Chương 25: Thái Dương

I. Chư Tinh Vấn Đáp

 

Sách Thập Bát Phi Tinh

Hỏi Thái Dương chủ định như thế nào?


Đáp viết:
Thái Dương tinh thuộc Hỏa, là tinh của Mặt Trời vậy. Là biểu nghi của tạo hóa, hoặc tượng trưng cho phái nam.


Tại Số chủ nhân có phúc ứng rõ rệt, thuộc ti Quý, là võ, là văn, mừng có Phụ Bật làm tướng, có Lộc Tồn tướ cao, có Thái Âm tương sinh.


Cùng chư cát tụ hội tất sẽ ban điều tốt lành cát tường, ở cùng chỗ với sao hắc ám thì tất sẽ lao tâm phí sức. Nếu tùy xướng trong Thân Mệnh, cư nơi miếu nhạc là rất quang trọng ở trong số, là cơ cấu then chốt của Quan lộc. Sau nữa là hóa khí thành Quý, thành Lộc, vô cùng thích hợp ở Quan Lộc cung. Với nam nhân thì coi như sao chủ về cha, với nữ nhân thì coi là chủ về chồng.


Tại Dần Mão Thìn Tị là Thăng Điện (lên cung điện), tại Ngọ là nhập miếu, chính là đại phú quý vậy.


Tại Mùi Thân là xế bóng, vào việc thường chăm chỉ trước sau thì lười biếng.


Tại Dậu là lặn đằng Tây, quý mà không hiển, đẹp mà không thực.


Nếu tại các hãm cung Tuất Hợi Tý Sửu thì đều là chỗ không có quang huy, gặp thêm Tù Ám Phá Quân thì cả đời lao lục, cơm áo thiếu thốn.


Như thế mà gặp Hóa Kị thì mắt có tổn thương, khó hòa hợp với người, gặp nhiều thị phi. Nữ nhân mà gặp tại Phu cung thì bất lợi, gặp thêm Hao thì thành hôn mà chẳng có lễ nghi gì cả.


Nếu gặp các cát tinh và Lộc Tồn đồng cung, mặc dù chủ về tài bạch nhưng khiến cho người ta không được an nhàn.


Nếu gặp Tả Hữu Thái Âm, đều là đại quý. Lại đồng thời gặp Hỏa Linh Hình Kị thì khắc cha trước hết.


Thân Mệnh Quan Lộc gặp chư cát tinh thủ chiếu, được thêm Thái Âm cùng chiếu, thì chức cao và giàu có đều được toàn vẹn tốt đẹp.


Nếu ở Tài Bạch cung mà vượng địa, gặp chư cát tương trợ, không gặp Cự Môn đến triền độ sẽ được phú quý lâu dài. Nếu như cư ở chỗ vượng tướng mà không có Không Kiếp thì một đời chủ giàu có lắm lắm.


Cư Điền Trạch cung được hưởng ấm trạch của cha ông, tổ tông. Nếu gặp Kiếp Sát Lưu Sát Tuế Quân Bạch Hổ giao hội thì tất sẽ khắc cha.


Tại cung Tử Tức có quang huy thì hưng vượng, có hình sát thì dẫu thành vẫn có tổn thất.


Tại Nô Bộc nhược cung, nếu phùng cát thì có thể làm môn khách cho quý nhân, nếu không cũng là giúp việc cho công hầu khanh tướng.


Tại Phu Thê mà người nam có chư cát tinh tụ hội thì có thể nhờ vợ mà được quý, nếu hãm địa gia sát thì hại vợ mà chẳng được tốt.


Nếu Tả Hữu và chư cát tinh đều tới hội, đại tiểu nhị hạn đến đó thì tất sẽ có việc mừng hưng thịnh gia môn bất ngờ. Nếu hạn lại chẳng tới đó, không thể lấy tam hợp nghị luận được, e rằng có sai sót. Nữ mệnh mà gặp nó, hạn tới cũng có thể an ổn hưởng thụ.


Cùng với Linh Hình tụ tập ở hạn, thì trước mắt có ưu phiền, trước tiên khắc cha.


Hình Sát tụ hạn thì kẻ làm quan có ưu phiền về sự nghiệp, kẻ thứ dân lại dễ bị thị phi quan tụng quấy nhiễu. Cùng với Kình Đà tụ thì sẽ có tật bệnh, cùng Hỏa Linh hội hợp nữa thì đau khổ chẳng ít đâu. Theo đó mà suy ra họa phúc hiển hiện trước mắt.


