Chương 62: Quẻ PHONG THỦY HOÁN

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

64 quẻ dịch lấy từ cuốn “Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

Quẻ PHONG THỦY HOÁN

“Kinh Dịch – Đạo Của Người Quân Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê.

:|::|| Phong Thủy Hoán (渙 huàn)

Quẻ Phong Thủy Hoán, đồ hình :|::|| còn gọi là quẻ Hoán (渙 huan4), là quẻ thứ 59 trong Kinh Dịch.

* Nội quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm hay Nước (水).

* Ngoại quái là ☴ (:|| 巽 xun4) Tốn hay Gió (風).

Giải nghĩa: Tán dã. Ly tán. Lan ra tràn lan, tán thất, trốn đi xa, lánh xa, thất nhân tâm, hao bớt. Thủy ngộ phong tắc hoán tán chi tượng: tượng nước gặp gió thì phải tan, phải chạy.

Hoà vui đến cực điểm rồi thì sẽ ly tán, vì vậy sau quẻ đoài đến quẻ Hoán. Hoán là lìa, tan tác.

Thoán từ

渙; 亨.王假有廟.利涉大川.利貞.

Hoán; hanh. Vương cách hữu miếu,

Lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh.

Dịch: Lìa tan: hanh thông. Vua tới nhà Thái miếu, vượt qua sông lớn thì lợi, giữ đạo chính thì lợi.

Giảng: Trên là gió, dưới là nước (Khảm cũng có thể hiểu là mây – như quẻ Thủy lôi Truân, cũng gọi là Vân Lôi truân); gió thổi trên nước (hay mây) làm nước tung tóe ra (hay mây tan rã ra), cho nên đặt tên quẻ là Hoán.

Thường thì nhóm họp mới hanh thông (như quẻ tụy), nhưng ly tán cũng có khi hanh thông, chẳng hạn sương mù tụ lại nhiều quá, nắng lên, nó tan đi thì tốt, hoặc thời nhiễu loạn, dân chúng tụ họp lại chống đối, phải giải tán đi v.v.. Hể hợp thời thì tốt, trái lại thì xấu. Muốn cho công việc giải tán hanh thông thì nhà cầm quyền phải có lòng chí thành, như một ông vua tới nhà Thái miếu; lại phải biết mạo hiểm như có gan vượt qua sông lớn; sau cùng phải giữ đạo chính, đừng làm những việc bất chính.

Thoán truyện giảng ý nghĩa hanh thông của quẻ này như sau: nội quái vốn là quẻ Khôn, một hào dương của quẻ Càn vào thay hào 2 quẻ Khôn mà thành quẻ Khảm; ngoại quái vốn là quẻ Càn, hào 1 quẻ Khôn vào thay hào 1 quẻ Càn, thành quẻ Tốn. Vậy là trong trùng quái Hoán có một hào dương cương ở trong, một hào âm nhu ở ngoài, mà hào này đắc vị, thuận theo 2 hào dương ở trên nó để tiến lên, như vậy là tốt.

Vượt qua sông lớn mà có lợi vì quẻ có cái tượng gỗ (Tốn cũng là cây, gỗ) ở trên nước, tức thuyền ở trên nước, nhờ thuyền mà qua sông được. Nghĩa bóng là nhờ người có tài mà làm nên việc lớn.

Đại Tượng truyện bàn rộng ra, khuyên sau khi giải tán rồi lại nên nghĩ tới việc nhóm họp lại, mà muốn nhóm họp, thống nhất nhân tâm thì nên đặt lễ tế Thượng đế, tế Tổ tiên.

Hào từ

1. 初六: 用拯, 馬壯, 吉

Sơ lục: Dụng chứng, mã tráng, cát.

Dịch: Hào 1, âm: Dùng con ngựa mạnh để cứu vớt, tốt.

Giảng: Ở đầu thời ly tán, còn có thể gom lại được; hào này âm nhu, kém tài, không đủ sức, nhưng trên có hào 2 dương cương đắc trung, ỷ thác vào được, như đi đường xa có con ngựa khỏe, cho nên tốt.

2. 九二: 渙,奔其机, 悔亡.

Cửu nhị: Hoán, bôn kì kỉ, hối vong.

Dịch: Hào 2, dương: Lúc ly tán, nên đựa vào hào 1 làm ghế ngồi thì hối hận mất đi.

