi, nói lại một ý tưởng. Quẻ Tốn có ý dạy ta dùng cách thẩm thấu từ tốn này.

I. Thoán.

Thoán từ.

巽 . 小 亨 . 利 有 攸 往 . 利 見 大 人 .

Tốn. Tiểu  hanh. Lợi hữu du vãng. Lợi kiến đại nhân.

Dịch.

Tốn là từ tốn nhẹ nhàng,

Nhỏ nhoi, nhưng vẫn có đàng hanh thông.

Làm gì cũng lợi, chẳng không,

Đại nhân gặp được, mới mong lợi nhiều.

Từ tốn mà hành sự, sẽ không thâu lượm được kết quả mạnh mẽ, nhãn tiền (Tốn. Tiểu hanh), nhưng sẽ giúp ta nên công lâu dài (Lợi hữu du vãng). Nhất là khi sự từ tốn, mềm dẻo, lại được một người giỏi giang đem áp dụng (Lợi kiến đại nhân). Nã Phá Luân cai trị nước Pháp, sau thời kỳ Cách Mạng 1789, một thời kỳ nổi tiếng là bài xích quân quyền và Đạo Giáo. Nã Phá Luân biết đó là nền móng chia rẽ, và loạn lạc trong nước, nên ông hết sức khéo léo để hàn gắn lại những sự rạn nứt, đổ vỡ ấy.

Ông chỉ trích những đạo luật Cách Mạng quá khích. Ông khen những người theo phái Cần Vương, vì đã dám chống lại một chính quyền hà hiếp, áp chế. Ông cho lập lại Công giáo ở Pháp, và ký thỏa ước với Giáo Hoàng. Nhờ cách xử trí khéo léo đó, mà ngày lễ Phục Sinh 18/4/1802, khi ông tới nhà thờ Notre Dame de Paris, Hồng Y Giáo chủ Belloy đã ra đón mừng ông, và các chuông trên nhà thờ đều được kéo vang lừng để đón chào ông, đánh dấu một sự cộng tác thành thực giữa Đạo giáo và Chính quyền.

Ngự Án giải Tốn là xâm nhập. Tốn có hai Hào Dương trên một Hào Âm. Thế là Dương thâm nhập vào Âm để đánh tan ảnh hưởng xấu của Âm, có vậy Âm Dương mới hòa hợp với nhau được.

-Trên trời thì gió lùa vào mây để đánh tan mây mù.

-Nơi con người thì cố đi sâu vào lòng người, để cố tìm hiểu mọi nỗi uẩn khúc, tà vậy, mà sửa chữa.

-Trong xã hội, thì len lỏi vào các gian đảng, vào các tệ đoan để mà hoá giải, khử trừ v.v…

Ta ghi nhận ý kiến của Ngự Án, nhưng vẫn tiếp tục giải Tốn là Từ tốn. Tóm lại: 

-Từ Tốn là phương pháp để lấy lòng người.

-Tốn cũng có nghĩa là Tiểu nhân phục tòng Quân tử.

-Tốn cũng có nghĩa là thâm nhập để chinh phục lòng người dần dà, để cải hoá dần dà phong tục xã hội.  

Thoán Truyện. Thoán viết. 

彖 曰 .   重 巽 以 申 命 . 剛 巽 乎 中 正 而 志 行 . 柔 皆 順 乎 剛 .  

             是 以 小 亨 . 利 有 攸 往 .利 見 大 人 .

Trùng Tốn dĩ thân mệnh. Cương Tốn hồ trung chính nhi chí hành. Nhu giai thuận hồ cương. Thị dĩ tiểu hanh. Lợi hữu du vãng. Lợi kiến đại nhân.

Dịch.Thoán rằng:

Trên truyền mệnh lệnh, dưới theo,

Đinh ninh, trân trọng đâu người dể duôi,

Cương, nhưng theo đúng lẽ trời,

Nhu, nhưng biết thuận theo người đức cương.

Thế thời hanh vận, có đường,

Làm gì, âu cũng có phương thành toàn.

Đại nhân gặp  được mới ngoan,

Đại  nhân gặp được, mới mang  lợi nhiều.

