Chương 57: Dự Đoán Vận Hạn

I. Thuyết Tam Tài

 

(1) Ý Nghĩa Cơ Bản

Chúng ta thường hay nghe câu: < Thiên Thời – Địa Lợi – Nhân Hòa >. Câu trên xuất phát từ lý thuyết Tam Tài trong Kinh Dịch, nguyên văn:

< Dịch chi vi thư dã quảng đại tất bị, hữu Thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên. Kiêm Tam Tài nhi lưỡng chi cố lục, lục giả phi tha dã, tam tài chi đạo dã >

Dịch nghĩa:

< “Biến hóa mà thành các quẻ (hình trạng) đầy đủ trọn vẹn. Trong đó có đạo Trời, đạo Người và đạo Đất: Đó là Tam Tài, gấp đôi lên thành 6 hào, 6 hào không hơn không kém, đó là đạo Tam Tài”. >

Thiên Địa Nhân, như thế, mang ý nghĩa là ba căn cơ cùng lý của vũ trụ vạn vật, đồng thời cũng là ba căn cơ tác động muôn vật trong vũ trụ.

 

Có thể thiểu đơn giản Tam Tài như sau:

THIÊN
Tài năng bẩm sinh của bạn, cơ hội và khả năng khai thác tối đa tiềm năng của bản thân. Nền tảng gia đình, thể trạng, và nơi bạn sinh ra – tất cả đều là những yếu tố do Thiên vận quyết định.


ĐỊA
Khu vực bạn sinh sống, được xem như Phong thủy. Môi trường sống của bạn, nơi bạn làm việc, nơi bạn ở – tất cả đều đóng vai trò quan trọng tạo nên Địa vận của bạn.


NHÂN
Hành động của bạn để biến tiềm năng và cơ hội đến với bạn thành hiện thực. Ngoài ra, quá trình giáo dục, tính kiên trì, niềm tin, và nguyên tắc cũng là những yếu tố tạo nên nền tảng Nhân vận của bạn.

 

(2) Thuyết Tam Tài Trong Tử Vi Đẩu Số

Trích Một Phần Từ Sách Tử Vi Đẩu Số – Vận Mệnh Phân Tích ( Từ Tăng Sinh ) – Thiên Hỏa Đồng Nhân Hội Dịch và Quách Ngọc Bội Hiệu Đính

 

Khi học Đẩu Số thì thường nghe các thuật ngữ “Thiên – Địa – Nhân”, có người đem chụp mũ nó trở thành Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số làm ra vẻ rất chi là thần bí. Rốt cuộc thì Thiên Địa Nhân đại biểu cho ý nghĩa gì? Có rất nhiều sách giải thích nói rằng, Mệnh gốc là Thiên Bàn, Đại Hạn là Địa Bàn, Lưu Niên chính là Nhân Bàn, đây chính là ý nghĩa của Thiên Địa Nhân bàn. Không sai! Nhưng là lại đêm cái quan niệm của Thiên Địa Nhân giới hạn hẹp hòi trong mấy cấp độ tầng lớp của lá số Tử Vi, nếu như dùng cái Thiên Địa Nhân bàn thiên lệch hẹp hòi như thế để mà suy diễn mệnh lý thì thường rơi rụng thiếu cân xứng khiến sinh ra sai sót.

 

Kỳ thực [Thiên – Địa – Nhân] là một loại quan niệm, nó chính là trình tự là suy diễn trong mệnh lý, chỗ suy xét của nó hoàn toàn liên kết một dải rộng các nhân tố. Cái gọi là “dải rộng các nhân tố” chính là do có rất nhiều đại lượng biến thiên như: các loại yếu tố cấu thành thời đại (độ tuổi), sự tình, vật phẩm, vùng miền. Thí dụ như đêm hoàn cảnh thời đại nơi ở coi như là dải rộng các nhân tố, thì ở bên trong đó dải rộng các nhân tố đó sẽ bao gồm:

  • Chế độ Chính trị: Là chế độ chính phủ chuyên chế, hoặc là chế độ chính trị dân chủ, hoặc là chế độ cộng sản,… những người sống trong các chế độ chính trị khác nhau
    thì nhất định sẽ không cùng vận mệnh.
  • Trình độ Y học: Có vài loại bệnh ngày xưa coi là nan y, nhưng bây giờ đã có thuốc
    có thể điều trị khỏi.
  • Phong tục Tập quán: giữa dân bản địa với dân tộc Hán, hoặc giữa dân tộc Thái với dân tộc Hán có rất nhiều tập tục không giống nhau.
  • Bầu không khí Xã hội: Xã hội nông nghiệp bảo thủ, dù tình cảm vợ chồng không tốt nhưng nhờ sự chịu đựng nhiều nên tình trạng ly hôn ít, so với xã hội công thương ngày nay thì giới nữ có năng lực tự chủ cao về kinh tế, nơi công tác lại có nhiều cơ hội tiếp xúc với những người khác giới, sự khuyến rũ bên ngoài cũng nhiều, cho nên một khi đã ngoại tình hoặc không hòa hợp trong tình cảm vợ chồng thì đa số sẽ ly hôn, cho nên tình trạng hôn nhân cũng cũng thay đổi.
  • Tình hình an ninh trật tự: sự hung hăng ngang ngược của giới xã hội đên, ma tuý, tham quan hống hách, cũng ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân lương thiện, suy giảm về ý nguyện đầu tư xí nghiệp, kinh tế không tăng trưởng thì đương nhiên đời sống sinh hoạt liền rất túng thiếu, nếu như là ở tình trạng chiến tranh, thì số phận của những người sống trong hoàn cảnh như vậy càng bị ảnh hưởng rõ ràng hơn, thậm chí còn chẳng có gọi là số phận cá nhân bởi vì vận mệnh quốc gia vốn có sức ảnh hưởng tuyệt đối.
  • Khoa học kỹ thuật phát triển: Máy tính xuất hiện đã thay đổi sinh hoạt của con người, như các hình thức giải trí, đi làm, buôn bán, mua sắm, đều khác với trước đây.