Giảng : Thời này là thời ly tán rồi, dễ có việc ăn năn; hào này dương cương đã giúp đựơc cho hào 1, bây giờ nên dựa vào 1 làm ghế ngồi, đỡ đần nhau thì khỏi phải hối hận.

3. 六三: 渙其躬, 无悔.

Lục tam: Hoán kì cung, vô hối.

Dịch: Hào 3, âm: đánh tan lòng riêng tây của mình đi thì không hối hận.

Giảng: Hào này âm nhu, bất trung ,bất chính, là người có lòng vị kỉ, nhưng ở vị dương lại được hào trên cùng chính ứng với nó, mà có lòng lo việc đời (vì là dương cương); nếu 3 bỏ tính vị kỉ đi, lo gánh việc đời với hào trên cùng, thì sẽ không hối hận.

4. 六四: 渙其群, 元吉.渙有丘, 匪夷所思.

Lục tứ: hoán kì quần, nguyên cát. Hoán kì khâu, phỉ di sở tư.

Dịch: Hào 4 âm: Giải tán bè phái của mình đi, rất tốt. Vì như vậy là giải tán cái nhỏ để tập hợp cái lớn lại thành gò đống; điều đó người thường không thể nghĩ tới được.

Giảng: Hào này âm nhu, thuận, giúp đỡ hào 5 vừa cương vừa đắc trung, như vị đại thần giúp một minh quân, mà biết giải tán bè phái của mình đi (sở di nói vậy vì hào 1 ở dưới không ứng viện với 4, cũng như 4 không còn bè phái), để đoàn kết, tập hợp cả quốc dân mà cùng lo cứu nước; như vậy là giải tán cái nhỏ để gom cái lớn lại thành gò đống, rất tốt. Người thường không hiểu được lẽ đó mà chê sao lại giải tán đảng của mình. Muốn vậy phải là người đắc chính (âm ở vị âm) , và đắc trung, cương cường như hào 5.

5. 九五: 渙汗其大號, 渙王居, 无咎.

Cửu ngũ: Hoán hãn kì đại hiệu, hoán vương cư,vô cữu.

Dịch: Hào 5, dương: Ban bố hiệu lệnh lớn khắp nước như mồ hôi phát ra ở khắp thân thể, phát hết kho lẫm của vua để chu cấp cho dân, không có lỗi.

Giảng: năm chữ “Hoán hãn kì đại hiệu” tối nghĩa. Chu Hi giảng là hủy bỏ các hiệu lệnh trước đi, những hiệu lệnh đó như mồ hôi, chảy ra mà không trở lại”. Chúng tôi theo Phan Bội Châu mà dịch như trên là ban bố hiệu lệnh đi khắp nơi. J Legge và R. WilheLm cũng hiểu như vậy, nhưng giảng là những hiệu lệnh đó cứu nguy được cho dân như người bị bệnh mà phát tán, làm cho mồ hôi toát ra vậy.

Ba chữ sau: “Hoán vương cư” nghĩa dễ hiểu: vua nên tán tài để tụ dân, cũng như hào 4, giải tán bè phái để tụ dân, đều là chính sách tốt ở thời ly tán cả.

6. 上九: 渙其血去, 逖出, 无咎.

Thượng cửu: hoán kỳ huyết khử, địch xuất, vô cữu.

Dịch: Hào trên cùng, dương: Tan (trừ) được máu )vết thương cũ), thoát khỏi kinh sợ (chữ [逖 ] ở đây nên đổi làm chữ dịch [惕] là kinh sợ), không có lỗi.

Giảng: hào này ở cuối thời ly tán, sắp hết xấu; nó có tài (dương cương), lại được hào 3 ứng viện, cho nên nó thành công, trừ được vết thương ly tán và thoát khỏi cảnh lo sợ.

***

Phan Bội Châu so sánh quẻ này với quẻ Tụy, đại ý như sau:

Tụy và Hoán là hai thời trái ngược nhau, một thời nhóm họp một thời lìa tan, nhưng thời nào cũng hanh thông được cả, miễn là biết hành động hợp lúc và có lòng chí thành: Thoán từ hai quẻ đều có 4 chữ: “Vua tới Thái miếu”, nghĩa là phải chí thành như nhà vua khi vào tế ở Thái miếu.