Thiên Di cung mà gặp các cách xấu kể trên là khó mà giữ được tổ nghiệp, xuất tổ ly gia, lìa cành đổi lá (ý nói dễ tán gia bại sản phải lưu lạc khỏi quê hương bản quán). Hạn tới đó thì chắc chắn có sự di động. Nữ mệnh mà gặp thì cũng coi như chẳng có gì tốt đẹp, nếu may được Phúc Đức cung có tướng tá cát tinh thì lại là chiêu nạp được chồng tốt.


Tướng Mạo cung (Phụ Mẫu) có Thái Dương tọa thủ thì nam coi đó là tượng của cha, nếu sáng đẹp thì là cát lành còn thất huy mờ ám thì là khắc cha.

 

Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư

Hỏi Thái Dương chủ định như thế nào?


Đáp viết:

Thái Dương tinh thuộc Hỏa, cũng là Nhật tinh vậy. Là biểu nghi của tạo hóa, tại Số chủ nhân có quý khí, có năng lực cả văn lẫn võ. Cùng chư cát tụ hội tất sẽ ban điều tốt lành cát tường, ở cùng chỗ với sao hắc ám thì tất sẽ lao tâm phí sức.


Nếu tùy xướng trong Thân Mệnh, cư nơi miếu nhạc là cực kỳ rực rỡ ở trong số, là cơ cấu then chốt của Quan lộc.


Sau nữa là hóa khí thành Quý, thành Lộc, vô cùng thích hợp ở Quan Lộc cung.


Với nam nhân thì coi như sao chủ về cha, với nữ nhân thì coi là chủ về chồng.


Mệnh gặp chư cát tinh thủ chiếu, được thêm Thái Âm cùng chiếu, thì chức cao và giàu có đều được toàn vẹn tốt đẹp.


Nếu cư Thân gặp cát tinh tụ hội, cũng có thể làm môn khách ở chỗ quý nhân, nếu không cũng là kẻ phụ tá cho bậc công hầu khanh tướng.


Phu Thê cũng là cường cung, người nam có chư cát tụ hội thì nhờ vợ mà được sang quý, quyền chức. nếu mà hãm địa lại gia thêm sát tinh thì hại vợ chứ chả tốt lành gì.


Tử Tức cung được Bát Tọa đồng cung, chư cát miếu vượng tụ hội, thì chủ sinh được quý tử, quyền bính không hề nhỏ chút nào.


Nếu ở Tài Bạch cung mà vượng địa, gặp cát tương trợ thì chẳng sợ Cự Môn đến gặp, vẫn được phú quý lâu dài. Nếu như cư vượng tướng mà không có Không Kiếp thì một đời chủ giàu có lắm.


Cư Điền Trạch cung được hưởng ấm trạch của cha ông, tổ tông. Nếu Tả Hữu và chư cát tinh tốt đẹp, đại tiểu nhị hạn đến đó thì tất sẽ có việc mừng hưng thịnh gia môn bất ngờ. Nếu hạn lại chẳng phù trì, không thể lấy tam hợp nghị luận được, e rằng có sai sót.


Nữ mệnh mà gặp nó, hạn vượng cũng vẫn có thể cộng hưởng (QNB chú: có lẽ muốn nói rằng vợ đến hạn có Thái Dương sáng + cát tinh, thì chồng cũng vẫn được hưởng lây).


Cùng với Linh, Hình tụ tập ở hạn, thì trước mắt có ưu phiền, hoặc là sinh khắc phụ mẫu. Hình Sát tụ hạn thì kẻ làm quan có ưu phiền về sự nghiệp, kẻ thứ dân lại dễ bị thị phi quan tụng quấy nhiễu. Cùng với Kình Đà tụ thì sẽ có tật bệnh, cùng Hỏa Linh hội hợp nữa thì đau khổ chẳng ít đâu. Theo đó mà suy ra họa phúc hiển hiện trước mắt. Thiên Di cung mà gặp các cách xấu kể trên là khó mà giữ được tổ nghiệp, xuất tổ ly gia, lìa cành đổi lá (ý nói dễ tán gia bại sản phải lưu lạc khỏi quê hương, bản quán). Hạn tới đó thì chắc chắn có sự di động. Nữ mệnh mà gặp thì cũng coi như chẳng có gì tốt đẹp, nếu may được Phúc Đức cung có tướng tá cát tinh thì lại là chiêu nạp được chồng tốt (QNB chú: phụ nữ xuất giá cũng coi như là di chuyển, xa tổ tông về làm con nhà người ta. Chứ ngày xưa thì phụ nữ chỉ có ở trong nhà, gặp hạn di chuyển mà ko phải là việc theo chồng thì sự di chuyển kia thường là những sự chẳng hay ho gì đối với gia cảnh).


