Chương 30: Thái Âm

I. Chư Tinh Vấn Đáp

 

Sách Thập Bát Phi Tinh

Hỏi Thái Âm chủ định như thế nào?


Đáp viết:
Thái Âm thuộc Thủy, là chủ của Điền Trạch, hóa khí là Phú, cùng với Nhật là phối ngẫu. Là nghi biểu của trời, có dụng theo thượng huyền và hạ huyền, phân biệt theo Hoàng Đạo Hắc Đạo, tròn hay khuyết, mà định ra sự miếu nhạc, lấy Mão Thìn Tị Ngọ là chỗ hãm, Dậu Tuất Hợi Tý làm cung viên đắc địa, Dần làm cửa bắt đầu xuất hiện, Mão làm chỗ tiềm ẩn phía đông (Dần vi sơ xuất chi môn, Mão vi đồng tiềm chi sở).


Chủ người thông minh tuấn tú, bẩm tính đoan trang, thanh nhã, dịu dàng, vẹn toàn cát lợi.


Thượng huyền là then chốt trọng yếu, Hạ huyền thì luận là giảm uy thế.
Nếu đối chiếu với chỗ của Thái Dương, như Nhật đến Mão Nguyệt đến Dậu thì đều là chỗ vượng, là căn bản của phú quý vậy.


Ghét Cự Môn đến trong triền độ, sợ Kình Đà chiếu vào.


Hoặc gặp Liêm Trinh xâm phạm, cũng như với Thất Sát tương xung, như thế thì e rằng cung viên không được đắc ý, nhất định luận là có thương tích, tàn tật, trừ phi là theo tăng đạo thì phản chuyển thành cát lành.
Với nam nhân coi là mẫu tinh chủ người mẹ, đồng thời là thê tú chủ người vợ, quyết họa phúc quan trọng, không thể sai lệch.


Mệnh tọa ở cung mà (Thái Âm) có ánh bạc quang huy rạng rỡ, thêm chư cát tinh đều hội tụ thì luận là được hưởng phúc, được hưởng tổ nghiệp.
Nếu như (Thái Âm) hãm địa thì tất sẽ bị mai một yếu kém về (công) danh.
Nếu ở Thượng Huyền, Hạ Huyền nhưng mà không gặp Cự Môn thì là tốt đẹp (QNB chú: Thái Âm làm thế nào mà gặp Cự Môn được? Độc giả lưu ý vậy!).


Tại Tài Bạch cung là miếu nhạc, có Vũ Khúc Lộc Tồn cùng hội, lại đắc Tả Hữu tướng tá thì chủ đại phú.



Nếu (Thái Âm) ở cung an Thân, thì có mẹ nuôi, dì ghẻ, hoặc là bỏ nhà ly tổ.
Thân Mệnh (có Thái Âm) nếu thấy ác sát hội chiếu xung chiếu thì luận là bị thương hoặc tàn tật. Trừ phi theo tăng đạo thì lại phản chuyển thành được tốt lành. Lại như nếu cùng Văn Khúc đồng cư Thân Mệnh (có sát tinh xung chiếu như trên) thì nhất định sẽ là giới cửu lưu thuật sĩ.


(Thái Âm) Với nam chủ về người mẹ, lại cũng chủ về người vợ.


Nếu cùng với Phá Quân đồng cư, không thể vượng phúc, thăng trầm trăm bề, thành bại thất thường.


Nếu cùng với Hình Tù Sát hội thì chủ tiền mất người lìa xa, chung thân cô khắc.


Tại Huynh Đệ Nô Bộc cung là hãm, tại Điền Trạch là nhập miếu, cùng với Tả Hữu Lộc Tồn Phúc Ấm đồng cư thì được thử hưởng tổ nghiệp mà lại thịnh vượng, còn ở chỗ hãm địa thì tuy cát nhưng cũng có sự khiếm khuyết. Nếu như thêm ám diệu lâm đến, hình tinh giao hội, thì sản nghiệp có tổn hại, có sự chia lìa với mẹ. Các sát diệu với Liêm Trinh đừng nên xâm phạm, các lưu sát thái tuế chớ có giao hội kẻo chẳng lành.