Nhưng hai quẻ khác nhau ở chỗ. Tụy có 4 chữ: “lợi kiến đại nhân”, Hoán có 4 chữ: “Lợi thiệp đại xuyên” vì ở thời Tụy, thuận cảnh, chỉ cần có người tài đức là làm nên việc còn ở thời Hoán, nghịch cảnh, phải có tài đức mà lại phải mạo hiểm nữa. Đó là thâm ý của cổ nhân.

Sáu hào quẻ Hoán ý nghĩa rất phân minh: hào 1, còn mong cứu chữa được; hào 2 ly tán đã nhiều rồi, chưa cứu được; hào 3 có thể bắt tay làm việc, muốn vậy phải bỏ lòng vị kỷ đi; hào 4, phải giải tán bè phái để đoàn kết toàn dân; hào 5 phải ra hiệu lệnh mới, ban phát của riêng, hào 6 thì thành công. Quan trọng nhất là lời khuyên hào 4 và 5.

“Dịch Kinh Đại Toàn” của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê.

59. 風 水 渙  Phong ThỦy Hoán 

Hoán Tự Quái渙 序 卦
Đoài giả duyệt dã.兌 者 說 也
Duyệt nhi hậu tán chi.說 而 後 散 之
Cố thụ chi dĩ Hoán.故 受 之 以 渙
Hoán giả ly dã.渙 者 離 也

Hoán Tự Quái

Đoài là vui sướng, vui rồi ly tan.

Cho nên lấy Hoán mà bàn.

Hoán là xẻ nghé, tan đàn, phôi pha. 

Nếu ở đời mà ai cũng chỉ lo mua vui, tìm lạc thú riêng cho mình thì xã hội sẽ đi đến chỗ phân ly, chia rẽ.

Hoán cũng nghĩa là làm cho tiêu tan mọi duyên do phân ly, chia rẽ, như gió (Tốn) thổi tan những cục băng giá trên mặt nước (Khảm) buổi đầu xuân.

Thoán và Tượng bàn tới những phương cách mà đấng quân vương có thể dùng để đoàn kết, qui tụ dân chúng, trong thời kỳ ly tan, chia rẽ. Các Hào chủ trương phải trừ khử, phải gạt bỏ hết mọi duyên do gây chia rẽ. 

I. Thoán.

Thoán từ.

渙 . 亨 . 王 假 有 廟 . 利 涉 大 川 . 利貞 .

 Hoán. Hanh. Vương cách hữu miếu.  Lợi thiệp đại xuyên. Lợi trinh.

Dịch.

Hoán là chia rẽ, ly tan,

Ly tan, mà biết hợp đoàn mới hanh.

Vua ra tế tự miếu đình,

Băng qua sông lớn, công trình sẽ hay.

Một lòng chính chính, thẳng ngay.

Thế thời mới lợi, mới hay vẹn bề.

Hoán là thời kỳ ly tan, chia rẽ, tưởng chừng như mọi sự sẽ đi đến chỗ bế tắc. Những bậc quân vương, có thể giải tỏa được bế tắc ấy, có thể đem lại sự đoàn kết cho dân, làm cho tình thế lại trở nên thông suốt (Hoán. Hanh).

Muốn được vậy, nhà vua phải có lòng thành khẩn, cần phải dùng tín ngưỡng đạo giáo, làm chiêu bài để qui dân, tụ chúng (Vương cách hữu miếu), hoặc đề xướng, hô hào làm một đại công, đại sự gì để mọi người có dịp chung lưng, góp sức, trở nên đồng hội, đồng thuyền. Đó không phải là một chuyện liều lĩnh, nhưng chính là một chuyện hữu ích (Lợi thiệp đại xuyên). Dẫu sao, trong công trình này, nhà vua cũng phải lấy chính lý, chính đạo làm phương châm, mới hay, mới lợi (Lợi trinh). 

Thoán Truyện. Thoán viết.

彖 曰. 渙  亨 . 剛 來 而 不 窮 . 柔 得 位 乎 外  而 上 同 . 王 假 有 廟 . 王 乃 在 中 也 .  利 涉 大 川 . 乘 木 有 功 也 .