Phụ Mẫu cung có Thái Dương tọa thủ thì nam coi đó là tượng của cha, nếu sáng đẹp thì là cát lành còn thất huy mờ ám thì là khắc cha.

Hi Di tiên sinh viết:
Sao Thái Dương trải qua vòng chu thiên mà chuyển mãi không ngừng. Mừng được Phụ Bật làm trợ lực cho biểu tượng, thích Lộc Tồn trợ phúc. Ghét gặp tụi Cự Môn với ám tinh. Khoái gặp Thái Âm miếu vượng. Ở khắp các cung gặp cát sẽ cát, gặp hắc ám thì tất sẽ lao lực. Thủ vào Thân Mệnh thì là người trung trực, ngay thẳng, không ưa đua chen thị phi. Nếu cư miếu vượng, lại hóa Lộc hóa Quyền, thì luận là rất Quý. Nếu đắc Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt tam hợp củng chiếu ở 2 cung Tài Quan thì phú quý cực phẩm. Thêm tứ sát thì cũng vẫn được no cơm ấm áo, hoặc là theo tăng đạo mà nhàn hạ. Nữ nhân miếu vượng thì chủ vượng phu ích tử, có thêm Quyền Lộc là dễ được phong tặng (tước vị phu nhân), thêm sát tinh thì lại chủ bình thường.

Ca viết:
Thái Dương nguyên thuộc Hỏa
Chính chủ quan lộc tinh
Nếu cư vào Thân Mệnh
Bẩm tính rất thông minh
Nhân từ và rộng lượng
Phúc thọ hưởng trường sinh
Nếu cùng Thái Âm hội
Chợt phát quý vô cùng
Sáng tỏ chiếu Thân mệnh
Ung dung nhập điện vàng
Cự Môn không xâm phạm
Lên điện hưởng ơn vua
Thiên viên gặp ám độ
Bần tiện khó nói hết
Nam nhân thì khắc cha
Nữ mệnh chồng chẳng vẹn
Gặp Kình Đà Linh Hỏa
Thì mắt tật đui mù
Nhị hạn mà gặp vậy
Tất bán sạch của nhà.


Bạch Ngọc Thiềm tiên sinh viết:
Thái Dương thuộc ti quyền quý chủ về văn, nếu gặp Thiên Hình thì chủ về võ. Tại Dần Mão là mới mọc, tại Thìn Tị là lên tới điện. Tại Ngọ là Nhật lệ trung thiên (Mặt trời rực rỡ giữa bầu trời), chủ đại phú quý. Tại Mùi Thân là xế bóng, vào việc thì chủ chăm chỉ lúc đầu, lười biếng về sau. Tại Dậu là lặn xuống đàng Tây, quý mà chẳng hiển lộ được, đẹp mà lại hư ảo. Tại Tuất Hợi là mất sạch ánh sáng, nếu gặp thêm Cự Ám thì một đời lao lực nghèo nàn. Thêm vào đó là chủ nhân mắt kém hoặc có thương tật, với người khó hòa hợp, dễ chiêu thị phi. Nữ mệnh mà gặp thì coi là phu tinh chẳng được đẹp, gặp Hao là dễ kết hôn mà chẳng có làm lễ cưới gì cả. Nếu cùng Lộc Tồn đồng cung thì tuy là chủ tài bạch nhưng mà vẫn vất vả cực nhọc. Nếu cùng Tả Hữu đồng cung thì luận là quý. Nhưng lại có Hỏa Linh thì trước tiên không tránh được việc khắc cha. Với Thái Dương thì người nam thì lấy nó làm biểu tượng cho cha, người nữ lấy làm biểu tượng cho chồng.

 

II. Thái Dương Luận

 

Sách Tử Vi Đẩu Số Tân Biên

Thái Dương (Nam Đẩu tinh, Dương Hỏa, Qúy tinh)


Chủ quan lộc


Biểu tượng của mặt trời, của cha, của ông nội, đối với đàn bà còn là biểu tượng của chồng


Miếu địa: Tỵ, Ngọ


Vượng địa: Dần, Mão, Thìn


Đắc địa: Sửu, Mùi
• Thông minh, nhân hậu, hơn nóng nảy, tăng tài, tiến lộc, uy quyền hiển hách


Hãm địa: Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý
• Kém thông minh, nhân hậu hay nhầm lẫn, giảm uy quyền


Miếu, vượng địa: nếu sinh ban ngày là thuận lý, rất rực rỡ.