Tại cung Tử Tức gặp Hình tinh, nếu có được sự chế hóa thì được tương sinh tương trợ, còn nếu bị khắc thì sẽ hao tổn mất con.


Tại cung Phu Thê thì với nam nhân là chủ thê tài, với nữ thì không luận, gặp Dương (tức Kình) Cự thì tất sẽ khắc vợ, nếu thêm Thái Tuế Lưu Sát tấu hợp thì đoán ngay được phúc họa.


Tại Tật Ách cung mà ngộ Đà La là mắt có tật, gặp Hỏa Linh là tai nạn, thấy Tham Lang Thất Sát thì cũng tổn hại cho mắt.


Tại Thiên Di đắc cát tụ thì làm thương lái mà sinh tiền tài. Cung an Thân gặp ở đó thì có mẹ kế.


Tại Quan Lộc đắc quang huy thì là phúc, nếu không có quang huy thì vô dụng. Gặp Xương Khúc thì thanh tao tốt đẹp, tất luận là đỗ cao hiển đạt đăng khoa.


Tại Phúc Đức mà hãm thì hợp theo tăng đạo.


Tại Tướng Mạo (Phụ Mẫu cung), nếu như hãm địa thất huy mà lại gặp Bạch Hổ Thái Tuế thì chủ về mẹ có tai họa, vợ cũng cần phải cẩn thận đề phòng (tai họa).

 

Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư

Hỏi Thái Âm chủ định như thế nào?


Đáp viết: Thái Âm thuộc Thủy, là chủ của Điền Trạch, hóa khí là Phú, cùng với Nhật là phối ngẫu. Là nghi biểu của trời, có dụng theo thượng huyền và hạ huyền, khi tới chỗ sáng vàng lúc ở chỗ tối đen phân ra thành thế hay dở trong số định miếu nhạc. Chủ người thông minh tuấn tú, bẩm tính đoan trang, thanh nhã, dịu dàng, vẹn toàn cát lợi.


Thượng huyền là then chốt trọng yếu, Hạ huyền thì luận là giảm uy thế. Sở trị bất dĩ sở kiến vô phương (QNB chú: tạm thời chưa biết dịch ý này như thế nào, xin để nguyên văn 所值不以所見無妨), nếu cùng tọa ở chỗ Thái Dương, còn như Nhật đến Mão Nguyệt đến Dậu thì đều là chỗ vượng, là căn bản của phú quý vậy.


Mệnh tọa ở cung mà (Thái Âm) có ánh bạc quang huy rạng rỡ, thêm chư cát tinh đều hội tụ thì luận là được hưởng phúc.


Nếu như (Thái Âm) hãm địa thì tất sẽ bị mai một yếu kém về (công) danh.
Nếu ở Thượng Huyền, Hạ Huyền nhưng mà không gặp Cự Môn thì là tốt đẹp (QNB chú: Thái Âm làm thế nào mà gặp Cự Môn được??? có lẽ sách muốn nói đến trường hợp Mệnh có Thái Âm và Thân cư Phúc có Cự Môn, hoặc là lại dùng phép ẩn dụ để lấy Cự Môn mà ám chỉ tới Tam Ám là Riêu Đà Kị chăng. Độc giả lưu ý vậy!).


Nếu (Thái Âm) ở cung mà Thân cư, thì có mẹ nuôi, dì ghẻ, hoặc là bỏ nhà ly tổ.


Thân Mệnh (có Thái Âm) nếu thấy ác sát hội chiếu xung chiếu thì luận là bị thương hoặc tàn tật. Trừ phi theo tăng đạo thì lại phản chuyển thành được tốt lành. Lại như nếu cùng Văn Khúc đồng cư Thân Mệnh (có sát tinh xung chiếu như trên) thì nhất định sẽ là giới cửu lưu thuật sĩ.