Hoán hanh. Cương lai nhi bất cùng. Nhu đắc vị hồ ngoại nhi thượng đồng. Vương cách hữu miếu. Vương nãi tại trung dã. Lợi thiệp đại xuyên. Thừa mộc hữu công dã.

Thoán rằng:

Hoán tán mà hay,

Bên trong cương nghị, thẳng ngay chẳng  cùng.

Ngoài thời nhu thuận, khiêm cung,

Thuận ngôi, vả lại đẹp lòng với trên.

Vua ra tế tự miếu đền,

Lòng dân, vua muốn giữ bền trước sau,

Lợi là băng vượt sông sâu

Vượt sông dùng gỗ, mới hầu nên công.

Thoán Truyện. Trong thời kỳ chia ly bế tắc, vẫn có thể làm cho tình thế trở nên thông suốt được (Hoán hanh). Đó là biết cả cương, lẫn nhu, lại biết dưới trên chung lưng, góp sức làm việc. Câu Cương lai nhi bất cùng. Nhu đắc vị hồ ngoại nhi thượng đồng tương đối khó giải.

Chu Hi giải thích: Quẻ Hoán là do quẻ Tiệm sinh. Hào Cửu tam quẻ Tiệm xuống thành Hào Cửu nhị quẻ Hoán. Hào Lục nhị quẻ Tiệm lên thành Hào Lục tam quẻ Hoán, và như vậy sẽ đồng điệu với Hào Lục tứ bên trên (Nhi thượng đồng). Lối giải của Chu Hi hợp với phép biến quái, nhưng lại không giải được chữ Nhu đắc vị hồ ngoại, vì Lục tam là Âm cư Dương vị, nên không đắc vị.

Nơi đây, ta chỉ nên ghi nhận đại ý là: muốn giải quyết tình trạng chia rẽ, thời phải áp dụng cả cương lẫn nhu, vua tôi phải đồng lao, cộng tác, trên dưới phải dựa nương lẫn vào nhau. Muốn liên kết mọi người, nhà vua cần phải dùng tín ngưỡng, dùng đạo giáo làm chiêu bài để thu phục nhân tâm, vì thế nói Vương cách hữu miếu. Vương nãi tại trung dã. Vương nãi tại trung là vua thu phục được lòng dân. Muốn được dân, phải thu phục được lòng dân. Lúc nhân tâm chia rẽ, cũng nên đề xướng ra những đại công trình để mọi người có mấu chốt mà bám víu, có lý do để đồng lao, cộng tác (Lợi thiệp đại xuyên).

Ngự Án bình rằng: Dầu là người nước Tần, nước Việt, mà đi cùng chuyến đò, thì cũng sẽ hết sức hợp tác với nhau (Tần Việt nhi cộng chu, tắc tâm lực vô hữu bất đồng). Muốn làm những công việc vĩ đại, nhà vua cần phải có hiền thần phụ bật, y như người muốn vượt sông sâu, nước cả, phải có thuyền, có chèo (Thừa mộc hữu công dã).

Xưa nay, muốn đoàn kết nhân tâm, người ta thường hay dùng chiêu bài tín ngưỡng, đạo giáo, chẳng hạn như gần đây Nasser đã dùng Hồi giáo làm chiêu bài để liên kết các nước Ả Rập. Hơn nữa, sau các cuộc Cách Mạng, khi nhân tâm còn ly tán, người ta cũng thường muốn làm một chuyện gì lớn lao, để liên kết nhân tâm, như ít lâu sau cuộc Cách Mạng Pháp, các nhà lãnh đạo đã dùng Bonaparte để đi chinh phục nước Ý và Ai Cập.

Đọc Thoán Từ ta thấy Thoán tha thiết muốn cho bậc quân vương có tài đức, nhưng lại sống trong buổi nhân tâm ly tán, phải tìm hết mọi phương thế để thống nhất đất nước, đoàn kết nhân tâm, để sớm đem an bình thái thịnh về cho nhân quần xã hội. 

II. Đại Tượng Truyện.

Tượng viết:

象 曰 . 風 行 水 上 . 渙 . 先 王 以 享 于 帝 立 廟 .

Phong hành thủy thượng. Hoán. Tiên vương dĩ hưởng vu Đế lập miếu.

Dịch. Tượng rằng:  

Hoán là mặt nước gió bay,

Tiên vương xây cất  đền đài, miếu tông. 

Trước là phụng sự hoá công.

