Chương 27: Thiên Đồng

I. Chư Tinh Vấn Đáp

 

Sách Thập Bát Phi Tinh

Hỏi Thiên Đồng chủ định như thế nào?


Đáp viết:
Thiên Đồng thuộc Thủy, là Nam đẩu, ti Phúc, là chủ quản của cung Phúc Đức.

Lại nói: hóa khí là Phúc và rất mừng gặp các cát tinh, trợ phúc thêm tốt lành, là người liêm khiết, diện mạo và bẩm tính thanh kỳ, có cơ mưu và không kiêu ngạo.


Không sợ gặp Thất Sát xâm phạm, không e ngại các sát tinh cùng triền độ.


Nếu hạn mà gặp, lại có mệnh đắc địa, thì dù là ở khắp 12 cung thì nó vẫn ban phúc tốt đẹp, nếu không có phá cách thì nhất định là cát tường.

 

Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư

Hỏi Thiên Đồng chủ định như thế nào?


Đáp viết:

Thiên Đồng thuộc Thủy, là Nam đẩu đệ tứ tinh, là chủ quản của cung Phúc Đức. Lại nói: hóa khí là Phúc và rất mừng gặp các cát tinh, trợ phúc thêm tốt lành, là người liêm khiết, diện mạo và bẩm tính thanh kỳ. Ở nơi then chốt mà không bị kích động quá mức thì không sợ gặp Thất Sát xâm phạm, không e ngại các sát tinh cùng vây chiếu.


Nếu hạn mà gặp, lại có mệnh đắc địa, thì dù là ở khắp 12 cung thì nó vẫn ban phúc tốt đẹp, nếu không có phá cách thì nhất định là cát tường.


Hi di tiên sinh viết: sao Thiên Đồng thuộc Nam đẩu, là sao giúp ích cho việc tính toán bảo vệ sinh mệnh, hóa Lộc là Thiện, gặp cát tinh là tốt lành, giá trị đối với Thân Mệnh vậy. Chủ là người khiêm tốn, bẩm tính thì ôn hòa.

Nhất định hiền từ và ngay thẳng, hòa nhã và tinh thông việc viết lách văn vẻ, có chí hướng ngoài dự tính, không kích động dữ dội. Không kị Thất Sát xâm phạm, chẳng kiêng dè các hung tinh đồng cung, ở trong 12 cung luận là phúc.


Gặp Tả Hữu Xương Lương thì quý hiển, lợi cho người tuổi Nhâm Ất Bính ở Tị Hợi là đắc địa. Không hợp với người tuổi Canh mà Mệnh cư ở Dậu, suốt đời không tuân theo.


Hội Tứ Sát ở Tị Hợi là hãm, dễ tàn tật cô đơn hình khắc. Nữ mệnh mà gặp có sát tinh xung phá thì hình phu khắc tử. Lương Nguyệt xung phá thì dễ tác hợp làm tì thiếp người ta, dễ hợp theo tăng đạo mà hưởng phúc.
(QNB chú: Sách không có phần viết của Bạch Ngọc Thiềm tiên sinh và phần ca quyết, có lẽ bị thất lạc. QNB đã cố gắng tìm kiếm nhưng chưa có kết quả. Độc giả nào biết được, xin vui lòng bổ xung giúp, xin cảm tạ!).

Phần phú NÔM nói về Thiên Đồng
Thiên đồng đầu lớn lưng dầy,
Hình thời phì mãn, tượng rày phương viên,
Ôn lương và lại hòa hiền,
Khoa, Quyền, Tấu hợp có quyền có uy.
Đồng đóng Mệnh tính hay canh cải,
Là sao thọ khảo phúc dầy đáng ghi,
Hỏa, Linh, Không, Kiếp xá chi
Gập Đồng bần khổ cùng thì u mê.
Thiên Lương, Nguyệt đức chiếu về
Ắt là mộ Phật hướng về tăng ni.
Đồng nơi Tuất, Ngọ yên vì
Hãm cung, nhưng tuổi Đinh thì hiển vinh,
Nếu có Hóa Kỵ thêm xinh,
Ấy là ứng hợp giúp thành giầu sang.
Đồng, Lương cùng hội Dần, Thân,
Vừa giầu, vừa thọ giữ phần yên vui.
Đồng, Lương, Linh, Kỵ, Quyền, Khôi,
Lại gia song Lộc hoạnh tài phú thương.
Đồng, Lương, Cự đóng ba phương,
Tam hóa, Tả, Hữu là người tài năng.
Đồng, Nguyệt cùng ở Ngọ cung,
Sát tinh hội, hợp kỷ công ấy nghề.
Nếu mà gặp được Kình dương,
Mà tuổi Bính, Mậu biên thùy tướng công.
Đồng, Nguyệt Tý gái hoa dung,
Gập Tang, Diêu, Khốc khóc chồng lắm phen.