(Thái Âm) Với nam chủ về người mẹ, lại cũng chủ về người vợ.


Hi Di tiên sinh viết: Thái Âm hóa Lộc với Nhật là phối ngẫu, lấy chỗ Mão Thìn Tị Ngọ Mùi làm hãm địa, theo nơi Dậu Tuất Hợi Tý Sửu mà đắc miếu.
Dậu vi tây sơn chi môn, vi đông tiềm chi sở (QNB chú: Câu này hơi khó cắt nghĩa, nhất là ở chữ “đông tiềm” nên xin để nguyên văn 酉為西山之門, 為東潛之所. Theo thiển ý của riêng QNB thì có lẽ sách muốn nói: Ở Dậu là cửa của các rặng núi đằng tây, khi nguyệt mọc đằng tây thì cũng tựa như lúc nhật mọc đằng đông, tới chỗ cung ấy vẫn bị coi là tiềm ẩn chưa lên ngôi lên điện. Cái tượng này cũng khá giống khi nói về Đông Cung Thái Tử, người kế vị ngôi vua nhưng chưa lên ngôi nên coi là tiềm long, là đông tiềm vậy. Mong độc giả cùng luận bàn cho rõ nghĩa hơn). Nó ngại Cự Môn mà đến trong triền độ, sợ Kình Đà đồng cung, (sợ) gặp Liêm tù xâm phạm, cũng như với Thất Sát tương xung, như thế thì e rằng cung viên không được đắc ý, nhất định luận là có thương tích, tàn tật.


Thái Âm thuộc Thủy, cũng là mẫu tinh, đồng thời là thê tú.


Nếu tại Thân Mệnh mà miếu nhạc, có cát tinh tụ tập thì chủ phú quý.


Tại Tật Ách cung mà ngộ Đà La là mắt có tật, gặp Hỏa Linh là tai nạn, thấy Tham Sát thì cũng tổn hại cho mắt.


Tại Phụ Mẫu cung, nếu như hãm địa thất huy mà lại gặp lưu niên Bạch Hổ Thái Tuế thì chủ về mẹ có tai họa.


Nó tuy là sao mang tính thuần hòa, nhưng mà lúc hãm địa (thất huy, mất ánh sáng) lại gặp khắc chế thì tất sẽ chẳng tốt lành gì. Nếu gặp Bạch Hổ, Tang Môn, Điếu Khách, thì ngay cả người vợ cũng cần phải cẩn thận (kẻo vợ lại gặp tai họa).


Thái Âm, Thủy, Bắc tinh ấy hướng,
Ở miếu cung tính vốn thanh tân.
Bính, Đinh cư Tý giầu sang,
Có lòng từ thiện, lại làng kinh luân.
Nguyệt miếu vượng trùng phùng Xương, Khúc,
Việt, Khôi, Khoa, Quyền Lộc, Đào, Hồng,
hội cùng Tả, hữu song song,
Giàu sang hồ dễ ai hòng dám tranh.
Hoặc là Nguyệt mệnh cung độc thủ,
Sinh vào đêm đúng buổi trung tuần,
Cũng là đẹp đẽ muôn phần,
Giảm đi nếu gập Triệt, Tuần án ngăn.
Ấy là số ly tông lập nghiệp,
Nhưng mắt đau hay liệt tuần hoàn.
Nguyệt gia gập Kỵ đồng sàn,
Không gia Sát, Bại ( tứ Sát, lục Bại ) giầu sang trọn đời.
Nguyệt miếu vượng là người to lớn,
Nếu hãm cung hơi ốm và cao,
Tính ưa ngâm vịnh tiêu dao,
Danh tài nếu có nhờ vào văn tinh.
Nguyệt hãm gập Triệt không thành quý,
Chỉ sợ Hình, Diêu, Tị (con rắn) tật nguyền.
Nữ lưu Nguyệt vượng như trên,
Là người nhan sắc đảm đang lợi chồng.
Nếu gập Triệt không làm lẽ (hay muộn)
Nếu gập Lương hãm địa đa dâm.
Mão cung đến Tị (con rắn) chớ nhầm,
Nguyệt Lường hội họp chịu phần khảm kha.
Hạn gập Nguyệt, Đà, Kình đáng ngán,
Ấy nhân ly, tài tán phải phòng.
Thái âm hội với Long trì,
Tuy xấu nhưng cũng được phần ấm thân.
Cung Thê hội Thái âm, Văn khúc,
Vợ cao sang tột bực nữ lưu.