 

Các đại lượng biến thiên ấy đều là nhân tố bên ngoài mà ảnh hưởng đến vận trình của một cá nhân. Chúng còn tạo thành sự tương ứng cùng với hoàn cảnh vị trí ngay lúc xem số mệnh, cân nhắc người tới coi số mệnh có thuộc về cái hoàn cảnh lúc bấy giờ hay không, sau đó mới giải thích cho phù hợp. Như việc đêm Đại Hạn bàn (lá số của Đại Hạn) mà coi như là vùng đại lượng biến thiên lớn, như thế thì ở trong khu vực lớn ấy sẽ bao gồm các đại lượng biến thiên:

Các cung nhân sự của Đại Hạn

  • Mối quan hệ trùng lặp của các cung nhân sự trên lá số của Đại Hạn với các cung nhân sự của lá số gốc (Mệnh bàn).
  • Tổ hợp các sao tọa thủ ở lá số của Đại Hạn
  • Thiên Can trên lá số của Đại Hạn
  • Địa Chi trên lá số của Đại Hạn

Chúng lại còn có mối quan hệ xung chiếu hội nhập với các cung cùng loại trên lá số gốc, xác định ý nghĩa hình tượng của sự kiện xảy ra, rồi cho phép từ trong lá số của Lưu Niên ( Tiểu Vận 1 Năm ) hiển lộ ra mức độ nặng nhẹ về cát hung của hình ảnh sự kiện.

 

Một con người tồn tại trong cái thế giới này, dù ít dù nhiều thì đều vẫn sẽ chịu ảnh hưởng lên số phận của mình bởi các loại biến động bên ngoài. Đối với con người mà nói, thì không cách nào tự tách mình ra khỏi xã hội để mà tạo thành một quá trình mệnh vận cá nhân độc lập được. Cho nên “Thiên – Địa – Nhân” cho thấy chính là một cái ren xoắn của quá trình suy luận vận mệnh, còn [Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa] chính là vòng xoắn thứ nhất trong quá trình đó.

 

II. Vận Dụng Tứ Hóa

Trích Một Phần Từ Sách Tử Vi Đẩu Số – Vận Mệnh Phân Tích ( Từ Tăng Sinh ) – Thiên Hỏa Đồng Nhân Hội Dịch và Quách Ngọc Bội Hiệu Đính

 

“Tứ Hóa phi tinh” chính là sự kết hợp của 2 từ “Tứ Hóa” và “Phi Tinh”, hai cái từ này có ý nghĩa khác biệt, không thể lẫn lộn. Có người cho rằng “Tinh thần rơi vào cung nào thì gọi là Phi Tinh” hoặc “Lưu Niên tinh rơi vào một cung nào thì gọi là Phi Tinh”. Những cái đó đều không phải ý nghĩa gốc gác của “Phi Tinh”, trước hết chúng ta xem người xưa giải thích về Tứ Hóa phi tinh:

Cái Dụng ấy, chính là lấy Thể dựa vào làm thành chỗ dùng được; cái Thần ấy, Thần không có phương hướng, khí không có hình thể, sinh hóa biến thiên, cao thâm khó lường, chỉ có thể lấy cái tâm mà hiểu ý. Cho nên cái Tứ Hóa, [mượn Can an Sao, mượn Tượng, phối hợp với Địa Chi, ứng với Thời gian] hoá khí bay qua 12 cung, lấy tượng để hiểu rõ lý, ấy sao để hiểu rõ vật, tốt xấu theo lý, ứng Số thành Cục; điều hành bói toán vận mệnh, thông suốt cả giàu nghèo, thọ yểu, tươi héo, đều là xuất Khí hóa lấy làm Thần vậy, Số biến lấy làm Dụng vậy.

 

Vốn là thông qua Thiên Can diễn biến Tứ Hóa, khiến cho bản thân tinh tú chia ra nhiều lần khiến cho phân thân phóng đến các cung vị tương quan. Rồi lại kết hợp cùng các sao tọa thủ ở các cung vị phi xuất đi và cung vị nhập vào để mà biểu lộ hình ảnh của sự vật. Đồng thời phối hợp cùng Địa Chi biểu thị thời gian ứng nghiệm. Cho nên thông qua Thiên Can Tứ Hóa có thể khiến cho tinh tú hóa Khí bay đi trong 12 cung, phối hợp Tượng mà cung vị đại biểu cùng với sự kết hợp tinh tú đưa ra biểu hiện hình ảnh của sự vật. Cho nên không thể chỉ dựa vào một tinh tú tại cung nào đó bị nhập vào để luận cát hung. Hiện tượng cát hoặc hung, nhất định phải lấy “Tứ Hóa” phi độn diễn biến “tính chất sao” khiến cho lộ tượng hiện hình.

Phối hợp hai cái “Tứ Hóa” và “Phi Tinh” mới có thể suy đoán được cát hung của vận trình. Cho nên không thể bỏ qua “Tứ Hóa” và “Phi Tinh”, nếu không thì sẽ không có cách nào xem vận. Vì thế mới nói “Tứ Hóa chính là Dụng Thần của Đẩu Số”. Phi tinh lấy lý số để dẫn đường, dùng Tứ Hóa liên kết thông suốt mà có quy luật nhất định. Cho nên có quy tắc mới có thể bám theo sợi dây để biết được tương lai, không cần phải dựa vào pháp thuật dùng vong linh quỷ hồn mật báo tin tức.

Đến bước này, chúng ta đã sáng tỏ công dụng của Tứ Hóa, chúng dựa vào Thiên can diễn Tứ Hóa dùng Phi tinh, lấy sự kết hợp của tính chất sao và cung vị để biểu thị”Hình tượng Sự Vật” và phối hợp Địa Chi để suy tính ra thời gian ứng nghiệm “Hình tượng Sự Vật” đó một khi nó tới. Mối quan hệ giữa “Thời Gian, Không Gian, Sự Kiện” tạo thuận lợi xâu chuỗi dẫn đến có thể suy tính ở trong một Không Gian nào đó vào Thời Gian nào đó sẽ phát sinh chuyện gì. Như vậy, liền có 5 yếu tố “Người, Việc, Lúc, Nơi, Vật”có thể đêm sự kiện định nghĩa được kỹ lưỡng hơn mà không phải là mập mờ như câu nói “Cả đời cẩn thận tai nạn xe cộ”.