 

II. Thiên Đồng Luận

 

Sách Tử Vi Đẩu Số Tân Biên

Thiên Đồng (Nam Đẩu tinh, Dương Thủy, Phúc tinh )


– Chủ phúc thọ


– Miếu địa: Dần, Thân


– Vượng địa: Tý


– Đắc địa: Mão, Tỵ, Hợi
• Canh cải, thất thường, trung hậu, từ thiện. Chủ sự may mắn, vui vẻ.


– Hãm địa: Ngọ, Dậu, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
• Canh cải, thất thường, nhân hậu. Chủ tai họa, thị phi, kiện cáo.

 

Sách Tử Vi Đại Toàn

Thiên Đồng


Thuộc Thủy, Nam Đẩu đệ tứ tinh, hóa Phúc, chủ Phúc Đức.


Thiên Đồng là một phúc tinh, cư 12 cung đều luận là phúc, có tác dụng chế hóa giải tai ách. Thiên Đồng ở mệnh, mặt hình vuông tròn, hai má đầy đặn, tính tình ôn hòa, khiêm tốn lễ độ, nhân từ cương trực, tinh thông văn họa, có chí lạ, không hung ác. Nhập miếu thì thân hình béo, lạc hãm thì thân hình trung bình hay lùn.


Cái phúc của Thiên Đồng, biểu hiện ở việc người đó có chút lười biếng, đặc biệt là biểu hiện trong cuộc sống thường ngày, chuyện gì cũng lười vận động, có thể kéo dài thì kéo dài, nên mới gọi những người lười là có cái phúc lười, có mang ý nghĩa ngồi hưởng thành quả ở sâu bên trong. Lí tưởng rất cao, suy nghĩ rất kĩ về chuyện tương lai, nhưng hành vi thực hiện thì lại rất ít, thậm chí trở thành kẻ nói suông. Vì vậy nên Thiên Đồng hỉ có sát tinh kích thích, như vậy sẽ khơi dậy được năng lượng của Thiên Đồng để làm nên chuyện.


Đặc điểm của sao Thiên Đồng là tính tình lạc quan, không câu nệ tiểu tiết, ở bên ngoài hay được mọi người yêu quý. Có hứng thú với nhiều thứ, biết cách bằng lòng mà sống vui vẻ, ít khi tức giận, không nhớ những chuyện hận thù, không gây thù chuốc oán, là người hài hước, tự mình cảm thấy vui vẻ. Khuyết điểm là thích tránh những công việc nặng nhọc, làm việc hay băn khoăn, nên khiến cơ hội nhiều khi đến sát bên mình rồi lại biến mất.


Nam mệnh Thiên Đồng đơn thủ mệnh cung thì có chút yếu đuối dễ bắt nạt. Thiên Đồng thủ mệnh dù ở cung nào, tính tình cũng đều ngây thơ, có lúc giống như một đứa trẻ con. Thiên Đồng nhập mệnh, bất luận nam hay nữ, đa phần đều trông béo tốt, mũm mĩm, khả năng tự hạn chế bản thân khá kém, dễ bị thế giới bên ngoài cám dỗ.


Nữ mệnh Thiên Đồng, khuôn mặt xinh xắn, hơi béo, da trắng, đối xử thân thiết với mọi người, sau trung niên thì béo.


Thiên Đồng thủ mệnh hội cát tinh, sống thọ, nếu không có cát tinh mà hội nhiều sát tinh thì tuổi thọ không dài.


Nữ mênh Thiên Đồng, vẻ ngoài lạc quan, nội tâm đa sầu đa cảm, ý chí không kiên định, dễ bị dụ dỗ. Nếu hội sát tinh xung phá, hình phu khắc tử; Thiên Lương, Thái Âm hội, dễ là vợ hai.


Nữ mệnh Thiên Đồng hội cát tinh, thường là vợ hiền. Mệnh lập ở Dần cung, người sinh năm Giáp hợp cách (Lộc Tồn ở Dần và Liêm Trinh ở Hợi cung Hóa Lộc nhị hợp), người sinh năm Tý hiền lương; mệnh lập Mão cung, người sinh năm Ất hợp cách; mệnh lập ở Tỵ cung, người sinh năm Bính Mậu hợp cách; mệnh tọa Tuất cung, người sinh năm Đinh hợp cách; mệnh tọa Hợi cung, người sinh năm Bính Tân hợp cách. Duy Thiên Đồng ở Tỵ Hợi cung, vì xung chiếu với Thiên Lương lạc hãm, nên dù đẹp nhưng dâm, nên chú ý đến khuyết điểm này.


Thiên Đồng là phúc tinh, hỉ hội sát tinh kích thích năng lượng của mình, để có thể thay đổi được bản tính lười nhác của Thiên Đồng, nhưng nếu sát tinh quá nhiều thì lại không tốt.


Thiên Đồng đồng cung với Kình Dương, có nạn máu chảy, cơ thể bị thương.


Thiên Đồng đồng cung với Đà La, thân thể đầy đặn hay béo, không đối xứng, thị lực bị tổn thương, mắt nhỏ mà dài, có thể bị cận thị, mắt bị lé, hoặc bị mù.