Trên dưới đều Tốn (Trùng Tốn). Người trên khi ra mệnh lệnh cũng lắp đi lắp lại, để mệnh lệnh thực sự thâm nhập vào dân chúng (Thân mệnh). Chữ Thân có nghĩa là lắp đi, lắp lại. Càng nhắc đi, nhắc lại bao nhiêu, thì càng minh tâm, khắc cốt bấy nhiêu. Đạo giáo đã áp dụng định luật này, khi dạy dân tụng niệm, và chính trị ngày nay đã áp dụng định luật này, để tạo nên những phản ứng có điều kiện, mà như là phản ứng tự nhiên trong dân chúng.

Trong quẻ Tốn, Nhị, Ngũ, đều là Dương cương, lại đắc trung;  Sơ, Tứ đều là Âm nhu. Xét bản chất quẻ, ta thấy trên thì thuận theo nghĩa lý, dưới thì tùng phục cấp trên (Cương tốn hồ trung nhi chí hành. Nhu giai thuận hồ cương). Dùng phương cách mềm dẻo để hoán cải dân tình kết quả sẽ chậm chạp (Thị dĩ tiểu hanh), nhưng hãy cứ đường lối ấy mà thi hành, sẽ thâu hoạch được lợi ích dài lâu (Lợi hữu du vãng). Nếu gặp được người hay, người giỏi để thực thi chính sách trên, thì lại càng hay, càng tốt nữa (Lợi kiến đại nhân). 

II. Đại Tượng Truyện.

象 曰 .隨 風 . 巽 . 君 子 以 申 命 行 事 .

Tượng viết.

Tùy phong. Tốn. Quân tử dĩ thân mệnh hành sự.

Dịch. Tượng rằng:

Tốn là gió thổi theo nhau,

Lệnh truyền thấm thía, cho sâu mới tình.

Rồi ra lại phải thi hành,

Thi hành chính sự, hoàn thành mới thôi.

Gió  theo  nhau  là  Tốn. Quân  tử  theo  gương  đó, quảng bá mệnh lệnh bằng cách nhắc đi, nhắc lại để ghi tạc vào lòng dân, như vậy mới thực thi được chính sự.

Đọc Thoán và Truyện ta thấy Dịch chủ trương dùng phương pháp Tiệm tiến và thẩm thấu để ảnh hưởng đến thiên hạ. 

III. Hào từ & Tiểu Tượng Truyện

 Hào từ giải thích thế nào là từ tốn:

-Từ tốn không phải là do dự (Hào Sơ).

-Từ tốn không phải là khúm núm (Hào Nhị)

-Từ tốn không phải là ba phải, vô lập trường (Hào 3).

-Từ tốn là khéo léo, được lòng cả trên, lẫn dưới, mà mình vẫn hay, vẫn lợi (Hào 4).

-Từ tốn nhưng vẫn theo chính lý, hoạt động vẫn có phương sách, có chủ trương, có chuẩn bị, có kiểm soát để đi đến thành công (Hào 5).

-Từ tốn thái quá sẽ trở nên hèn hạ, sẽ tai hại (Hào 6).

1. Hào Sơ lục.

初 六 .      進 退 . 利 武 人 之 貞 .

象 曰 .      進 退 . 志 疑 也 . 利 武 人 之 貞 . 志 治 也 .

Sơ Lục. 

Tiến thoái. Lợi vũ nhân chi trinh.

Tượng viết:

Tiến thoái. Chí nghi dã. Lợi vũ nhân chi trinh. Chí trị dã.

 Dịch.

Dùng dằng, chẳng biết tiến lui,

Võ biền, từ tốn vậy thời lại hay

Tượng rằng:

Dùng dằng, chẳng biết tiến lui,

Là vì tâm trí pha phôi, nghi nàn,

Võ biền cương trực, thời ngoan,

Là vì tâm trí vững vàng, bình an.

Sơ Lục Âm nhu, lại ở dưới hết quẻ Tốn, nên khiến ta liên tưởng đến một người nghi nan do dự. Nhưng từ tốn không phải là do dự, là tiến thoái lưỡng nan (Tiến thoái). Phải chi một người vũ biền thay vì quá hăng hái, bốp chát, sống sượng, mà biết pha một chút ít từ tốn, thời hay biết mấy (Lợi vũ nhân chi trinh).