Sau là phụng sự cha ông xưa rầy.

Gió thổi trên nước là hoán. Tiên vương tế lễ Thượng đế, xây cất đền miếu. Wilhelm bình rằng:  Mùa Thu, Đông, nước đông thành đá. Mùa Xuân gió ấm thổi, làm tan hết đá cục trên mặt nước,  khiến cho  nước trở thành một khối duy nhất. Trong một quốc gia cũng vậy, sự ích kỷ và sự tàn ác làm cho lòng con người trở nên cứng rắn, làm cho con người ly tán nhau. Phải dùng đạo đức, tín ngưỡng mới hòa giải, phá tan được sự ích kỷ, và làm cho mọi người hợp nhất. 

III. Hào Từ & Tiểu Tượng Truyện

1. Hào Sơ Lục.

初 六 .      用 拯 馬 壯 . 吉 .

象 曰 .      初 六 之 吉 . 順 也 .

Sơ Lục.

Dụng chửng. Mã tráng. Cát.

Tượng viết: 

Sơ Lục chi cát. Thuận dã.

Dịch.

Sửa sang, giúp đỡ liền ngay,

Thêm con ngựa khỏe, mới hay mới lành,

Tượng rằng: Sơ Lục mà hay,

Là vì khéo xử, hợp ngay với thời.

Sơ Lục bắt đầu thời kỳ hoán. Sự ly tán vừa chớm nở, cần phải được ngăn chặn ngay. Ngăn chặn một cách mạnh mẽ nữa mới tốt. Hào Sơ Lục đây Âm nhu, không đủ sức cứu vớt được sự ly tan, nhưng may ở gần nhị, nên có thể dùng sức của nhị để đối phó với tình thế. Vì thế nói rằng Mã tráng. Cát (Mã tráng đây chỉ Cửu nhị).

Cái hay của Sơ Lục đây chính là biết thuận thời, thuận thế, hiệp lực với Cửu nhị (Sơ Lục chi cát. Thuận dã).

2. Hào Cửu nhị.

九 二 .     渙 奔 其 機 . 悔 亡 .

象 曰 .     渙 奔 其 機 . 得 愿 也 .

Cửu nhị. 

Hoán bôn kỳ kỷ. Hối vong.

Tượng viết: 

Hoán bôn kỳ kỷ. Đắc nguyện dã.

Dịch.

Gặp thời hoán tán ly tan,

Vội tìm đến chỗ ở an mới là.

Hết còn phiền trách, âu lo.

Tượng rằng:

Gặp thời hoán tán ly tan,

Vội tìm đến chỗ ở an mới là.

Toại lòng, đắc ý, hết lo.

Cửu nhị này có hai cách giải:

a). Sống trong thời kỳ Hoán tán, phải có một lý tưởng để bám víu, lý tưởng đó là niềm tin nơi con người (Wilhelm)

b). Sống trong thời kỳ Hoán tán, chia ly, phải biết dựa nương vào người khác. Hào Cửu nhị đây ở giữa quẻ Khảm, tức là ở giữa cơn nguy hiểm, nên phải nương tựa vào Sơ Lục, lấy Sơ Lục làm như ghế ngồi (Bôn kỳ kỷ).

Tìm được lý tưởng để dựa nương, tìm được vây cánh để dựa nương trong thời kỳ phân ly, hoán tán, thế là được như nguyện vậy (Hoán bôn kỳ kỷ. Đắc nguyện dã).

3. Hào Lục tam.

六 三 .     渙 其 躬 . 無 悔 .

象 曰 .     渙 其 躬 . 志 在 外 也 .

Lục tam. 

Hoán kỳ cung. Vô hối.

Tượng viết:  

Hoán kỳ cung. Chí tại ngoại dã.

Dịch.

Hoán mà hoán tán niềm tây,

Thế thời sẽ khỏi rứt rây, phàn nàn.

Tượng rằng: Hoán tán niềm tây,

Là vì tâm trí đã quay ra ngoài.

Một duyên do sinh ra chia rẽ, đó là lòng vị kỷ. Cho nên, muốn chấm dứt lòng chia ly, hoán tán, cần phải diệt trừ lòng vị kỷ. Có vậy mới khỏi hối hận, phàn nàn.