Tăng thêm vẻ rực rỡ tốt đẹp, nếu gặp Đào, Hồng, Hỷ, Hỏa, Linh đắc địa.
Giảm bớt vẻ rực rỡ tốt đẹp, nếu gặp Riêu, Đà, Kỵ, hay Không, Kiếp.


Miếu, vượng địa gặp Tuần, Triệt án ngữ bị che lấp ánh sáng, thành mờ ám xấu xa.


Hãm địa gặp Tuần, Triệt án ngữ để tăng thêm vẻ sáng sủa tốt đẹp.


Đắc địa gặp Kỵ đồng cung là toàn mỹ, ví như mặt trời tỏa sáng có mây năm sắc chầu một bên.

 

Sách Tử Vi Đại Toàn

Thái Dương

Thuộc Hỏa, Nam Bắc đẩu tinh, tượng là mặt trời, chủ Quan Lộc

.
Thái Dương chủ quý, sau mới đến chủ phú. Người nam chỉ cha, con trai; người nữ chỉ cha, chồng, con trai. Do ánh sáng của mặt trời thay đổi theo 12 canh giờ, cho nên Thái Dương ở cung Dần cũng tựa như mặt trời vào giờ Dần, Thái Dương ở cung Mão tựa là mặt trời vào giờ Mão, lần lượt theo thứ tự như vậy.


Thái Dương nhập mệnh, chủ người sắc mặc đỏ hồng hay tím hồng, khuôn mặt vuông vắn tròn trịa, thân hình khôi ngô, tướng mạo đường hoàng, trung thành chính trực, không tính toán chuyện thị phi, tấm lòng nhân từ, thích giúp đỡ, từ thiện, hào phóng, chí khí cao ngạo, thường bị người khác hiểu nhầm. Thái Dương được cát tinh thủ chiếu, nếu được Thái Âm chiếu thì phú quý song toàn.


Nếu hội nhiều cát diệu thì có thể làm khách hay lui đến những nơi quyền quý, không có cát tinh thủ chiếu, thì thuộc tầng lớp nhân viên nhà nước bình thường.


Thái Dương lạc hãm, lao tâm phí lực, tuy hóa Quyền hóa Lộc cũng chủ vất vả khác thường, Thái Dương lạc hãm nếu như vào cung quan lộc, địa vị không hiển đạt, là người trước chăm chỉ sau biếng nhác.


Nữ mệnh Thái Dương, có chí hướng trượng phu, có cương có nhu, rất giỏi giang. Cá tính háo thắng, duyên với người khác phái tốt, nhiệt tình hướng ngoại, giao tiếp rộng, thường hay giao du với nam giới. Miếu vượng, vượng phu ích tử, hội Quyền Lộc được phong tặng (đất đai, chức hiệu), cung phúc đức có cát tinh chủ lấy được người chồng thông minh sáng suốt.


Thái Dương nhập miếu vượng là tốt, lãm hãm là xấu, người sinh ban ngày vượng, người sinh ban đêm hãm, người sinh ban đêm không nên có Thái Dương lạc hãm thủ mệnh. Nếu như sinh ban ngày (giờ Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân), Thái Dương tuy ở lạc cung tọa mệnh nhưng không luận là hung, nếu như sinh ban đêm (giờ Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần), Thái Dương ở cung miếu vượng thủ mệnh cũng không hoàn toàn đẹp.


Thái Dương cư miếu vượng, hóa Quyền hóa Lộc, thu được danh lợi, nắm quyền, có thể luận là quý. Nếu được Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt tam hợp củng chiếu tài bạch, quan lộc thì phú quý cực phẩm, gia Tứ sát, cũng chủ đủ ăn.


Thái Dương cư Dần là lúc mặt trời mới lên, cư Thìn Tỵ là lúc lên cao, cư Ngọ là ngôi cao chính giữa; cư Mùi Thân là mặt trời đi xuống, làm việc trước chăm chỉ sau biếng nhác; cư Dậu là có mà như không, quý mà không hiển, đẹp mà không thực; cư Tuất Hợi Tý là mất đi hào quang, gặp Cự Môn là ám tinh thì một đời vất vả bận rộn, càng chủ mắt có tổn thương, một đời hay gặp thị phi.