Tóm lại từ tốn không phải là do dự, mà chính là quả quyết.

Đây Tượng giải thích rõ:

Tiến thoái là lòng nghi nan do dự.

Lợi vũ nhân chi trinh là lòng quả quyết chắc chắn. Từ tốn đây là Tiên lễ hậu binh của các nhà lãnh đạo.

Nã Phá Luân nói với Roederel: Khi lập một dự án quân sự, thì không ai nhát gan hơn tôi. Tôi thổi phồng tất cả những nguy hiểm. Nhưng khi đã quyết định, thì quên hết mọi sự, chỉ cốt làm sao thực hiện được dự án đó mà thôi. 

2. Hào Cửu nhị.

九 二 .      巽 在  床 下 . 用 史 巫  紛 若 . 吉 . 無 咎 .

象 曰 .      紛  若  之  吉 .得 中 也 .

Cửu nhị. 

Tốn tại sàng hạ. Dụng sử vu phân nhược. Cát. Vô cữu.

Tượng viết: 

Phân nhược chi cát. Đắc trung dã.

Dịch.

Tốn mà nép xuống dưới giường,

Dùng đồng, dùng cốt mấy phường lăng  nhăng.

Nếu vì cầu đảo thành tâm,

Thế thời cũng tốt, chẳng lầm lỗi chi

Tượng rằng:

Lăng xăng, mà vẫn gặp lành,

Là vì tâm chính, ý thành hẳn hoi.

Cửu nhị. Từ tốn không phải là khúm núm (Tốn tại sàng hạ). Sự khúm núm chỉ có thể chấp nhận được, là khi đem tâm thành van vái thần minh, hoặc dùng các thầy bùa, thầy cúng đông đảo để nhương tai, cầu phúc (Dụng sử vu phân nhược). Sử là thầy cúng, Vu là thầy bùa. Phân nhược là nhiều, là đông.

Cái hay ở đây là vì đã đem hết lòng thành khẩn để mà cảm động được thần minh (Phân nhược chi cát. Đắc trung dã).

Ngự Án giải Hào nhị như sau:  Sàng hạ nghĩa là Âm tà, Âm nấp phía dưới, nên Nhập ư sàng hạ chính là tìm tòi, suy xét kỹ càng, để tìm ra duyên do thầm kín của những chếch mác dở dang, hoạ hại bên ngoài. Khi đã tìm ra duyên do rồi sẽ dùng các thầy bùa, thầy pháp hoá giải.

Đại khái chủ trương của Ngự Án cũng giống như chủ trương của Freud: Các căn do thầm kín của hoạ hại, một khi đã tìm ra được, đã đem phơi bầy ra ánh sáng, thì nó không gây được ảnh hưởng nữa.

Wilhelm, R.G.H.Siu, Legge giải giống Ngự Án. Tôi (tác giả) chủ trương bình giải theo lối cũ, vì như vậy mới ăn khớp với toàn quẻ.

3. Hào Cửu tam.

九 三 .      頻 巽 . 吝 .

象 曰 .      頻 巽 之 吝 . 志 窮 也 . 

Cửu tam. 

Tần tốn. Lận.

Tượng viết:

Tần tốn chi lận. Chí cùng dã.

Dịch.

Thuận tòng lia lịa, chẳng hay.

Tượng rằng:

Thuận tòng lia lịa, chẳng hay,

Chí cùng, mới đến nỗi này mà thôi.

Cửu tam. Tần tốn là từ tốn nhiều lần, nhượng bộ nhiều lần, như vậy đáng xấu hổ. Từ tốn đâu phải là không có lập trường. Cái dở của Hào này, chính là mới đầu thì ngông nghênh tự thị, sau vì thất bại liên miên, nên lại trở nên nhũn nhặn quá cỡ như vậy, chính là cùng đường chẳng biết xử trí ra sao (Tần tốn chi lận. Chí cùng dã).  

4. Hào Lục tứ.

 六 四 .    悔 亡 . 田 獲 三 品 .

 象 曰 .    田 獲 三 品 . 有 功 也 .

Lục tứ. 

Hối vong. Điền hoạch tam phẩm.

Tượng viết: 

Điền hoạch tam phẩm hữu công dã.

Dịch.