Hoán kỳ cung. Chí tại ngoại dã. Hoán kỳ cung tức là quên mình vì người, bớt nghĩ đến quyền lợi riêng tư, mà lưu ý đến những điều ích quốc lợi dân bên ngoài.

 4. Hào Lục tứ.

六 四 .     渙 其 群 . 元 吉 . 渙 有 丘 . 匪 夷 所 思 .

象 曰 .     渙 其 群 . 元 吉 . 光 大 也

Lục tứ.

Hoán kỳ quần. Nguyên cát. Hoán hữu khâu. Phỉ di sở tư.

Tượng viết:

Hoán kỳ quần nguyên cát. Quang đại dã.

Dịch.

Hoán là hoán tán đảng bầy,

Thế thời mọi sự sẽ hay, sẽ lành.

Nhỏ tan, lớn tụ mới tình,

Thường nhân hồ dễ nghĩ thành được đâu.

Tượng rằng: Hoán tán đảng bầy,

Thế thời mọi sự sẽ hay, sẽ lành.

Thực là cao đại, quang minh.

Một tệ đoan xã hội, khiến cho nhân tâm ly tán, đó là nạn bè phái. Cho nên muốn đoàn kết quốc dân, trước hết phải dẹp nạn bè phái (Hoán kỳ quần). Như vậy, mới là vẹn hảo (Nguyên cát). Bè phái có dẹp đi, toàn dân mới trở thành một khối duy nhất, bao la hơn, vĩ đại hơn (Hoán hữu khâu).

Công trình này, người thường đâu có thể hiểu biết được (Phỉ di sở tư). Di là tầm thường, Tư là suy tưởng.

Dẹp được nạn bè phái, mang lại sự đoàn kết, nhất trí cho quốc dân, thực là sáng suốt và cao đại vậy (Hoán kỳ quần nguyên cát. Quang đại dã).

5. Hào Cửu ngũ.

九 五 .     渙 汗 其 大 號 . 渙 王 居 . 無 咎 .

象 曰 .     渙 王 居 無 咎 . 正 位 也 .

Cửu ngũ. 

Hoán hãn kỳ đại hiệu. Hoán vương cư. Vô cữu.

Tượng viết:  

Hoán vương cư vô cữu. Chính vị dã.

Dịch.

Trong thời hoán tán ly tan,

Thế mà mệng lệnh vẫn ban xa gần.

Trong thời hoán tán phong trần,

Mà vua vững vị, lỗi lầm chi đâu.

Tượng rằng: Vua ở chẳng lầm,

Là vì ngôi vị thập phần hẳn hoi.

Cửu ngũ. Lúc nhân tâm ly tán, bậc vương giả cần phải trù liệu được một chương trình hẳn hoi, hoạch định được những đường lối rõ rệt, ban bố được những mệnh lệnh chững chạc. Những mệnh lệnh mạnh mẽ, chững chạc của nhà vua, sẽ làm tiêu tan đi cơn khủng hoảng, như sự phát hãn làm tiêu tan cơn nóng sốt (Hoán hãn kỳ đại hiệu). Trong thời kỳ hoán tán, điều cần nhất là nhà vua phải ăn ở cho ngay chính (Hoán vương cư. Vô cữu).

Chu Hi bình rằng: Trong thời kỳ hoán tán, chẳng những phải ban bố những mệnh lệnh hẳn hoi, mà còn phải biết tung tiền tài, phát của cải, lúa gạo, để thu phục nhân tâm nữa (Hoán vương cư vô cữu. Chính vị dã).

Tượng Truyện giải Hoán vương cư là nhà vua phải ăn ở cho xứng đáng. Trình tử cũng theo đó mà bình giải.

6. Hào Thượng Cửu.

上 九 .     渙 其 血 . 去 逖 出 . 無 咎 .

象 曰 .     渙 其 血 . 遠 害 也 .

Thượng Cửu. 

Hoán kỳ huyết. Khứ dịch xuất. Vô cữu.

Tượng viết: 

Hoán kỳ huyết. Viễn hại dã.

Dịch.

Đánh tan cái hại, cái đau,

Dẹp tan những cái lo âu, hãi hùng.

Tượng rằng: Hoạ hại đánh tan,

Những gì hoạ hại , lầm than chẳng gần.