 

Chúng ta đều đã rõ các “Tinh Thần (Sao)” ở trong “Vũ Trụ”, đều có sự vật đối ứng với nó. Những sự vật này ta có thể chia làm:

  • Thứ nhất, mặt vật lý: Vật chất thực thể, sự tình hoặc hoàn cảnh;
  • Thứ hai, mặt tâm lý: Không gian vô hình, trong tâm có thể cảm nhận được cảnh giới hư vô, hoặc có thể nói là về vấn đề trong cõi lòng;

Hai cái đó hỗ trợ lẫn nhau, ví dụ như:
Không phải là loại sao nào tọa ở cung Mệnh thì cũng đều đại biểu tâm tính cả đời, mà là phối hợp hoàn cảnh sinh trưởng và vận trình Đại Hạn biến đổi thì tâm tính cũng sẽtùy theo đó mà thay đổi. Nếu hiểu rõ lý lẽ của tinh tú, ứng dụng vào mặt tâm lý thì có thểdùng cách dựa vào tính chất sao mà bổ túc sự biến hóa cá tính khí chất, khi chất biến đổi tác động đến cơ hội, sửa đổi vận trình, cho nên Tử Vi mệnh lý là một loại mệnh lý học của “Thuật – Đức kiêm tu” (QNB chú: gồm đủ cả về Phương pháp kỹ thuật & Đạo đức phẩm hạnh).

 

Trước khi bước vào chương này nói về việc vận dụng linh hoạt Tứ Hóa Phi Tinh, cần phải lý giải về: Mối quan hệ giữa Thiên Can Tứ Hóa, Địa Chi, bản tính các sao và Ý tượng, thì mới có thể giải thích vấn đề diễn biến hiển tượng của các sao trong mệnh bàn.

 

Thứ nhất, giải thích quy tắc lý lẽ Tứ Hóa tới cung:

Lá số bày ra có cả thảy 12 cung, có sự khác biệt về tính chất âm dương của các
cung:

  • Cung Dương: Mệnh, Phu Thê, Tài Bạch, Thiên Di, Quan Lộc, Phúc Đức.
  • Cung Âm: Huynh Đệ, Tử Tức, Tật Ách, Nô Bộc, Điền Trạch, Phụ Mẫu.

6 cung Dương chủ Quý, 6 cung Âm chủ Phú, do đó 6 cung Dương mà có kết cấu cát lợi đều thuộc vào Quý cách, mà 6 cung Âm có kết cấu tốt thì ắt là mệnh giàu có.

Mệnh Cung

Đại biểu cho sự cao thấp về mệnh cách của 1 cá nhân.

Lấy Can cung Mệnh gốc phi Tứ Hóa, mà Lộc, Quyền, Khoa nhập vào Tam phương của cung Mệnh gốc thì là Quý cách, chủ tự lực cánh sinh. Nếu rơi vào đối cung của Tam phương (Phu Thê, Thiên Di, Phúc Đức) là chiếu Mệnh, cũng là Quý cách, có thể có được sự trợ giúp của người khác mà thành công.

Hóa Kỵ nhập Tam phương của cung Mệnh gốc, là tọa Kỵ, hung lực tương đối kém, thành công nhiều trở ngại, nhất định phải dựa vào sự chăm chỉ trong công tác, làm việc đến nơi đến chốn mà thành công, cũng tức là không có vận khí hoạnh phát của cải.

Nếu Hóa Kỵ xung Tam hợp, thì cuộc đời tương đối thất thế, trong tốt có xấu, thành bại bất định. Cho nên Kỵ xung Tam hợp thì nên đi làm, lĩnh lương hàng tháng. Nếu không cam phận, tự lập gây dựng sự nghiệp, hơn phân nửa là thần tài qua cửa, nếu có thành công quá trình tràn ngập gian khổ, gặp lúc vận đồ suy bại thì thất bại cũng cấp tốc mà mãnh liệt.

Tài Bạch Cung

Đại biểu cho năng lực kiếm tiền; hoặc kiếm được tiền qua nghề gì.

Phàm là cung Tài Bạch Hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa nhập vào Tam phương của cung Mệnh gốc, biểu thị có năng lực đủ tự lập mưu sinh, sẵn có năng lực ưu tú về quản lý tài sản, cho nên tương đối dễ làm giàu.

Nếu chiếu Tam hợp của Mệnh gốc, cũng là cách tự lập, chẳng qua người có dạng chiếu Tam phương khéo ở chỗ vận dụng thành công sự trợ lực từ xung quanh; còn người có dạng nhập Tam hợp, là thông qua nỗ lực của bản thân mà thành công, hai dạng có chút khác nhau.

Hóa Kỵ không nên xung Tam hợp của Mệnh gốc, có xung thì hung, thích hợp đi làm, không thích hợp gây dựng sự nghiệp, rơi vào Tam hợp của Mệnh gốc thì cát lợi, đối với cách vận dụng tiền bạc hoặc đầu tư tương đối cẩn thận hoặc tiết kiệm.

Quan Lộc Cung

Đại biểu cho sự nghiệp, vận đồ, còn gọi là cung học nghiệp.

Lộc, Quyền, Khoa nhập Tam hợp của Mệnh gốc là cách độc lập tự chủ, lý tưởng cao xa, có cơ hội thành công. Cát lực của nhập Tam hợp trội hơn so với chiếu Tam hợp, chủ sự nghiệp thuận lợi, cũng có nhiều phương diện phát triển, thành tựu lớn.

Chiếu Tam hợp biểu thị hoàn cảnh bên ngoài tốt, thời cơ đối với ta có lợi nhưng mình có năng lực nắm bắt hay không, hoặc có ý nguyện tự mình tham dự hay không, thường thường bị quản chế bởi tại các nhân tố khác của bản thân. Ví dụ như: có người rất được thượng cấp trọng dụng, nhưng khi sắp xếp chức vụ thì tính chất công việc lại không được như anh ta mong muốn, mặc dù trong mắt người khác anh ta rất may mắn, nhưng tâm tình của đương sự có chỗ khổ khó nói, hoặc ý nguyện bản thân không như vậy.