Việc gì mà phải phàn nàn,

Đi săn mà được, sẻ san ba phần.

Tượng rằng:

Đi săn mà được ba phần,

Công danh như vậy, tưng bừng còn chi.

Lục tứ là Âm Hào cư Âm vị, cho nên khéo xử, biết đường từ tốn, nhún nhường cho phải phép, vì thế nên khỏi mọi điều hối hận, phàn nàn (Hối vong), chẳng những thế mà còn nên công, nên việc nữa, chẳng khác nào người đi săn mà được cả ba phần muông chim, thế tức là hay, là lợi nhiều. Người xưa, chia muông chim săn được thành ba phần: 

– 1 phần dùng để tế lễ.

– 1 phần dùng để thết đãi tân khách.

– 1 phần dùng để cung cấp cho bếp núc.

Tượng Truyện giải: Từ tốn phải phép như vậy mới nên công (Điền hoạch tam phẩm hữu công dã). 

5. Hào Cửu ngũ.

九 五 .     貞 吉 . 悔 亡 . 無 不 利 . 無 初 有 終 .

               先 庚 三 日 . 后 庚 三 日 . 吉 .

象 曰 .     九 五 之 吉 . 位 正 中 也 .

Cửu ngũ. 

Trinh cát. Hối vong. Vô bất lợi. Vô sơ hữu chung.

Tiên canh tam nhật. Hậu canh tam nhật. Cát.

Tượng viết:

Cửu ngũ chi cát. Vị chính trung dã.

Dịch.

Một lòng trung chính, mới hay

Phàn nàn, hối hận, từ nay chẳng còn.

Làm gì cũng được vuông tròn,

Rồi ra, lợi ích thành toàn, xong xuôi.

Không đầu, nhưng lại có đuôi,

Thủy thời vô thủy, chung thời hữu chung.

Lo lường, tính chuyện, tính công,

Ba ngày sau trước, mới mong tốt lành.

Tượng rằng: Cửu ngũ mà hay,

Là vì trung chính, thẳng ngay một lòng.

Cửu ngũ đắc trung, đắc chính, nên là người từ tốn, mềm mỏng một cách khéo léo nhất, vì thế nên được mọi sự may mắn, lợi lộc, không có gì phải phàn nàn.(Trinh cát. Hối vong. Vô bất lợi).

Cửu ngũ trong quẻ Tốn, không chủ trương Cách mạng, xoá  bỏ mọi cơ cấu tiền chế, mà chỉ cải thiện lại một tình trạng đang suy đồi, là nối tiếp công trình của tiền nhân, bổ khuyết, cải thiện, chấn chỉnh, mong làm cho công trình ấy trở nên thành toàn, vì thế nói: Vô sơ hữu chung.

Vô sơ là không có khởi điểm, vì Cửu ngũ đây không phải người khai sơn, phá thạch, tạo dựng nên một cơ đồ, nhưng hữu chung là có chung điểm, vì với sự khéo léo, nhưng bền bỉ, Cửu ngũ đây hy vọng thành toàn được công trình còn dang dở. Nhưng trước khi bắt tay vào công trình cải thiện, và sau  khi đã thực hiện công trình cải  thiện, càng phải thận trọng. Trước khi muốn cải thiện, phải soạn thảo chương trình kế hoạch cho hẳn hoi, sau khi đã thực hiện công trình cải thiện, phải biết kiểm điểm, theo rõi (Tiên canh tam nhật. Hậu canh tam nhật. Cát).

 Vậy, mọi sự được hẳn hoi, là vì Củu ngũ xử sự đàng hoàng, đứng đắn (Cửu ngũ chi cát. Vị chính trung dã).

6. Hào Thượng Cửu.

上 九 .     巽 在 床 下 . 喪  其 資  斧 . 貞 凶 .

 象 曰 .    巽 在 床 下 . 上 窮 也 . 喪 其 資 斧 . 正 乎  凶  也 .

Thượng Cửu. 

Tốn tại sàng hạ. Táng kỳ tư phủ. Trinh hung.

Tượng viết:  

Tốn tại sàng hạ. Thượng cùng dã. Táng kỳ tư phủ. Chính hồ hung dã.

Dịch.

Tốn mà nép xuống dưới giường,

Mất rìu, mất của mọi đường chẳng hay,

Thế mà chẳng đổi, chẳng thay.

