Chương 24: Cung Tử Nữ

Trong mệnh bàn Đẩu Số, cung Tử tức và cung Điền trạch đối nhau, cung Tử tức tương hội với cung Phụ mẫu và cung Nô bộc. Kết cấu dạng này rõ ràng phản ảnh chế độ đại gia tộc thời xưa.


Đại gia tộc trong xã hội phong kiến, con cái là do đầy tớ (nô bộc) phục dịch, do đó cung Nô bộc có ảnh hưởng nhất định đối với cung Tử tức. Đồng thời có thể nhìn ra quan hệ “kế thừa sự nghiệp của cha ông” từ tổ hợp các sao của cung Phụ mẫu và cung Tử tức, còn đối với cung Điền trạch, Đẩu Số dùng để quan sát gia trạch, đương nhiên càng có tương quan với cung Tử tức.


Do đó nếu nói tổ hợp tinh hệ của cung Huynh đệ là phô bầy cả một đại gia tộc, dùng để quan sát thế hệ bề ngang của mệnh tạo, thì tổ hợp tinh hệ của cung Phụ mẫu và cung Tử tức là một biểu đồ theo chiều dọc, dùng để quan sát từ ông Tổ đến cha mẹ, rồi từ cha mẹ đến con cái, cả một dòng họ truyền từ đời trước sang đời sau.


Ngày nay, chế độ đại gia tộc theo kiểu phong kiến đã sụp đổ, kết cấu tinh hệ ở cung Tử tức và tam phương tứ chính đương nhiên đã mất đi một số ý nghĩa ban đầu. Nhất là cung Nô bộc, ngoại trừ để xem mối quan hệ với nhân viên làm thuê và người trực tiếp dưới quyền, thì ngày nay còn dùng để quan sát bạn bè, đương nhiên sẽ cảm thấy quá cách xa cung Tử tức. Vì vậy trong thực tế ứng dụng, càng cần phải định ra một số nguyên tắc khác.


Sự tương quan hợp lý thứ nhất giữa hai cung, đó là lấy sự quan sát “mối quan hệ gia tộc” như trước kia, cải biến thành quan sát “địa vị xã hội”. Bởi vì từ các tình trạng tốt xấu của cha mẹ, hay nhân viên làm thuê và bạn bè, cho tới con cái của mệnh tạo, có thể luận đoán ra địa vị xã hội của đương số.


Ví dụ như, nếu ba cung đều cát, thì mệnh tạo phải là người lúc còn nhỏ được cha mẹ nuôi dạy khá tốt, bản thân cũng được bạn bè giúp đỡ ủng hộ, đồng thời còn được nhân viên làm thuê trợ lực, đến trung niên thì phát triển sự nghiệp, đến vãn niên thì có con cái có thể kế thừa sự nghiệp của cha ông. Người này là mẫu người điển hình của loại “lúc nhỏ là thiếu gia, lúc già gọi là lão gia”, có địa vị xã hội như thế nào chắc là không cần phải nói.


Nếu cung Phụ mẫu và cung Nô bộc không cát tường, nhưng cung Tử tức thì có Cát tinh tụ tập, như vậy có thể luận đoán mệnh tạo rất có khả năng phải trải quan gian lao vất vả, rồi mới tay trắng tạo nên sự nghiệp, sau trung niên ít nhất cũng có địa vị vào hạng trung lưu.


Dựa vào điểm suy đoán này, có thể trợ giúp chúng ta luận đoán ra vận trình của bản thân mệnh tạo. Ngược lại, từ vận trình của bản thân mệnh tạo, cũng có thể luận đoán ra con cái của mệnh tạo có thành tựu hay không!


Ví dụ như, nếu cung Phụ mẫu là Cát, cung Mệnh cũng cát, cung Nô không xấu, nhưng cung Tử tức lại xấu, thế thì, có khả năng không có người thừa kế, cũng có thể là con cái bất tài, phẩm hạnh quá kém.


Vì vậy có thể căn cứ vào tinh bàn để tìm ra một số chỉ dẫn. Ví dụ như quan sát sự hiển thị của cung Tử tức, để biết về tính cách con cái của mệnh tạo mà đưa ra một số lời khuyên.


Đây cũng chính là nói, từ “tam phương tứ chính” của cung Tử tức ngoại trừ xem có con nhiều hay ít, còn luận đoán về tình cảm của mệnh tạo đối với con cái, và tính cách chủ yếu của con cái. Liên quan về những luận đoán này, ta cần kết hợp với cung Tử tức của đại hạn và lưu niên để đánh giá về vận mệnh của con cái đương số, để biết con cái của đương số có thành tựu hay không?