Hóa Kỵ thích hợp nhập vào Tam hợp, biểu lộ trong lòng vô cùng quan tâm đến tiền tài, sự nghiệp. Nếu hành vận cát lợi thì có cơ hội thành công nhưng khá chật vật, trong quá trình khá nhiều trở ngại nhưng đều không ảnh hưởng tới thành tựu.

Nếu Hóa Kỵ xung Tam hợp, nhất định bất lợi ở trong sự nghiệp, công việc nhiều biến động, kẻ đi làm hay thay đổi công việc, hoặc hoàn cảnh công tác tương đối kém, hoặc không hứng thú nhưng lại phải tiếp nhận cái công việc ấy. Cũng có dấu hiệu khó thăng chức, bởi vậy nên giữ thái độ thận trọng, khi vận đồ chuyển sang tốt thì mới thực
hiện kế hoạch.

Lục Thân Cung

Mệnh, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Nô, Phụ Mẫu là các cung lục thân.

Phàm cung lục thân Hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa nhập hoặc chiếu Tam hợp của Mệnh gốc, chính là chủ có tình nghĩa, ăn ở hòa thuận.

Hóa Kỵ không nên tới Xung, nếu Hóa Kỵ tới xung thì vô duyên với lục thân (được chủ bởi cung đó), ngăn cách sâu rộng, ý kiến không hợp, tư tưởng bất đồng, thường sinh cãi vã.

Nếu phi hóa kỵ nhập Tam hợp của mệnh, thì hung lực tương đối kém, đại biểu quan tâm lục thân nhưng bởi vì nguyên nhân không có cách nào biểu thị tâm ý bằng vật chất, chỉ có quan tâm tinh thần mà thôi.

Phúc Đức Cung

Đại biểu cho năng lực hưởng thụ, có thể gọi là cung vận lúc về già, lại cũng có thể nói là cung tổ tiên ông bà. Bình thường khi luận mệnh thì dùng làm cung hưởng thụ của bản thân, có thể quan sát một cá nhân có thể hưởng phúc hay không.

Có vài người rất nhiều tiền nhưng bận rộn công tác chẳng được hưởng thụ, lại cũng có người chẳng giàu có gì nhưng rất thỏa mãn mà sống vui vẻ hạnh phúc. Sự khác biệt giữa hai kiểu người ấy, chính là ở tại cung Phúc Đức.

Tam hóa cát tinh của (can) cung Phúc Đức nhập Tam hợp của Mệnh gốc, chủ vận về già tốt đẹp, có thể hưởng phúc, bản thân có thể được bề trên che chở, cũng tương đối có phúc để hưởng hoặc tương đối có thể hưởng phúc. Tam hợp chiếu cũng chủ người có thể hưởng phúc.

Hóa Kỵ (của can cung Phúc) nhập Tam phương của Mệnh gốc, không hề hung, chủ về muốn hưởng phúc nhất định phải nỗ lực làm việc, kiếm tiền để tiêu xài, là thuộc dạng người lao lực thân thể nhưng tinh thần tương đối đơn giản, không ôm đồm.

Nếu xung Tam phương, thì nhất định là không có phúc để hưởng, hoặc là người không có tiền để hưởng phúc. Cảnh già cô độc, phải tự chăm sóc chính mình, tốt nhất là dựa vào tôn giáo sớm một chút, cầu tâm linh siêu thoát khỏi ràng buộc của thế tục, để tránh gặp lại sát tinh xung kích, thấy cũng không phát động (sát tính).

Điền Trạch Cung

Chủ nắm vận nhà, còn gọi là cung bất động sản.

Kiếm tiền đêm về nhà cất giữ, cho nên còn gọi là Tài Khố (kho tiền). Nếu cung Điền Trạch bị phá thì kho của cải bị nứt thủng, chuột liền tới trộm mất của, dẫu cung Tài Bạch tốt cũng không cách nào cất giữ được, cái ông Thần Tài chỉ cho mượn tiền để ngắm chút mà thôi. Cho nên, cung Điền Trạch là cung vị vô cùng trọng yếu.

Cung Điền Trạch không nên có sao Hóa Kỵ tới xung, xung thì kho bị phá, rò rỉ mất tiền mãi không ngưng.

Tam hóa cát tinh của cung Điền Trạch nhập Tam hợp của Mệnh gốc, thì gia vận sẽ được cát tường, giữ được tiền tài.

Phi Kỵ của cung Điền Trạch hóa ra không được xung Tam hợp của Mệnh, nếu không sẽ dễ bất ngờ gặp phải chuyện ngoài ý muốn, hoặc điền trạch có biến động.

Tật Ách Cung

Chính là cung thân thể, còn được gọi là cung tướng mạo, chủ về tình hình sức khỏe.

Tứ hóa tinh của cung Tật Ách nhập tam phương của Mệnh gốc thì khá cát tường.

Sao Hóa Kỵ không được xung Tam hợp của Mệnh gốc, có xung thì thân thể gặp nạn, dùng tiền để chữa bệnh hoặc bởi vì tật bệnh mà chểnh mảng về công việc sự nghiệp, khiến tình trạng kinh doanh không tốt.

Người già kiêng bị Lộc, Kỵ của cung Tật Ách xung cung Mệnh gốc hoặc xung cung Tật Ách gốc, nếu không thì sẽ hung hiểm, bởi vì Hóa Lộc có nghĩa là “Nhiều”, dễ có các loại bệnh trạng như phát sinh các tổ chức dị thường hoặc chứng cao huyết áp. Cho nên cung Tật Ách người lớn tuổi không thích thấy Hóa Lộc hoặc bị Hóa Kỵ tới xung chiếu, phi hóa kỵ nhập Tật Ách cũng luận như vậy.