 

II. Thái Âm Luận

 

Sách Tử Vi Đẩu Số Tân Biên

Thái Âm (Bắc Đẩu tinh, Âm Thủy, Phú tinh)


– Chủ điền trạch


– Biểu tượng của mặt trăng, của mẹ, của bà nội và của vợ


– Miếu địa: Dậu, Tuất, Hợi


– Vượng địa: Thân, Tý


– Đắc địa: Sửu, Mùi
• Khoan hòa, nhân hậu, từ thiện. Chủ sự phú túc, nhiều nhà đất, hay gặp may mắn.


– Hãm địa: Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ
• Từ thiện, kém sáng suốt, hay nhầm lẫn. Chủ sự phát tán suy bại


– Miếu, vượng địa: sinh ban đêm là thuận lý, rất sáng sủa tốt đẹp. Nếu sinh ban đêm trong khoảng từ mùng một đến ngày 15 là thượng huyền, thật là rực rỡ.


– Tăng thêm vẻ rực rỡ tốt đẹp, nếu gặp Đào, Hồng, Hỷ.


– Giảm bớt vẻ rực rỡ tốt đẹp, nếu gặp Riêu, Đà, Kỵ hay Kình, Không, Kiếp.


– Miếu, vượng địa gặp Tuần, Triệt án ngữ bị che lấp ánh sáng, thành mờ ám, xấu xa.


– Hãm địa gặp Tuần, Triệt án ngữ thành sáng sủa, tốt đẹp.


– Đắc địa cần gặp Tuần, Triệt án ngữ để tăng vẻ sáng sủa tốt đẹp.


– Đắc địa gặp Kỵ đồng cung là toàn mỹ ví như mặt trăng tỏa sáng, có mây năm sắc chầu một bên.

 

Sách Tử Vi Đại Toàn

Thái Âm


Thuộc Thủy, Nam Bắc Đẩu tinh, tượng là mặt trăng trên trời, hóa Phúc, chủ Tiền Bạch, Điền Trạch. Thái Âm chủ Phú, sau mới chủ Quý. Người nam thì ứng với mẹ, vợ, con gái; người nữ thì ứng với mẹ, con gái.


Thái Âm cư Mệnh thay đổi ánh sáng theo thời gian, như Thái Âm ở cung Tý tượng trưng cho mặt trăng vào giờ Tý, Thái Âm ở giờ Dậu tượng trưng cho mặt trăng ở giờ Dậu, lần lượt suy tiếp.


Thái Âm nhập mệnh cung, mặt vuông tròn, thân hình trung bình, hơi béo, da trắng sáng. Tính tình dịu dàng, thanh tú cương trực, thông minh tuấn tú, khí chất bên ngoài tốt, đoan chính, khiêm tốn lễ độ, suy nghĩ tinh tế, biết cách cư xử thỏa đáng trong giáo tiếp, tránh được xung đột chính diện, xử lý tốt đẹp các mối quan hệ. Bất luận miếu hãm, đều có sự tu dưỡng về phương diện văn học nghệ thuật, văn hay chữ tốt, học nhiều đa năng. Ưa sạch sẽ, chú ý đến sự thú vị của cuộc sống, là người theo chủ nghĩa duy mỹ. Tính tình thích tĩnh, có hứng thú với triết học, tâm lý học, mỹ học, thần bí học, thích trầm tư, suy nghĩ kĩ càng, giàu trí tưởng tượng, tư duy siêu thực, thậm chí nhiều lúc có xu hướng đa sầu đa cảm. Đa phần tưởng tượng rất lãng mạn về cuộc sống, nhưng có lại không đồng ý thay đổi. Nam nữ đều có duyên sắc sắc với người khác giới, dễ phạm đào hoa.
Nam nữ phong lưu hào phóng, nho nhã, trực tính gấp gáp, dễ thân thiết với nữ giới, cử chí có lúc bị nữ tính hóa, ẻo lả, đồng cung với sát tinh thì không nhất thiết như vậy.