Tử Vi

Đắc tử nữ tất tính cương, chí cao khí ngạo, nhưng nhiều tú phát. Hội Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa tất là được giai nhân. Nhưng thích hợp với sự trì đắc chậm đạt được, chủ quý lộc. Hội Tả Phụ Hữu Bật, năm lần mang thai trở lên. Đồng thời hội chiếu Tứ sát, thì có hình khắc, hư hoa thiểu thật. Hoặc chủ nguyên nhân là do tử nữ khí cao mà hoành phá. Hội Văn Xương Văn Khúc hoặc Hóa Khoa, tử nữ thông minh; hội Phụ Bật, tử nữ trung hậu. Hội Thiên Mã, tử nữ viễn li; hội Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, tử nữ có thể phú; Kình Dương đồng độ, tử nữ phá tướng mặt mũi hốc hác xanh xao vàng vọt hoặc phụ tử bất hòa, hoặc tử nữ không có khả năng hưởng phúc. Hội Khôi Việt, tử nữ quý.

Tử Vi độc tọa, miếu vượng ba nam hai nữ; gia tăng thêm Cát tinh như Phụ Bật Xương Khúc năm người; gia tăng thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, hai người, hoặc vợ kế sinh con (hoặc thiên thất hoặc kế thất sinh tử), hoặc có con cầu tự (chiêu tự tử). Không Kiếp lại càng chủ từ dòng thứ xuất ra.

Tử Phủ, ba người, gia tăng thêm Tả Hữu Xương Khúc năm người, mà lại quý. Tái kiến Phá Quân Hình Kị, kiến đa đắc thiểu (gặp nhiều được ít).

Tử Tham, duy trì được hai người, Tham Lang Hóa Kị đề phòng tử khuynh gia bại sản. Gia tăng thêm tứ Sát Hình Kị thì một hoặc hai người, mà lại chủ sinh đẻ khó khăn hoặc sẩy thai đẻ non.

Tử Tướng, hai người, gia tăng thêm Xương Khúc Phụ Bật ba hoặc bốn người mà lại quý. Phụ tử tình cảm lúc đầu tốt đẹp về sau xấu xa (thủy cát chung hung), hoặc Sát Kị tịnh kiến, một người thì có chí cao quật cường khuynh gia chi tử. Kiến Cát, tử được phụ ấm che chở.

Tử Sát, một hoặc hai người, gia tăng thêm Cát được thành ba. Ngộ Sát, tử cường hoành, gia Cát thì có thể thành đại khí, nhưng cũng trước thì gian lao sau thì an nhàn (tiên lao hậu dật).

Tử Phá, hai người, gia tăng thêm Cát ba người. Kiến Lộc thì tử nữ thành đạt, kiến tứ Sát Hình Kị Không Kiếp, nhiều khắc hại. Chủ sẩy thai phá thai (đọa thai tiểu sản). Hoặc trưởng tử hữu khắc, phá tướng, hoặc sinh non thiếu tháng (bất túc nguyệt sinh).

Thiên Cơ

Thiên Cơ nhập miếu, chủ tử nữ thông minh cơ xảo. Thiên Cơ nhập Tử nữ cung, chủ tử nữ ít. Hoặc muộn sinh. Thiên Cơ lạc hãm, tối kị kiến Sát Kị Không Kiếp, không có con, có cũng bất hòa, hoặc tử nữ có phẩm cách không tốt đẹp, tâm cơ nhiều xảo trá, hoặc khắc hại. Thiên Cơ thủ Tử nữ cung, cũng chủ từ dòng thứ xuất ra, hoặc nữ chiêu ngoại tử.

Thiên Cơ độc tọa, miếu vượng hai người. Hoặc từ dòng thứ xuất ra nhiều. Duy độc tọa Dậu cung, hội Hồng Loan Thiên Hỉ cùng Đại Hao, chủ nữ đa tử thiểu (nhiều gái ít trai).

Cơ Âm, hai nữ một nam, nếu Thái Âm lạc hãm, tắc dĩ tiên chiêu tự tử vi nghi (đầu tiên thích hợp với con cầu tự). Nếu tọa Dần cung hội chiếu Thiên Lương, thì ba con trai.