Thiên Đồng đồng cung hoặc hội chiếu với Xương Khúc, sự tu dưỡng văn học nghệ thuật cao, rất coi trọng sự hưởng thụ về mặt tinh thần, hay thành danh nhờ vào nghệ thuật.


Thiên Đồng đồng cung hoặc hội chiếu với Thiên Lương lại hội Địa Không Địa Kiếp, bất mãn với xã hội, trốn tránh hiện thực, dễ chuyển sang nghiên cứu về các lĩnh vực tôn giáo, thần học, chiêm bậc, thêm Triệt Không hoặc Tứ sát thì có khả năng xuất gia theo tăng đạo.


Thiên Đồng hội Tả Hữu Xương Khúc Thiên Lương, quý hiển.


Thiên Đồng không hợp với nhưng người sinh năm Canh, cư cung Dậu thì cả đời phá bại, có thể chết yểu.

 

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Thiên Đồng

Thiên đồng miếu ở ba cung Mão, Tị, Hợi, hãm địa ở ba cung Sửu, Ngọ, Mùi.


Thiên đồng là sao thứ tư của Nam Đẩu, thuộc dương thủy, hóa khí là “phúc”.


Trong Đẩu Số, sao Thiên đồng được ví là vị thần chuyên trông coi việc ăn uống, sắp xếp yến tiệc cho hoàng đế, vì vậy thiên đồng có đặc tính là hưởng thụ, theo đó khuyết điểm là lãng phí và nhu nhược.


Tồn tại một khái niệm khá phổ biến, cho rằng “Thiên đồng ở trong 12 cung, đều là phúc trạch“, thực ra không phải vậy. Vương Đình Chi cho rằng “Thiên đồng ở 12 cung đều có khuyết điểm“.


Nói về cung mệnh, người có Thiên đồng thủ mệnh, Cát thì chủ về khiêm tốn, thông minh mẫn tiệp, phong thái cao thượng phong nhã; Hung thì chủ về chìm đắm trong dục lạc, hay do dự thiếu quyết đoán, hoặc chỉ có kế hoạch tốt mà không thực hiện.


Thiên đồng úy kị tính cứng rắn và hình khắc của Hỏa tinh và Linh tinh, nhưng lại không sợ Kình dương. Khi Thiên đồng nằm cùng cung với Kình dương ở Ngọ, gọi là “Mã đầu đới tiễn” trái lại, sẽ chủ về người nắm thực quyền trong quân đội hoặc cảnh sát.


Thiên đồng ở Hợi không ưa Hóa Kị (năm Canh). Nếu can của cung Hợi hóa Kị, gọi là hóa xuất, lại gặp thêm Lục sát và Thiên hình, thì chủ về hình khắc cô độc, hoặc bị tai nạn bệnh tật làm tổn thọ.


Thiên đồng rất ưa trấn thủ tại Tuất, gặp Cự môn hóa Kị ở xung cung lai chiếu, được gọi là “phản bối“, nếu được Lộc tồn và Hóa Lộc hội hợp, là hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai, biến thành mệnh đại quý.


Nữ mệnh Thiên đồng cuộc sống thường sung túc, nhưng dễ cảm thấy tinh thần trống rỗng. Cổ nhân cho rằng “Nữ mệnh Thiên đồng cư Tị Hợi nhập miếu, thì đẹp mà dâm”. Luận đoán này được suy diễn ra từ tính chất tinh thần trống rỗng. Ở phương diện sự nghiệp hoặc phương diện sở thích, nếu có thể làm cho sinh hoạt tinh thần trở nên phong phú, thì vẫn tránh được cái gọi là “đẹp mà dâm”, đời sống hôn nhân tự nhiên sẽ được vui vẻ. Thiên đồng rất cần sinh hoạt tinh thần phong phú và đa dạng, để lấp đầy cảm giác nhàm chán.


Phàm Thiên đồng nhập cung Mệnh hoặc cung Phúc đức, chỉ cần không có Hóa Kị, phần nhiều chủ về tài năng âm nhạc, hoặc ưa thích cái đẹp, do đó chẳng khó tìm nơi để ký thác về phương diện tinh thần.


Bất kể là nam hay nữ, nếu Thiên đồng thủ mệnh, gặp sao Sát Hình, thì trái lại, Thiên đồng lại có thể có năng lực khai sáng, mà không bị sầu muộn về phương diện tinh thần. Nếu chỉ gặp sao Cát, mà không gặp các sao Sát Hình, thì trái lại, Thiên đồng dễ chìm đắm trong lạc thú mà trở thành phóng đãng. Đây giống như thời xưa, hoàng đế không có trung thần can gián, ở vào thời chưa gặp họa loạn, dễ vì lời sàm tấu của nịnh thần mà biến thành hôn quân.

Chương 26: Vũ Khúc
Chương 28: Liêm Trinh
Chia Sẻ Bài Viết