 

Thứ hai, hàm nghĩa của các Hóa tinh theo 10 Thiên can:

Can Giáp

  • Liêm Trinh hóa Lộc: Thăng chức, tốt cho chuyện kinh doanh đồ điện khí, ở tại các nơi Tứ Mã địa, tốt cho buôn bán xuất khẩu, thích hợp nhân viên công vụ.
  • Phá Quân hóa Quyền: Vận xuất ngoại mạnh mẽ, có hiện tượng hoạnh phát, giữa vợ chồng bạn bè có nhiều tranh chấp, con cái không nghe lời, rất có chủ kiến, thành tựu cũng không kém, nhưng tính phản trắc lớn.
  • Vũ Khúc hóa Khoa: Đi làm công việc ổn định trong giới tài chính ngân hàng; thông thường tài vụ cũng không tệ lắm, không có cảm giác giật gấu vá vai.
  • Thái Dương hóa Kị: Bất lợi cho lục thân là nam giới, mắt, đầu dễ có tật đau nhức, mất ngủ, nôn nóng, cùng Thiên Hình đồng cung dễ có tai họa quan tụng, lao ngục. Người chưa lập gia đình thì dễ thất tình, dù là Dịch Mã động nhưng xuất ngoại không được thuận. Người sinh ban đêm càng bất lợi, bất kể đối với mình hoặc chồng, con trai, đều có khiếm khuyết ở trên người hoặc phát sinh tình huống bất lợi.

Can Ất

  • Thiên Cơ hóa Lộc: Anh em giỏi, giỏi kỹ thuật, tiền bạc ổn định, đa phần không thuộc về dạng hoạnh tài, nhiều kế hoạch dễ thành công. Lấy trí tuệ để sinh tài. Sắm thêm đồ cơ khí.
  • Thiên Lương hóa Quyền: Khăng khăng cố chấp, thích hợp với Quan toà, luật sư, nhân viên điều tra, bác sĩ / thầy thuốc, nhân viên chính phủ làm quan thanh hiển, có thành tựu, có được nhân duyên.
  • Tử Vi hóa Khoa: trọng thể diện, có quý nhân bồi dưỡng, không hội cát tinh, một trong Tứ Sát đồng cung, thì dễ gặp khó khăn, mọi việc dây dưa mãi.
  • Thái Âm hóa Kị: Bất lợi cho lục thân là nữ giới, người chưa lập gia đình thì dễ thất tình, gia vận có biến, chú ý bị thương ở đầu và con mắt, đặc biệt người sinh vào đầu tháng, cuối tháng, ban ngày cực kỳ bất lợi, đối với vợ, con gái cũng sẽ có xảy ra sự tình bất lợi, nhưng không có cách nào để rõ ràng xem là bất lợi việc gì.

Can Bính

  • Thiên Đồng hóa Lộc: Nghề phục vụ, nghề nhà hàng ăn uống tốt đẹp, không làm nhiều mà được thu hoạch, làm nhân viên công vụ cũng tốt đẹp.
  • Thiên Cơ hóa Quyền: Có biến động dễ lên chức, chủ động, cơ trí, sự nghiệp nhiều thay đổi, tăng cường lực thực hành.
  • Văn Xương hóa Khoa: Đi vào giới văn nghệ phát triển năng lực mà thành danh, văn chương lừng danh, có lợi trong việc đọc sách thi cử cho học tập.
  • Liêm Trinh hóa Kị: Quan tụng thị phi, bệnh hoa liễu, viêm nhiễm máu mủ, tranh chấp do chuyện đào hoa, cùng Thất Sát Kình Dương đồng cung ở cung Thiên Di xung cung Mệnh sẽ phát sinh tai nạn xe cộ, thêm sao Hóa Kị lại thêm ứng nghiệm.

Can Đinh

  • Thái Âm hóa Lộc: Nữ giới tốt về tài lộc, vận điền trạch tốt đẹp, có lợi ở trong buôn bán bất động sản hoặc vật phẩm chuyên dụng cho phái nữ.
  • Thiên Đồng hóa Quyền: Đem sự lười nhác của Thiên Đồng chuyển hóa thành tích cực, thích hợp các nghề nghiệp phục vụ, ăn uống, quần áo trang sức, hùn vốn chung cũng hợp.
  • Thiên Cơ hóa Khoa: được tài chính bình ổn chứ không nhiều, quan hệ bạn bè không tệ, khó xảy ra chuyện tranh chấp tài chính với bạn bè.
  • Cự Môn hóa Kị: Nhiều khẩu thiệt thị phi, ngôn từ không thích đáng dẫn đến họa, biểu đạt không tốt, coi chừng âm miếu, bùa chú, mất trộm.
  • Từng có bằng hữu đã nói một câu “Ngươi cẩn thận cho ta một chút!” kết quả chọc quan tòa, tội danh là đe dọa. Kỳ thực chỉ là nói gắt gỏng một chút mà thôi, trên mệnh bàn của anh ta thì có Cự Môn hóa Kị, mà lại đúng lúc vận đồ đi tới vị trí sao này. Bạn nào có sao này, tốt nhất là nên thận trọng mồm miệng.

Can Mậu

  • Tham Lang hóa Lộc: Có nhậu nhẹt; kiếm tiền tốt từ nghệ thuật; cùng Vũ Khúc hội hợp thì hoạnh phát của cải; nhân duyên tốt, nữ tính rất thích cũng rất giỏi làm nũng.
  • Thái Âm hóa Quyền: Nữ giới có năng lực mạnh hơn đàn ông, nam nhân động tác phái nữ như nam giới cá tính lại mạnh, có lợi tại bất động sản hoặc gia vận.
  • Hữu Bật hóa Khoa: Nhiều quý nhân, chú ý tình cảm phức tạp, có lòng cầu tiến có được danh lợi.
  • Thiên Cơ hóa Kị: Bất lợi cho người thân ngang hàng thuộc phái nam, bị thương ở tay chân, để tâm vào chuyện vụn vặt luẩn quẩn trong lòng, xe cộ hoặc máy móc đè bị thương, có sao Hóa Kị loại này đại đa số sẽ bị tình trạng tay chân lưu lại dấu vết.