Cơ Cự, một người, gia tăng thêm chư Cát các sao hai người. Duy cần phải cho làm con nuôi hoặc ra ở riêng biệt (tu quá kế hoặc phân cư), không thì khó nuôi dưỡng.

Cơ Lương, Thìn cung hai hoặc ba người, Tuất cung một người nhưng nhiều nữ. Chủ đẻ non sẩy thai.

Thái Dương

Thái Dương tọa Tử nữ cung, Cự Môn hội chiếu mà Thái Dương miếu vượng, tử thông minh có khả năng sáng nghiệp, kiến Lộc Quyền Khoa hoặc Xương Khúc, có thiên tài hoặc biện tài về ngôn ngữ. Thái Dương lạc hãm tại Tử nữ cung, bất lợi trưởng tử. Thái Dương Hóa Kị, tử nhiều bệnh tật. Kiến tứ Sát Không Kiếp hình, tử nhiều khắc, chỉ một tử chăm sóc lúc lâm chung hoặc lo ma chay. Thái Dương độc tọa tại miếu vượng không có Sát, có tám lần mang thai trở lên. Dương Âm, bốn đến năm người. Kiến Sát hơn hai ba người. Dương Cự, ba người. Quý tử khó nuôi dưỡng. Hóa Lộc tử quý hiển, Cự Môn Hóa Lộc mà Thái Dương Hóa Quyền, ngược lại phải chú ý lưu tâm việc giáo dưỡng, không thì tử nữ khí cao hoành phá. Dương Lương, Mão cung ba người, Dậu cung hai người. Kiến Sát chủ sẩy thai sinh non. Tử nữ và phụ mẫu dể phân li. Kiến Xương Lộc, tử nữ có học nghiệp càng tốt đẹp, mà lại về cơ bản thì tính tình cực cường rất mạnh.

Vũ Khúc

Vũ Khúc nhập Tử nữ cung, thích nghi kế thất thiên phòng sinh sản ra tử, người kết phối nhiều hư hoa. Tử nữ cương cảnh, nhưng tự nhiên khó hòa hợp với người khác. Vũ Khúc chủ khắc, kiến Thất Sát cùng Hóa Kị, chủ đẻ non lưu sản. Phàm Tử nữ cung hội chiếu Vũ Khúc Thất Sát, cùng chủ khai đao khi sinh sản ra tử. Vũ Khúc nhập Tử nữ cung cũng chủ ngoại tử (con nuôi) đắc lực, hoặc con rể đẹp. Tứ Sát Hình Kị Không Kiếp điệt kiến, tuyệt tự. Vũ Khúc kiến Phụ Bật Xương Khúc, độc tọa, tử thông minh, nhưng chủ tử ít. Nếu tị Loan Hỉ Háo đẳng, có nữ.

Vũ Phủ, hai người. Gia tăng thêm Sát một người. Vũ Tham, sau bốn mươi tuổi mới có được con, có thể kiến hai người. Vũ Tướng, trước tiên chiêu ngoại tử (có con nuôi), sau đó có một con ruột. Vũ Sát, không có tử. Có một tử cũng đề phòng thương tàn, kiến Sát càng thêm đúng. Thích nghi kế thất hoặc thiên thất sinh sản ra tử. Kiến Cát đắc tử cực trì. Vũ Phá, chủ có phá tướng chi tử. Cũng chủ hình, hình tới một hai người. Gia tăng thêm Xương Khúc Phụ Bật thì ba người.

Thiên Đồng

Phàm Thiên Đồng tọa Tử nữ cung, thai đầu tiên kiến với nữ là đẹp. Thiên Đồng tọa Tị độc thủ, đối cung Thiên Lương, được tử khả năng nhược trí, duy với kiến Sát Kị mới đúng là như vậy. Thiên Đồng chủ tử nữ nhu nhược sợ lôi thôi xích mích, mà lại dể thích an vui hưởng nhàn, thiếu ý chí phấn đấu, khó kinh qua phong lãng sóng gió ba đào. Là người với tính tình ưu tư hóa. Thiên Đồng tọa Tử nữ cung, hội Thiên Cơ, có tử nữ hai người, nhưng trì đắc. Thiên Đồng Hóa Lộc, không thích nghi kiến Sát, không thì tử nữ phá gia. Đây là duyên cớ do vì đam mê hưởng lạc. Thiên Đồng lạc hãm kiến Sát, một tử tống chung (chăm sóc lúc bệnh hay làm ma chay).