Thái Dương thủ mệnh, bất luận miếu hãm, duyên với cha bạc, đồng cung cùng Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ thì không tránh được khắc cha.


Thái Dương hóa Kỵ, thị phi, lạc hãm, mắt bị thương hay có tật, như cận thị, loạn thị… Hội hung sát tinh, có bệnh mãn tính hoặc cơ thể bị thương.


Thái Dương đồng cung hay hội chiếu với Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý thì có danh tiếng, được khen thường đặc biệt.


Thái Dương được Lộc Tồn đồng cung hay hội chiếu, luận là phúc, có tài năng xuất sắc, kinh doanh cũng có thể trở nên giàu có.


Thái Dương đồng cung với Xương Khúc, tài hoa sớm thể hiện, thiếu niên thành danh, phú quý.


Thái Dương đồng cung với Tả Phụ, Hữu Bật, cuộc sống thường được quý nhân giúp đỡ, sự nghiệp phát triển thuận lợi.


Nữ mệnh Thái Dương đoan chính, sớm lấy được chồng hiền lành đáng tin cậy. Cư Mão Thìn Tị Ngọ, không sát tinh thì vượng phu ích tử. Lạc hãm thì bình thường.


Nữ mệnh Thái Dương cư vượng địa, đoạt quyền chồng, chồng sợ vợ.


Thái Dương hóa Lộc, thu được danh lợi, tài quan song mỹ, cư miếu vượng đặc biệt tốt, tất là quan to.


Thái Dương hóa Quyền, có quyền lộc, là người cố chấp, tình tình ngang ngược, người sinh bên ngày cư miếu vượng tất chủ quyền quý.


Thái Dương hóa Kỵ, mắt có tật hay có bệnh tim, dễ gặp thị phi. Hoặc Thái Dương ở vượng địa, thì chưa đáng lo, sự nghiệp vẫn có thể phát triển, nếu như lạc hãm, lãng phí tiền bạc, nghèo khổ, nữ mệnh trước khắc chồng, sau khắc con. Thái Dương cư Tuất Hợi Tý hóa Kỵ, một đời gian khổ nghèo khó.
Thái Dương miếu vượng hội Khoa Quyền Lộc, công danh cái thế, nữ mệnh tất là bậc quý phu nhân. Hãm địa không dài lâu.


Thái Dương đồng cung với Tứ sát, bất luận miếu hãm, là người tính tình cương cường bạo liệt, dễ cực đoan, hay tranh chấp với người khác, thường gặp họa máu me, thân thể bị thương. Nếu như Thái Dương cư đất bình hòa lạc hãm, kiến Kình Đà Hỏa Linh đồng cung, tất tàn phế.


Thái Dương đồng cung với Thiên Hình cư mệnh, hay cư cung quan lộc, tài bạch, là người theo quân đội hay làm cảnh sát, tư pháp, miếu vượng hội cát tinh có thể nắm quyền lớn. Tam phương tứ chính mệnh cung có Thái Dương, Thiên Hình (không nhất thiết hai sao này phải đồng cung), cũng có thể luận như trên.


Thái Dương lạc hãm thủ mệnh cung, là người ban ngày thường mất tinh thần, ban đêm lại trần đầy sức sống, là điển hình của mẫu người “cú đêm”. Hễ thấy trong thiên bàn có Thái Dương ở cung lạc hãm thì luận như trên, không nhất thiết chỉ có cung mệnh.


Thái Dương nhập mệnh, thường là quân nhân, cảnh sát, thương nhân kiến trúc, nhân viên ngoại giao, cán bộ hành chính, vận động viên, nhân viên ngân hàng, nhà báo, nhà giáo dục, lạc hãm không có cát tinh thì là người lao động thể lực bình thường.

 

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Thái Dương

Thái Dương miếu ở hai cung Mão, Ngọ; hãm ở bốn cung Tuất, Hợi, Tí, Sửu.

Thái Dương là chủ tinh của Trung Thiên, không thuộc về Bắc hay Nam Đẩu, ngũ hành thuộc dương hỏa, hóa khí là “quý”.