Can Kỷ

  • Vũ Khúc hóa Lộc: gặp bộ Vũ Tham hội hợp thì giỏi buôn bán; chủ hoạnh phát, năng lực quản lý tài sản mạnh, giỏi tích lũy.
  • Tham Lang hóa Quyền: Lòng hiếu thắng mạnh, cá tính gấp gáp, thực dụng, tính ghen tuông mạnh, không giỏi lập kế hoạch, dũng cảm xung phong phá trận.
  • Thiên Lương hóa Khoa: Lợi cho thi cử, nghành y, công chức, bình ổn mà thăng tiến.
  • Văn Khúc hóa Kị: Tranh chấp giấy tờ, có đánh bạc ắt thua, bất lợi cho sự nghiệp, thần kinh có bệnh, tai nạn xe cộ, cẩn thận trong việc nhận khế ước, chi phiếu, công văn trao tay bởi vì thủ tục không được đầy đủ mà khơi dậy mầm mống tai vạ.

Can Canh

  • Thái Dương hóa Lộc: Có tiền từ bôn ba bận rộn nhưng chưa chắc có thể giữ được bởi vì nguyên nhân phóng khoáng hào sảng; nữ mệnh có cốt cách rất nam nhi, chưa chắc lớn lên ngoại hình xinh đẹp, nhưng có thể tìm được người chồng tốt, so với nữ mệnh có Thái Dương hóa Kị thì tốt hơn rất nhiều, cung Tử Tức cũng luận như vậy.
  • Vũ Khúc hóa Quyền: sử dụng tiền tài linh hoạt, chủ nắm đại quyền về tài chính, nhưng không nhất thiết là tiền của chính mình, có thể là quản lý ngân hàng hoặc quản lý công ty tài chính. Cùng Văn Khúc đồng cung, văn võ toàn tài, nhưng cô độc, kết hôn tương đối muộn.
  • Thái Âm hóa Khoa: Nổi danh trong giới nghệ thuật, gia vận bình ổn hài hòa, chú ý bị thương bởi dao kéo, nếu dùng dao kéo thì dễ có dấu hiệu đổ máu.
  • Thiên Đồng hóa Kị: Giữ được tiền tài mà không tốn sức, có nốt ruồi kín, đau đầu, ngực có khí ứ đọng không tiêu tan, hậm hực bất đắc chí, có điều khó nói.

Can Tân

  • Cự Môn hóa Lộc: Khéo miệng để kiếm tiền, nhiều tiền nhiều thị phi, khả năng ăn nói giỏi, phản ứng mạnh mẽ, có sức thuyết phục, ưa gặp Thái Dương vượng địa hoặc Lộc Tồn tới chế hóa tính thị phi, chủ phúc hậu, thích hợp lấy miệng làm chủ trong hành động.
  • Thái Dương hóa Quyền: sao chủ quan lộc hóa Quyền thì chủ vất vả cực nhọc càng tăng sự tài giỏi, bôn ba, lao lực, dịch mã động mạnh thì có cơ hội xuất ngoại du lịch, ở cung Ngọ bất lợi, dễ bảo thủ, tính chủ quan quá mạnh, có cát tinh giúp đỡ thì cát lợi.
  • Văn Khúc hóa khoa: Thích hợp hướng phát triển trong giới văn nghệ, nhưng thiên hướng ở tại Ngũ thuật (QNB chú: tức Mệnh, Tướng, Bốc, Y, Sơn), nghệ thuật thuộc loại bàng môn tà đạo, học sinh lợi cho thi cử, học tập chuyên tâm.
  • Văn Xương hóa Kị: phải cẩn thận kẻo Lôi thôi về giấy tờ, ký hợp đồng, thư xác nhận, thư bảo đảm, dễ nhận ngân phiếu khống, học sinh học tập không được chuyên tâm, việc học hành kém, gián đoạn; ở tại Tật ách, huyết quản có tật, Văn Khúc hóa kị cũng như vậy.

Can Nhâm

  • Thiên Lương hóa Lộc: Thông minh, nhân duyên tốt, được sự che chở của bậc trưởng bối, ở tại Tài Bạch kiếm tiền từ việc đầu cơ, không làm mà có tiền, thu nhận tiền biếu tặng dễ sinh chuyện.
  • Tử Vi hóa Quyền: Chủ quan chức, tự cho mình là đúng, bảo thủ, ưa gặp cát tinh phụ tá, chủ đại phú đại quý, được người khác tôn sùng, nắm quyền thế, có uy.
  • Tả Phụ hóa Khoa: Chủ công danh, danh lợi song thu, có lòng cầu tiến, dễ có chuyện phức tạp trong tình cảm.
  • Vũ Khúc hóa Kị: Bất lợi cho tiền tài, quay vòng khó khăn, cùng Thiên Hình đồng cung, vì tiền tài mà phạm pháp; cùng Kình Dương đồng cung, vì tiền tài mà động đao kiếm, nếu cùng Thất Sát đồng cung lại thêm ứng nghiệm, cũng có thể ám chỉ thân thể gặp phải hình thương.

Can Quý

  • Phá Quân hóa lộc: Tiền do cầm cố, vay mượn, không phải là tiền của mình, thịnh vượng trong buôn bán, ở cung phu thê chủ gương vỡ lại lành. Lợi cho người làm nghề vận tải, đi thuyền, buôn bán.
  • Cự Môn hóa Quyền: Ăn nói sắc bén, năng lực ngôn ngữ tốt, lời nói có uy, năng lực thuyết phục tốt, quan chức dễ lên chức nhưng phòng khẩu thiệt thị phi, tốt nhất cho: Nhân viên nghiệp vụ, hành chính, giáo viên.
  • Thái Âm hóa Khoa: Chủ đào hoa, bởi vì đào hoa mà sinh họa, loại đào hoa này là do khác giới chủ động, những cái khác cũng giống như can Canh Thái Âm hóa khoa.
  • Tham Lang hóa Kị: Bởi vì tình dục mà gây rủi ro, hoặc khiến cho dính dáng đến kiện tụng, chú ý: Sắc dục, ăn uống và các phương diện ham muốn khác, để tránh thân thể khỏi bị hao tổn hoặc rủi ro dẫn đến kiện tụng. Xuất hiện rất nhiều loại hiện tượng có tiên nhân múa hát, tắm giặt, tình dục, giết chóc,… nhưng đều là tình cảm bất chính, quan hệ không dứt ra được, thích hợp: buôn bán thiên môn, buôn bán tiền mặt.