Đồng Cự, ba người, gia tăng thêm tứ Sát, Không Kiếp thì một người. Tái gia tăng thêm Hóa Kị, Đại Hao, được tử nhiều bệnh nhiều tai, phá hao tiền tài sau đó vẫn kiến hình khắc. Thích nghi tự thân lìa xa gia đình hoặc phân cư sống riêng. Đồng Lương, trước tiên với nữ sau đó với nam là thuận, tử nữ hai người. Đồng Âm, Tý cung năm người, nữ nhiều nam ít là quý; Ngọ cung hai người, cũng thích nghi trước tiên kiến nữ, có Thiên Hình đồng, phá tướng hoặc viễn li. Kiến Sát, thích nghi với con cầu tự (dĩ tự tử vi nghi: thích nghi với tự tử). Mà lại chủ tử nữ hướng nội.

Liêm Trinh

Tối hỉ cùng với Thiên Phủ tương hội, chủ được quý tử ba người. Liêm Trinh Hóa Kị, tử nữ nhiều tai bệnh, hoặc phá tướng. Liêm Trinh hội Sát Phá Lang, tử nữ có hình thương. Hội tứ Sát Không Kiếp Hình, chủ chiêu tự tử (chủ dẫn đến con cầu tự hay là con nuôi). Liêm Trinh lạc hãm thủ Tử nữ cung, kiến Cát cũng hữu hình thương. Liêm Trinh độc tọa miếu vượng, nhất tử độc tú (một con một hoa), bình cung nhất nhân (bình quân một người), miêu nhi bất tú (nẩy mầm mà chẳng ra hoa), hãm cung chủ khắc.

Liêm Phủ, ba người mà lại có quý nhân. Tử cẩn thận trung hậu văn tú, kiến Xương Khúc giúp ích gia tăng tú phát. Nhưng không chủ phú. Duy Khúc Phủ đồng độ thì hình khắc. Liêm Tham, tử ít, gia tăng thêm Cát cũng khoảng hai người. Kiến Xương Khúc, thông minh mẫn cảm. Kiến Sát cơ thể suy nhược. Liêm Tướng, hai người. Tử nữ trung hậu, có thể gìn giữ duy trì bảo vệ thủ thành. Liêm Sát, chủ cô, Hóa Kị gia Cát, được một người cũng nhiều tai bệnh. Liêm Phá, một người, kiến Sát có khắc.

Thiên Phủ

Giống như tình hình dưới chủ nhiều tử nữ. Hội Xương Khúc Khôi Việt, được tử thông minh mà lại nhiều tài. Tử hiếu. Thiên Phủ tọa Tử nữ cung kiến Sát Hình Kị, tử nữ quật cường, hoặc phá tướng. Thiên Phủ độc tọa miếu vượng, năm người kiến tứ Sát Không Kiếp, ba người. Hội Tả Hữu, năm lần mang thai trở lên. Thiên Phủ Liêm Trinh Văn Khúc đồng độ, tất có hình khắc.

Thái Âm

Miếu vượng, giống như tình hình dưới chủ tử nữ phú hữu giàu có. Trước tiên với nữ sau đó với nam là thích nghi, không thì nữ đa nam thiểu. Lạc hãm được tử nhu nhược, hoặc hình khắc. Tiên chiêu tự tử vi nghi (trước tiên thích hợp với con cầu tự). Gia tăng thêm tứ Sát Không Kiếp tử ít, hội Loan Hỉ thì nhiều nữ. Thiên Cơ đồng độ, gia tăng thêm Cát, cũng khoảng hai tử nữ tống chung (chăm sóc ma chay). Thái Âm lạc hãm, tắc tiên tri ngoại dư vi nghi, tắc thân tử khả miễn hình khắc. Thái Âm miếu vượng độc tọa, nữ ba nam hai, gia Sát Kiếp hai người, kiến Xương Khúc thông minh, kiến Phụ Bật có thể khắc gia thủ thành (gìn giữ bảo vệ cơ nghiệp), kiến Khôi Việt thì tử nữ quý. Kiến Lộc Tồn Hóa Lộc chủ tử nữ phú.