Tượng rằng:

Tốn là nép xuống dưới giường,

Thế là ti tốn, cùng đường còn chi.

Cả rìu, lẫn của mất đi.

Dầu rằng trinh chính, vẫn thì là hung.

Từ tốn quá hóa hỏng (Tốn tại sàng hạ). Phán đoán không còn được sáng suốt, rành rẽ, và sẽ mất cả của cải. (Táng kỳ tư phủ). Tư là tiền nong, Phu là búa rìu, tượng trưng cho sự phán đoán, quả quyết. Như vậy, dầu có chính trực cũng chẳng ra gì. Từ tốn thái quá, đến nỗi mất cả sự nghiệp, thì chắc là hung rồi, còn gì nữa (Tốn tại sàng hạ. Thượng cùng dã. Táng kỳ tư phủ. Chính hồ hung dã). 

Tóm lại, quẻ Tốn dạy ta phải Từ tốn để được lòng người, để ban bố mệnh lệnh, để thi hành chính sự, và chủ trương rằng Từ tốn đúng mức, chính là xử sự tế nhị, khéo léo, vừa được lòng người, vừa được việc mình.

Ngự Án (Vua Khang Hy) trong khi bình giải quẻ Tốn, đã đưa ra những ý kiến hết sức đáng lưu ý. Đó là:

1. Cần đi sâu vào tâm tư, để tìm cho ra những căn do thầm kín của những ảnh hưởng xấu. Chủ trương này, làm ta liên tưởng tới phương pháp phân tâm học của Freud.

2. Cần len lỏi vào các gian đảng, và các tệ đoan xã hội, để biết cách khử trừ chúng. Chủ trương này làm ta liên tưởng đến những hoạt động của những phóng viên, của những tổ chức an ninh chìm nổi ngày nay.

3. Cần phải đi sâu vào các vấn đề, để khai thác và tìm hiểu. Nhưng nếu suy tư, và cân nhắc quá, sẽ đâm rối rít, nghi nan, không còn quyết tâm thực hiện được nữa.

Những lời bình của Ngự Án, có thể giúp ích cho ta hiểu thêm được chuyện đời, và tổ chức xã hội. 

ÁP DỤNG QUẺ TỐN VÀO THỜI ĐẠI

Tốn là Gió, là Lọt vào, là Từ tốn. Nho giáo xưa sánh ảnh hưởng người quân tử, như là Gió, còn tiểu nhân như là Cỏ. Gió thổi thì cỏ phải lướt theo chiều (L. N. XII, 19)

1). Xưa, Vua Khang Hi ưa giải Tốn là Lọt vào, và ưa dùng quẻ Tốn như là cho người xâm nhập vào lòng các đảng phái, để biết lề lối làm việc của họ, và biết cách hoá giải họ.

2). Ngày nay, ta dùng phương pháp quảng cáo, tuyên truyền, nhắc đi nhắc lại trong dân chúng, để đi vào sự chú ý của họ, rất có hiệu lực, nhất là làm thương mại

3). Từ tốn để dung hòa trên dưới, rất cần trong mọi hoàn cảnh, cho các nhà chính trị, cho các cấp lãnh đạo trong chính quyền., để tránh độc tài chuyên chế áp bức dân chúng.

4). Dùng chính sách mềm dẻo, từ tốn để sửa sang lại những thói hư, tật xấu của xã hội. Sống từ tốn cho đúng cách cũng là một chuyện khó vậy.

Như vậy, ta thấy áp dụng Dịch có nhiều cách, càng rộng rãi, khéo léo, thời càng hay, càng tốt.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

57.Tốn vi phong

Ðại cương:

Tên quẻ: Tốn là thuận (thuận nhi nhập, thuận theo để đi vào một công việc gì, có mềm dẻo mới thành công).

Thuộc tháng 4.

Lời tượng

Tùy phong: Tốn. Quân tử dĩ thân mệnh hành sự.

Lược nghĩa

Gió theo nhau là quẻ Tốn (thuận) người quân tử lấy đấy mà tự ra mệnh lệnh để làm việc.