Nữ mệnh mắt ngọc mày ngà, dung mạo đẹp đẽ, mềm mại như thương, khiến nam giới phải đắm say.


Thái Âm thủ mệnh, hỉ người sinh ban đêm, người sinh ban ngày tốt nhất không nên lâm cung lạc hãm, hãm thì khác mẹ, nam thì khắc vợ. Thái Âm hóa Kỵ nếu như đồng thủ với sát tinh, tất mẹ mất trước. Sinh vào buổi đêm, Thái Âm tuy ở hãm địa nhưng không luận là hung; nếu sinh ban ngày, Thái Âm ở miếu vượng địa cũng không gọi là đẹp hoàn toàn.


Thái Âm hỉ có Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt Lộc Tồn thủ chiếu cát hóa, nhập miếu hội nhiều cát tinh thì phú quý.


Thái Âm ở cung thân, chủ có mẹ kế, hay theo mẹ tái hôn, xa quê làm con thừa tự, cung thân cư thiên di cung, Thái Âm lạc hãm, luận như trên. Hoặc Thái Âm ở cung thân hãm địa, đồng cung với Tứ sát, hoặc đồng cung với một trong Phụ Bật Khôi Việt cũng luận như trên.


Thái Âm cư cung mệnh hay cung thân, miếu vượng, chủ một đời vui vẻ. Hội sát tinh thủ, một đời không vui vẻ.


Thái Âm thủ mệnh, lạc hãm, đồng cung với Kình Đà Hỏa Linh, cơ thể thương tật.


Thái Âm Lộc Tồn đồng cung, Tả Hữu tương phùng phú quý.


Thái Âm đồng cung với Kình Đà, chủ tán tiền bạc.


Thái Âm đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc, cảm giác mẫn duệ, tri thức phong phú, giỏi nghề, có sở trường chuyên môn hay kĩ thuật, giàu tài hoa nghệ thuật, dễ thành danh. Thái Âm lạc hãm, đồng cung với Văn Khúc mà không hội Văn Vương thì là bậc thuật sĩ phiêu bạt.


Thái Âm và Tứ sát đồng cung tọa mệnh, chủ người gian trá, tính toán, Thái Âm lạc hãm lại hội Tứ sát hình kỵ thì ham tửu sắc, dâm dật, có nhiều âm mưu, tâm địa hiểm độc.


Thái Âm hóa Lộc, tốt đẹp, duyên với người khác phái tốt, một đời tiền bạc vượng, nhiều bất động sản, Thái Âm nhập miếu vượng thì đặc biệt tốt. Hãm địa thì có khẩu thiệt thị phi. Nữ mệnh dịu dàng, có cách thu vén gia đình, giàu có.


Thái Âm hóa Quyền, tốt đẹp, nắm tiền tài quyền lực, có thể vượng phát, Thái Âm miếu vượng đặc biệt tốt, hãm Địa Không hội sát tinh cũng có thể luận là tốt.


Thái Âm hóa Khoa, nhiều sở trường kĩ nghệ, làm việc hợp lý, có đào hoa, danh vọng cao, tài vận tốt.


Thái Âm hóa Kỵ, nếu Thái Âm lạc hãm địa đại hung, một đời không thuận lợi nhiều tai họa, tình yêu nhiều điều không như ý, chậm hôn, thân thể nhiều bệnh. Nhập miếu không sợ Hóa Kỵ, còn gọi là “biến cảnh”, tăng phần tốt đẹp.