Tham Lang

Tham Lang hội Hàm Trì Thiên Diêu, chủ nữ nhiều nam ít. Cũng chủ trước tiên với nữ sau đo với nam, không thì thiên phòng kế thất sinh sản ra tử. Tham Lang nhập miếu, hội Tả Hữu, Khôi Việt, Thiên Quý, tử nữ hai ba người, mà lại có người quý hiển. Tham Lang Hóa Lộc cư Tử nữ cung, kiến Cát, tử giỏi thiện kinh doanh, kiến Sát chủ tử nữ kiêu xa. Tham Lang Hóa Kị, tử nữ khảm khả long đong lận đận, hoặc lãng phí. Có lí tưởng mà không thể thành tựu. Tham Lang kiến tứ Sát, chủ tiểu sản (sinh non) hoặc nan sản (khó sinh). Kiến Thiên Hình, tử nữ khó nuôi dưỡng. Tử Tham đồng độ, tử tất trì đắc. Vũ Tham đồng độ, kiến Tả Hữu Xương Khúc ba người. Không thì trì đắc hai người. Liêm Tham, tử nữ hai người. Tử thì nhất nhập (nhập được một).

Cự Môn

Cự Môn thủ Tử nữ cung, dĩ trì đắc tử vi nghi, không thì con trưởng khó nuôi dưỡng. Cự Môn chủ cô độc, tất kiến Thái Dương mới giải kì ám; đắc Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hoặc Lộc Tồn, mới có khí thế tường hòa. Thiên Đồng Phụ Bật đồng ngụ, thì chủ thân tử đắc lực (con vợ lớn đắc lực), thứ tử tống chung (con vợ nhỏ chăm sóc ma chay). Cự Môn độc tọa, nhập miếu hai người, lạc hãm hoặc kiến Sát một người, tái kiến Không Kiếp tuyệt tự, duy có thể có nữ. Cự Dương, kiến Tả Hữu, Khôi Việt, tam Hóa các sao, chủ ba người trở lên, mà lại tất chúc giai nhân, năng phú năng quý, thông minh đa tài. Kiến chư Cát ủng hộ, có thể là ngoại giao nhân tài. Kiến Xương Khúc đồng độ, thích nghi pháp luật giới.

Thiên Tướng

Thiên Tướng tọa Tử nữ cung, kiến Vũ Khúc Phá Quân củng chiếu, chủ hình khắc, trì đắc là thích nghi. Thủ thai hữu tiểu sản lưu sản (thai đầu có sẩy thai đẻ non), hoặc có tổn thương. Với trước tiên sinh nữ là đẹp. Không thì chủ thiên phòng kế thất sinh ra tử. Thiên Tướng cùng tứ Sát hội, lại kiến Phụ Bật, đầu tiên ba lần thai có tổn thất, cần phải thiên phòng kế thất sinh ra tử, duy chỉ thai thứ nhất vẫn sinh non. Thiên Tướng kiến Lộc Quyền Khoa tam cát Hóa, cùng Khôi Việt, Phụ Bật cùng Thiên Phủ hội chiếu, thì năm lần mang thai trở lên, mà lại tử nữ nhân từ hiếu thuận. Thiên Tướng tối phạ kiến Sát, chiêu tự tử hoặc thứ xuất vi nghi (dẫn đến con cầu tự hoặc dòng thứ sinh ra), tiên chiêu ngoại tử hậu duệ sinh nhất nhị (trước tiên có con nuôi đời sau sinh có một hai).

Thiên Lương

Thiên Lương nhập miếu cư Tử nữ cung, hội chiếu Phụ Bật, tam cát Hóa diệu, Thiên Vu, Ân Quang, Xương Khúc, Khôi Việt các sao, chủ tử nữ thông minh đa tài, làm việc có nguyên tắc, mà lại cảnh trực tâm từ, năng phú năng quý. Miếu vượng hai người. Hãm địa một người. Thiên Lương tại Tử nữ cung, đa chủ đầu tiên được nữ. Ngộ Phụ Bật Xương Khúc Thiên Đồng, tử thứ xuất giả nhất nhân (dòng lẻ sinh ra một người). Thiên Lương thủ Tử nữ cung không thích nghi kiến Sát, chủ tử sớm khắc. Tái kiến Không Kiếp (cuối cùng) san tổng, tuyệt tự không người nối dòng. Hóa Kị hội chiếu, tử nữ đa tai bệnh. Lương Cơ, tất tiểu sản sinh non, chủ hai người.