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi nạp giáp:

Tân: Sửu, Hợi, Dậu, Mùi, Tỵ, Mão

Lại sanh tháng 4 là cách công danh phú quý, sanh mùa xuân, mùa hạ cũng được phúc dày.

THƠ RẰNG:

Trên non không thấy mắt xanh,

Bên sông gặp gỡ tâm tình thương nhau.

Hàn vi sau ắt sang giàu

Nhờ ơn tri ngộ, công đầu hiển vinh.

Hào 1:

Tiến thoái, lợi vũ nhân chi trinh. Ý HÀO: Nên quả quyết.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Văn có tiến, võ có công, lợi ra ngoài trước nghịch, sau thuận.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Chỉ làm được việc nhỏ, làm lớn sẽ tai hại, về công kỹ nghệ cũng hay bỏ gốc thay ngọn. Ðược sức thợ thuyền.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Tiến thoái bất địch, kiêm quyền, trong khó có dễ. _Giới sĩ: Vào văn lợi hơn võ. _Người thường: Có cái mất cái được. Số xấu hay bị nghi ngờ dèm pha.

Hào 2:

Tốn tại sàng hạ, dụng sử vu, phân nhược cát, vô cữu. Ý HÀO: Ði đúng đường của người hiền làm việc nước.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Ðức lớn, biện pháp hay vẫn khiên tốn, công danh hiển đạt, có thể giữ chức thái tử, Ngự sử,

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Thì làm việc qui mô nhỏ thôi, hoặc làm thầy thuốc (I) thầy số, tăng ni, tâm sự đa đoan bất nhất.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Có thay đổi, hoặc sang ngành ngôn luận, sử quán. _Giới sĩ: Thành danh. _Người thường: Thành thực nên người cảm phục, kinh doanh được việc.

Hào 3:

Tần tốn, lận. Ý HÀO: Không khéo tốn thuận nên mắc lỗi.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Quá cương, không biết hạ mình xuống với người, lấy thế hiếp người, nên bị đời ghét.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Hay gây hấn, chọc hờn, kiêu hãnh, ngỗ ngược không ai chịu nổi.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Bị khiển trách, cách giáng. _Giới sĩ: Lo có sự tổn thất. _Người thường: Cùng khốn, càng hoạt động càng thất bại thêm xấu hổ.

Hào 4:

Hối vong, điền hoạch tam phẩm. Ý HÀO: Có công, thu hoặch được nhiều.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có tài do dự lớn, mà vẫn khiêm cung làm đến chức lớn lắm, hoặc tư lệnh quân đội ở thành môn, lập được quân công. Chiến thắng.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng là điền gia, Ông, sung túc, an vui tự tại.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Hoặc tổng chế ba quân ngoài biên hoặc; làm chức trông coi Tế tự. _Giới sĩ: Công danh thành tựu. _Người thường: Ðược lợi, được phúc.

Hào 5:

Trinh cát, hối vong, vô bất lợi, vô sơ hữu chung, tiên canh tam nhật, hậu canh tam nhật, cát. Ý HÀO: Có công nghĩa cả, lại biết hóa thiện nữa.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Biết đem công về ngay, đem quá về vừa, thẩm xét kỹ càng, tuổi thanh niên khó phát đạt, đến muộn tuổi thành công.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Tuy không được đại dụng nhưng cũng có thanh danh, việc phải làm đi làm lại, trước khó sau dễ.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Tiên trở hậu thuận việc phải có kỳ hẹn, mưu vọng có chuyển biến. _Giới sĩ: Nên danh. _Người thường: Có phúc, lợi.

Hào 6:

Tốn tại sàng hạ, táng kỳ tư phủ, trinh, hung. Ý HÀO: Quá tốn thuân, nên xấu.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Khiêm tốn tự hạ làm cho kẻ cường bạo cũng mến phục, tuy không được đắc dụng, cũng giữ được bản thân.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Thô lậu, vất vả, tai ách đến.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức và giới sĩ: Thôi việc, tổn hại đến cùng. _Người thường: Có lo tổn, nhưng số tốt thì trong xấu có người cứu giúp, nơi đất chết lại tìm ra sống, công thành vui vẻ.

Chương 59: Quẻ HỎA SƠN LỮ
Chương 61: Quẻ THUẦN ĐOÀI
Chia Sẻ Bài Viết