Trong Đẩu Số, ba sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương chuyên làm chủ Bắc Đẩu, Nam Đẩu và Trung Thiên, có đặc tính khác nhau. Ánh sáng chói lọi và uy lực của Thái Dương thậm chí so với Tử Vi có lúc còn trải rộng và xa hơn. Nhưng ánh sáng và nhiệt của Thái Dương chỉ cho ra mà không nhận vào, cho nên đặc tính chủ yếu nhất của Thái Dương là chủ về Quý mà không còn chủ về Phú, chủ về Danh mà không chủ về Lợi.

Nếu nói về việc làm của con người, thì Tử Vi là đế tọa ( ngai vàng ), Thiên Phủ là quản kho tiền, Thái Dương thì quản chức tước. Đây là biểu hiện cụ thể tính chất chủ về Quý mà không chủ về Phú của Thái Dương.

Do tính chất này, Thái Dương rất nên đóng ở cung sự nghiệp ( cung quan lộc ), trong đó ở hai cung Tị, Ngọ là rất có khí thế. Bởi vì ở cung Tị là Thái Dương sắp lên đến giữa trời, ở cung Ngọ là đến giữa trời, cho nên khí thế vô cùng. Nếu ở cung vị lạc hãm, thì chủ về vì sự nghiệp mà lao tâm khổ tứ, vất vả.

Thái Dương là chủ tinh của Trung Thiên, do đó cùng dạng với Tử Vi, thích “bách quan triều củng”, ưa được các sao Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quan, Thiên Quý hội chiếu. Nếu không được trăm quan đứng chầu, mà còn gặp tứ sát, hoặc sát tinh nhiều mà cát tinh ít, thì chủ về phát lên một cách nhanh chóng, rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng, phú quý không được lâu. Nếu cát tinh nhiều mà sát tinh ít, thì chủ về tâm cao khí ngạo.

Thái DƯơng ngoài việc kỵ tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, còn rất ghét Cự Môn. Vì Cự Môn là “ám tinh”, có thể che ánh sáng của Thái Dương. Nó cũng không ưa bản thân Hóa Kỵ, sẽ bất lợi về mắt. ( bệnh về mắt hoặc cận thị…).

Thái Dương lạc hãm ở bốn cung Tuất, Hợi, Tí, Sửu. Ở cung Tuất, chủ về mắt có tật loạn thị, lòa mắt; ở cung Hợi là cách cục “Nhật Nguyệt Phản Bối”, nếu hội các sao Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Mã, thì gọi là “Lộc Mã Giao Trì”, thì trái lại vừa phú vừa quý.

Thái Dương nhập Mộ ở hai cung Mão, Ngọ. Ở cung Mão là “Mặt Trời Mọc Ở Phương Đông”, chủ về người có tính chất năm quyền; ở cung Ngọ là “Nhật Lệ Trung Thiên” ( mặt trời chói lọi giữa trời ), quyền lộc tuy trọng, nhưng ánh sáng của Thái Dương quá mãnh liệt, nên cũng dễ mắc bệnh tật ở mắt.

Ở nam mệnh, Thái Dương là cha, là con trai; ở nữ mệnh, Thái Dương là cha, là chồng và là con trai. Phàm Thái Dương ở cung mệnh, nói chung, hơi có tính chất hình khắc đối với phái nam trong lục thân. Mức độ hình khắc tùy theo cung vị, và các sao cát hung đồng cung hay hội chiếu.

Thái Dương ở cung Ngọ, ánh sáng của mặt trời mãnh liệt, cho nên mức độ hình khắc đói với phái nam trong lục thân, thông thường cũng lớn hơn ở các cung khác.

Ngoài ra, phàm Thái Dương ở cung mệnh, nên là người sinh vào ban ngày, không nên là người sinh vào ban đêm. Người sinh vào ban đêm mà ở cung hãm, dù không hội các sao hình sát, mức độ hình khắc phái nam trong lục thân vẫn lớn. Nếu người sinh vào ban ngày, thông thường mức độ sẽ giảm nhẹ.

Thái Dương chiếu khắp vạn vật, cho nên chủ về khẳng khái, hiền từ, rộng lượng. Nhưng nếu ở cung hãm thì dê thành màu mè, mà không có thực chất. Nữ mệnh Thái Dương, chủ về có chí hướng của đàn ông, hiền thục mà có chủ kiến, về phương diện tình cảm không dễ xảy ra tình huống lúng túng, khó xử. Có điều, nếu có Hỏa Tinh đồng cung, thì dễ xử sự bằng tình cảm.

Chương 24: Thiên Cơ
Chương 26: Vũ Khúc
Chia Sẻ Bài Viết