Thượng Cửu. Trong thời kỳ hoán tán, chia ly, phải làm sao tránh được sự tàn sát lẫn nhau, sự lưu huyết (Hoán kỳ huyết), cũng như đánh tan được mọi sự hãi hùng (Khử dịch xuất). Như vậy, mới không lỗi (Vô cữu).

Tượng Truyện tóm tắt: Phải tránh xa những điều họa hại (Hoán kỳ huyết. Viễn hại dã). 

ÁP DỤNG QUẺ HOÁN VÀO THỜI ĐẠI

Chúng ta đang ở trong thời đại nhân tâm ly tán, và mọi người có ai chịu suy nghĩ mà hàn gắn nó không?

Có ai chịu suy nghĩ để hiểu rằng: Một người tự khinh mình trước, rồi kẻ khác mới khinh khi mình. Một nhà tự hủy hoại mình trước, rồi kẻ khác mới hủy hoại nhà mình. Một nước mà phe này đảng nọ, người này kẻ khác đánh nhau, rồi nước khác mới thừa dịp đánh nước mình. Trong Thiên Thái Giáp, Kinh Thư có chép: Những tai ách mà Trời làm ra, mình còn tránh được; những tai ách tự mình gây nên, thì mình phải chết.

Con người, sinh ra đời không thể trần trần một nếp, mà phải biết tùy thời, xử thế, tùy cảnh ngộ mà xuất xử, hành tàng. Tôi mượn lời Đức Khổng mà nói: Người quân tử ở trên đời không nhất thiết phò cái gì, chống cái gì; cái gì phải thì theo (Quân tử chi ư thiên hạ dã. Vô thích dã. Vô mịch dã. Nghĩa chi dĩ tỉ. – LN,  IV,  10).

Vậy, chúng ta hãy áp dụng lời Đức Khổng, trước cho gia đình, sau cho quốc gia, xã hội.

Trong gia đình, gặp lúc thời buổi kinh tế khó khăn, vợ chồng, cha con, phải gạt bỏ hết những bất đồng ý kiến, những ích kỷ, nhỏ nhen, mà phải hết lòng cộng tác với nhau, thì gia đình mới có cơ thịnh vượng được.

Trong một quốc gia, muốn cho dân mạnh, nước giầu, thì mọi người dân phải cộng tác với chính quyền, nếu chính quyền làm sai thì ta phải có bổn phận lên tiếng để sửa sai chính quyền, chớ đừng Mượn gió bẻ măng, lập bè, kết đảng để mưu cầu lợi ích riêng cho cá nhân mình, mà quên đi sự nguy hại cho quốc gia dân tộc mình, để cho ngoại bang lợi dụng nó mà làm suy yếu nước mình.

Tóm lại, là  người dù chỉ có đôi chút học vấn, cũng đừng để những bọn Hoạt đầu chính trị mang những lời nịnh nọt hão mà tâng bốc mình, mang những hình ảnh huy hoàng giả tạo lừa bịp mình, để lợi dụng mình làm cái bàn đạp cho họ, để họ mưu cầu những tư lợi nhỏ nhen của họ.

Hãy tự tạo cho mình một tương lai huy hoàng, bằng cách học hành siêng năng, để tạo cho mình một chỗ đứng vững vàng trong xã hội; trau dồi hạnh kiểm để xứng đáng làm con người theo đúng nghĩa của nó, năng đọc sách Thánh hiền để có thể trở thành Thần minh. Tự xét nếu Trên không thẹn với Trời, dưới không hổ với đất, đó là mình đã thành công ở đời rồi vậy.

“Bát Tự Hà Lạc – Lược Khảo” của Học Năng.

59.Phong thủy hoán

Ðại cương:

Tên quẻ: Hoán là Tán (tiêu tan, không tụ một chỗ)

Thuộc tháng 3

Lời tượng

Phong hành thủy thượng: Hoán, Tiên Vương dĩ hưởng vu Đế, lập miếu

Lược nghĩa

Gió đi trên nước là quẻ Hoán (tiêu tan). Đấng Tiên Vương lấy đấy dâng lễ lên để nên dựng miếu thờ (để quy tụ lòng người khỏi tản ra).

Hà Lạc giải đoán

Những tuổi nạp giáp:

Mậu: Dần, Thìn, Ngọ

Tân: Mùi, Tỵ, Mão

Lại sanh tháng 3 là cách công danh phú quý.