Thất Sát

Thất Sát thủ Tử nữ cung, nhập miếu hoặc thừa vượng, kiến Phụ Bật, Khôi Việt, Xương Khúc, đều chủ tử nữ có thể hưng gia. Thất Sát thủ Tử nữ cung chủ cô. Thích hợp trước tiên là nữ sau là nam. Miếu vượng hội Cát, nhất tử. Bình nhàn cung túng đắc nhất tử cũng chủ cường hoành phá gia. Hãm địa kiến Sát các sao tuyệt tự. Thất Sát duy hỉ cùng Tử Vi đồng độ, tử nữ tam nhân, mà lại đẹp. Thất Sát thủ Tử nữ cung, tình cảm phụ tử có sự khác biệt lớn. Thất Sát độc thủ, kiến tứ Sát Không Kiếp Hình Kị các sao vô tử, cũng không thích nghi chiêu ngoại tử (con nuôi), chủ không đắc lực. Hóa Kị hội chiếu, ít Sát, có tử nữ, duy đa tai bệnh. Không Kiếp hội chiếu, nguyên nhân vì tử nữ mà phá hao tiền tài.

Phá Quân

Phá Quân nhập Tử nữ cung, tù thai hình thương (tù hợp hình thương), đa lưu sản tiểu sản (nhiều sẩy thai sinh non). Cần phải thiên phòng kế thất sinh ra tử, tiên lập tự tử diệc khả (đầu tiên cũng có thể lập con cầu tự). Nhập miếu tam tử, tính cương cường. Kiến Lộc thì có tài hưng gia. Phá Quân thủ Tử nữ cung kiến tứ Sát, nhất tử, mà lại không đắc lực. Kiến Dương Đà tương sinh hữu chế thì có nhất tử, nan y kháo (khó lòng nhờ cậy dựa dẫm). Kiến Hỏa Linh Không Kiếp, nhất tử, nan y kháo. Phá Quân nhập Tử nữ cung, trưởng tử dể phá tướng, hoặc khẩu tật nói ngọng nói lắp, hoặc bất túc nguyệt sinh (sinh không đủ tháng).

Phụ Tá – Sát Diệu

Lộc Tồn.

Chủ thứ thất kế thất sinh ra tử mới đắc lực, mà lại có thể thành người tài giỏi hữu dụng. Tử nữ tính cẩn thận, giỏi thiện thủ tài. Kiến Sát thì chủ lận sắc keo kiệt bủn xỉn.

Thiên Mã.

Chủ tử nữ viễn li. Hội Hóa Lộc, Lộc Tồn, thích nghi xuất ra ngoại quốc để phát triển. Tái kiến tam Hóa cát diệu, tử nữ tất tú phát. Hội tứ Sát Hình Kị, tử nữ bất cố phụ mẫu. Tái kiến Thiên Hình, đa tai bệnh.

Tả Phụ, Hữu Bật.

Chủ tử nữ đắc lực, có thể hưng gia. Cũng chủ số lượng tử nữ so với chính diệu tinh hệ hiển thị cho thấy là nhiều.

Văn Xương, Văn Khúc.

Chủ tử nữ thông minh tú phát. Học nghiệp thành tích tốt đẹp. Hội Cát diệu, Hóa Lộc Hóa Quyền Hóa Khoa, chủ quý hiển. Ngộ tứ Sát, chủ tử nữ dể là hư phù (hư hao phù phiếm không có thực).

Thiên Khôi, Thiên Việt.

Chủ tử nữ khả quý. Tính cách trung hậu, lão niên có thể nương tựa nhờ cậy. Nếu hội Sát Hình, thì tử nữ hảo tẩu thiên phong (thích bôn ba giang hồ phiêu bạt).

Hỏa Tinh, Linh Tinh.

Chủ cô độc. Tính nóng vội. Nhưng nhập miếu thì chủ trung hậu. Hình Kị nặng cũng thương tàn thân thể.

Kình Dương, Đà La.

Chủ hình, chủ cô. Cùng với tinh diệu có tính phù đãng hội hợp, chủ tính cách dể rơi vào hư trá. Sát Kị nặng chủ bất hiếu.

Địa Không, Địa Kiếp.

Nếu Địa Không, Địa Kiếp và Hóa Kị đồng hội Tử nữ cung, cũng tuyệt tự. Có Cát giải, có tử cũng yểu chiết. Thiên phòng hoặc kế thất sinh ra tử cát, cũng thích nghi tiên chiêu tự tử (đầu tiên dẫn đến con cầu tự).

Chương 23: Cung Phu Thê
Chương 25: Cung Tài Bạch
Chia Sẻ Bài Viết