Ở trên là những giải thích đơn giản về ý tượng 10 can Hóa tinh, nhất định phải cùng tham khảo cân nhắc cùng với những kị tinh, sát tinh khác ở trong cung để giải thích. Thế nhưng bởi vì hiệu lực của Hóa tinh tương đối mạnh, sao mà khi chưa hóa thì ảnh hưởng tương đối không rõ ràng. Còn như ứng dụng với Đại Hạn, Lưu Niên cũng có thể phỏng theo đó để mà giải thích.

 

Thứ ba, giải thích nguyên tắc sử dụng Tứ Hóa của Đại Hạn:

Căn cứ vào thuyết Thiên Địa Nhân: tại Thiên gieo tượng, tại Địa thành hình, tại Nhân thành sự. Đó là 3 bước trong quá trình luận mệnh, tại Thiên Bàn chỉ có thể thấy 1 hình ảnh mờ nhạt mà thôi, giống như trứng vừa mới thụ tinh, đã có bắt đầu sinh mệnh, qua quá trình mang thai của cơ thể mẹ mà từ từ thành hình (tại Địa thành hình), càng ngày càng có năng lực độc lập sinh tồn, qua kỳ mang thai, cất tiếng khóc chào đời, hiện nên một cơ thể, sinh mạng sống rõ ràng (tại Nhân thành sự).

Sự hình thành của một sự kiện, dùng Tử Vi Đẩu Số để suy tính cũng chọn dùng phương pháp suy luận 3 bước ấy. Nếu suy tính “Sự kiện” trong Lưu Niên thì lá số Gốc chính là “Thiên Bàn”, lá số Đại Hạn chính là “Địa Bàn”, lá số Lưu Niên chính là “Nhân Bàn”.

Cũng tức là 1 sự kiện trong Lưu Niên, có gieo tượng ở trong lá số Gốc, thành hình ở trong lá số Đại Hạn và hiện thành sự kiện ở tại lá số Lưu Niên. Theo đó để thấy, suy tính lá số Lưu Niên, Đại Hạn là một khâu vô cùng trọng yếu, nó phụ trách sự thai nghén tượng của “Thiên Bàn”, sau đó giáng sinh ở trên “Nhân Bàn”.

Vì vậy, suy tính vận Lưu Niên, lá số Lưu Niên chỉ là tiếp nhận cái “Thai nhi” đã thai nghén thành hình ở lá số Đại Hạn mà thôi. Cho nên ứng vận Lưu Niên từ Thiên can Tứ Hóa của lá số Đại Hạn để suy luận, lại cùng phối hợp với tượng của lá số Gốc, xâu chuỗi mạch lạc 3 mắt xích với nhau mới có thể Gieo Tượng, Thành Hình, Thành Sự. Mới có thể trách khỏi việc suy lý không chính xác, thiếu điều kiện phối hợp của đại hạn, sự kiện liền không cách nào thành hình.

Cho nên nói “Thiên Địa Nhân” ở trong Đẩu Số chính là một loại trình tự suy luận 3 bước, và trong quá trình suy luận này có liên quan tới nhân tố môi trường xung quanh, chứ chẳng phải là kể thần giảng quỷ về hiện tượng Thiên Địa Nhân thần bí cao siêu; Nếu như các vị có đọc qua các thư tịch cùng loại, tin rằng sẽ lý giải cách cổ nhân dùng từ, giấu diếm rất nhiều huyền cơ. Người không hiểu thì lấy trò “giả thần lộng quỷ” để giải thích, lừa dối phương hướng, đem mệnh lý học chính tông và tôn giáo hoặc hiện tượng pháp thuật thần quái kết hợp, dẫn đến nghiên cứu lạc lối.

 

III. Dự Đoán Vận Hạn

 

Trước đây đã giới thiệu qua mối quan hệ của Thể – Dụng:

  • “Dụng” xung “Thể”, tai họa to lớn, 10 năm Đại Hạn bất lợi
  • “Thể” xung “Dụng”, tai hoạ khá nhẹ, 1 năm Lưu Niên bị xung bất lợi.

 

Thứ tư, giải thích cách sử dụng linh hoạt Tứ Hóa phi tinh:

– Bây giờ cử ra một ví dụ nói rõ quan hệ của “Thể” và “Dụng”, quan hệ suy lý của tam bàn (3 tầng lá số): Bản Mệnh (lá số Gốc), Đại Hạn, Lưu Niên.

Vị tiên sinh này từng là đại phú ông một thời oai phong, tại năm Giáp Tý bắt đầu đổ vỡ, xảy ra mà không thể cứu vãn. Kết quả ở năm Ất Sửu vì có viết chi phiếu khống, trong tháng Giêng vì làm trái pháp luật về ngân phiếu nên bị bắt bỏ tù, trong chớp mắt vinh hoa phú quý ngày xưa đã thành quá khứ, chúng ta đi xem xét mệnh bàn biểu hiện và suy lý như thế nào:

Lá số Gốc:
– Từ trên cách cục, có thể nhìn thấy đó là cách “Tử Phủ triều viên”, dựa vào mệnh cách để giải thích: Trong cuộc đời thường qua lại với những người có thành tựu trong giới chính trị, quân cảnh, thương nghiệp, đồng thời có được sự trợ giúp của bọn họ mà thành công, cung Nô Bộc có sao Hóa Quyền càng làm mạnh thêm khuynh hướng này.

– Cung Quan Lộc gốc: Ở tại cung Quý Tị, khiến Tham Lang hóa Kị bị Hóa Kị năm sinh (Liêm Trinh kị) ở đối cung (cung Phu Thê) bắn về, chính là một kết cấu Nghịch Thủy Kị tiêu chuẩn, chẳng trách có thể trở thành một ông chủ đại xí nghiệp.

– Cung Tài Bạch gốc: Ở tại Đinh Dậu, khiến Cự Môn hóa Kị tại cung Tý (cung Huynh Đệ).

– Cung Tật Ách gốc: Ở tại Bính Thân, khiến Liêm Trinh hóa Kị ở cung Hợi (cung Phu Thê).