THƠ RẰNG:

Mộng vào đường thẳm thiên thai

Lên non chuyện ấy cùng ai hẹn ngày

Sắc xuân hương lạ gió bay

Cành xưa hoa nở lần này đẹp hơn

Hào 1:

Dụng chửng, mã tráng, cát. Ý HÀO: Cứu sự lìa tan, có dương cương giúp nên cứu được.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Có tài đức lại ra sức làm, gặp được tri kỷ, nên lòng người cảm phục, thế nước vững bền.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Cũng khởi gia dễ dàng, được người giúp.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Thăng chuyển lẹ. _Giới sĩ: Có vận bay nhẩy. _Người thường: Ðược bậc tôn trưởng đề cử nên mưu việc toại ý.

Hào 2:

HOÁN, bôn kỳ kỷ, hối vong. Ý HÀO: Có đất căn cứ, nên cứu được lìa tan.

MỆNH -HỢP – CÁCH: Ðương thời hoán, biết cơ biến để cứu vớt thì phục hưng được, trước gian khổ, sau dễ dàng.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Lìa nhà, động lực kinh doanh, buổi đầu thất chí, an tĩnh lâu lâu, muộn sau toại nguyện..

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Làm trưởng, cầm quyền binh, hoặc được phong tướng, dự mưu quốc sự.. _Giới sĩ: Nên danh. _Người thường: Mưu vọng việc nhà thành, Tăng đạo thụ ân. Số xấu, chạy ngược chạy xuôi, thất lạc, trốn tránh.

Hào 3:

Hoán kỳ cung. Vô hối. Ý HÀO: Ðem thân để cứu nạn.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Nắn cái thiên lệch để về với chính, bớt thái quá để tới trung dung, chỉ lo việc lớn, trên vì nước dưới vì dân.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Xa người thân, gần kẻ sơ, lìa nhà lập nghiệp, chẳng vinh, chẳng nhục, hoặc là tăng đạo tu dưỡng.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ở đô thị thì đổi đi địa phương- Tai ách tiêu tan. _Giới sĩ: Lợi thì ở bên ngoài. _Người thường: Hoạch lợi.

Hào 4:

Hoán kỳ quần, nguyên cát, hoán hữu khưu, phỉ di sở tư. Ý HÀO: Bỏ cái bé, lập cái lớn, phải trù mưu chí lý.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Giải tán bè đảng mình để hòa với đảng lớn, lập công phi thường.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Tài đức hơn người, có danh có lợi, nhưng tụ tán bất nhất.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Hay đứng đầu tỉnh quận. _Giới sĩ: Tài vượt người đỗ ưu. _Người thường: Có hung thì tán, có mưu vọng thì thành. Số xấu chẳng lợi. Có triệu chứng chôn cất trên gò cao.

Hào 5:

Hoán hãn kỳ đại hiệu, hoán vương cư, vô cữu. Ý HÀO: Rút quân về, mở rộng đức ra.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Tài cao, vị trọng, đức phục các nước nhỏ, sự nghiệp hiển hách, phúc trạch lớn lao.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Chí khí hơn người, dù chẳng phú quí vẫn có tiếng tăm.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức và giới sĩ: Có thăng chuyển, có tiến thủ, có tai họa thì tiêu tan, cầu lợi được lợi.

Hào 6:

Hoán, kỳ huyết khử, dịch xuất, vô cữu. Ý HÀO: Có công cứu thời hoán, không hổ thẹn.

MỆNH – HỢP – CÁCH: Gan trung đởm nghĩa, cứu hiểm họa cho dân, công thành việc trọn, hưởng vị cao, lộc dày.

MỆNH – KHÔNG – HỢP: Biết thời nên lùi, ngoại du phương xa, tránh hiểm ra ngoài, đổi nguy ra an.

XEM – TUẾ – VẬN: _Quan chức: Ở trung ương được chuyển đi ra ngoài, làm vũ tướng thì ra trị nạn. _Giới sĩ: Dời nơi ở ẩn. _Người thường: Dời chỗ hiểm đến nơi an. Kiện tụng hết, tật ách khỏi, ở tối ra sáng.

Chương 61: Quẻ THUẦN ĐOÀI
Chương 63: Quẻ THỦY TRẠCH TIẾT
Chia Sẻ Bài Viết