 

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Thái Âm

Thái âm miếu ở Hợi, Tý, Sửu. Hãm ở Mão, Tị, Ngọ.


Thái âm là sao của Trung Thiên Đẩu, ngũ hành thuộc âm thủy, hóa khí làm “phú” (giàu có)


Thái âm và Thái dương là cặp “sao đôi” quan trọng trong Đẩu Số, do đó hai sao có tính chất tương đồng và cũng có tính chất tương dị. Thái âm chủ về phú, Thái dương chủ về quý; Thái âm chủ về nữ, Thái dương chủ về nam; Thái âm chủ về nhu, Thái dương chủ về cương; Thái âm thuộc thủy, Thái dương thuộc hỏa; Thái âm là mẹ, Thái dương là cha; Thái âm là con gái, Thái dương là con trai.


Thông thường bất kể nam hay nữ, mà gặp Thái âm, đều chủ về bất lợi cho lục thân phái nữ. Có thể căn cứ cung vị Thái âm bay đến, và tổ hợp tinh hệ của tam phương tứ chính để luận đoán mệnh vận của người bị bất lợi. Nói chung, thường chủ về lúc nhỏ mẹ bất lợi; nếu là nam mệnh, Thái âm lạc hãm là bất lợi cho vợ hay con gái.


Nam mệnh cung Thân gặp Thái âm, chủ về dễ tiếp cận với người khác giới, cũng chủ về người này tính tình dựu dàng, nhiều nữ tính. Nếu cung Phúc đức và cung Phu thê không tốt, có thể có khuynh hướng đồng tính.


Nữ mệnh cung Thân gặp Thái âm, không hội sát tinh, chủ về là người đoan trang, thông minh. Nếu gặp các sao Sát Hình, thì có khuynh hướng khắc chồng hình con. Nếu gặp các sao đào hoa, mà cung Phúc đức và Phu thê không tốt, thì cũng có thể phát triển thành đồng tính luyến ái.


Thái âm hội hợp Văn xương, Văn khúc, chủ về tài năng học rộng, có thể phát về văn chương. Rất ưa hội hợp với Lộc tồn, Hóa Lộc, bởi vì Thái âm chủ về cất giấu, phú, tĩnh, có khí vị hợp với Lộc tồn, Hóa Lộc. Hội hợp với Hóa Quyền, Hóa Khoa thì có thể cương nhu tương tề.


Thái âm và Thái dương hội hợp, nếu hai sao đều nhập cung miếu vượng, cũng chủ cương nhu tương tề, là người có nội tài, nhưng cao thượng độ lượng, phóng khoáng bất phàm.


Thái âm ở cung hãm không ngại Hóa Kị, vì Thái âm của cung hãm vốn không sáng, đương nhiên không sợ mây mù che kín. Ở cung vị miếu vượng thì lại sợ Hóa Kị, vì có mây mù che trăng sáng. Nhưng Hóa Kị ở Hợi thì gọi là “biến cảnh”, trừ khi có các sát hình cùng chiếu, nếu không “biến cảnh” chỉ làm tăng vẻ rực rỡ của ánh trăng.


Vương Đình Chi kinh nghiệm, phàm là Thái âm thủ mệnh, lúc luận đoán rất nên xem kèm cung Phúc đức. Bởi vì Thái âm chủ về phú, ở xã hội cổ đại khá đơn thuần, tuy có cạnh tranh nhưng không kịch liệt, do đó việc chủ về sự hưởng thụ tinh thần của cung Phúc có ảnh hưởng không lớn. Còn trong xã hội hiện đại thì cạnh tranh kịch liệt, thủ đoạn cạnh tranh cũng nhiều âm mưu hơn, nếu cung Phúc đức mà không tốt, do Thái âm chủ về phú, thương thường sẽ trái lại, dễ dẫn đến đau khổ về phương diện tinh thần. Khi luận đoán cần chú ý.

Chương 29: Thiên Phủ
Chương 31: Tham Lang
Chia Sẻ Bài Viết