= Khi mà Đại Hạn đi tới cung Nhâm Thìn, thì cung Tý trở thành cung Tài Bạch của Đại Hạn, cung Hợi biến thành cung Tật Ách của Đại Hạn, đã biểu hiện rằng ngoài chuyện tiền tài của Đại Hạn Nhâm Thìn có chuyển biến xấu, thì sức khỏe thân thể cũng sẽ suy bại.

= Người mở công xưởng nhà máy chế tạo thì không được xem nhẹ cung Tật Ách, bởi vì cung Tật Ách chính là [cung Điền Trạch của cung Quan Lộc], cũng chính là cung nhà xưởng. Thật xui xẻo cho đương số này, cung nhà xưởng ở tại Bính Thân, khiến Liêm Trinh hóa Kị nhập cung Phu Thê xung cung Quan Lộc; ở trên lá số Gốc đã có gieo tượng biểu hiện, người này không thể làm nghề chế tạo, bằng không thì sự nghiệp tất bại.

– Cung Phụ Mẫu gốc: Lại tới cung Phụ Mẫu tại Canh Dần, trong cung tọa thủ Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Lương, Văn Xương hóa Khoa, vừa khớp can Canh lại khiến cho Thiên Đồng hóa Kị, thành tình huống Lộc Kị đồng cung, chính là Song Kị, đối cung Tật Ách cũng sẽ phải chịu sự xung kích của Kị tinh. Vì vậy, ở trên Lá số Gốc đã biểu hiện mối quan hệ mật thiết giữa 2 cung Quan Lộc và cung Tật Ách, mà đó lại là triệu chứng không hề tốt.

 

Lá Số Đại Hạn

 

Về lá số của Đại Hạn:
– Đại Hạn Nhâm Thìn, cung Quan Lộc của Đại Hạn ở Bính Thân, cung Tài Bạch của Đại Hạn ở Canh Tý.

– Cung Quan Lộc của Đại Hạn ở tại Bính Thân: khiến Thiên Đồng hóa Lộc nhập đối cung, mà đối cung vốn lại có Thiên Đồng tự hóa Kị, Song Kị Kị Xuất, tiền tài sẽ bị tổn thất rất lớn. Can Bính cũng khiến Liêm Trinh hóa Kị xung Quan Lộc gốc, là kiểu từ cung Quan Lộc của Đại Hạn gây ra sự xung Quan Lộc của Lá số Gốc, tức “Dụng” xung “Thể”, tai hoạ tất nặng. Ở trong Đại Hạn này thì sự nghiệp tất có biến động lớn.

– Cung Tài Bạch của Đại Hạn ở tại Canh Tý: khiến Thái Dương hóa Lộc nhập vào cung Mệnh của Đại Hạn (cung Điền Trạch gốc), tiền tài có sự nhập khố, nhưng Thái Dương không phải là tài tinh nên tiền tài không được vượng, đến đến đi đi. Vả lại, cung Tài Bạch của Đại Hạn lại ở chỗ cung Huynh Đệ gốc, dựa vào nhiều sự giúp đỡ của anh em, hơn nữa còn là “Sao thị phi” [Cự Môn, Văn Khúc] nên phần nhiều là phù phiếm, khoa trương, toàn là những thành phần không có thực lực.

– Thiên Đồng hóa Kị lại nhập cung Dần, mà đã là cung Kị Xuất thì sợ nhất là gặp lại Kị Nhập. Hơn nữa sau khi Kị Nhập lại còn xung Quan Lộc của Đại Hạn, quá rõ ràng, Đại Hạn này nói lên sự nghiệp không kiếm được tiền, bởi vì cung Tài Bạch của Đại Hạn xung Quan Lộc của Đại Hạn vậy!

– Tượng này dựa vào giải thích ở chương 11 là ” Lộc nhập Ngã cung, Kị nhập Tha cung”, là hung tượng của “Lộc tùy Kị tẩu” (Lộc theo Kị chạy). Lộc tuy nhập Ngã cung, nhưng bởi vì Kị nhập Tha cung, cho nên Lộc là Lộc hư ảo, tới rồi có thể mất đi, là điềm báo trước tổn thất lớn.

 

Lá số Lưu Niên ( Tiểu Vận )

 

Chúng ta đều biết sự cấm kỵ của “Đồng loại tương xung”, mối quan hệ 3 tầng lá số Thiên Địa Nhân bàn, hiểu rõ Nhân Bàn là tiếp nhận sự kiện của “Địa Bàn thành Hình”. Sự kiện này sẽ được sinh ra ở năm Lưu Niên của Đồng loại tương xung. Cũng tức là :

Khi mà Quan Lộc của Đại Hạn hóa ra Kị xung cung Quan Lộc của Lưu Niên, Tài Bạch của Đại Hạn hóa ra Kị xung Tài Bạch của Lưu Niên, thì sự kiện dễ xảy ra.

Đương số có cung Tài Bạch của Đại Hạn hóa ra Kị ở cung Dần xung cung Thân, khi cung Thân trở thành cung Tài Bạch thì tài tiền tài thất thoát tựa như hồng thủy cuốn trôi. Tới năm Lưu Niên Giáp Tý, cung Thân biến thành cung Tài Bạch của Lưu Niên, cho nên năm Giáp Tý bạo phát vấn đề về tài vụ.

Mặt khác Quan Lộc của Đại Hạn hóa ra Kị ở cung Hợi xung cung Tị, đến khi cung Tị biến thành cung Quan Lộc thì sự nghiệp liền hỏng mất. Lưu Niên năm Ất Sửu, cung Tị biến thành cung Quan Lộc của Lưu Niên, lại vừa hợp với cấm kỵ là đồng loại tương xung, hơn nữa hóa tinh lại là Liêm Ttrinh, Liêm Trinh hóa Kị chủ quan tụng thị phi, cho nên năm Ất Sửu bị bắt bỏ tù.

Giả như mọi người biết được chân tướng sự kiện của mệnh lệ này mà nói, lại nhìn kỹ hiển tượng trên lá số sẽ cảm thấy có rất nhiều ý nghĩa, đi sâu thêm một chút vào vấn đề mà xin thứ lỗi cho người viết không thể tiết lộ, bất quá thì vị độc giả có lòng cầu tiến, không do dự sẽ từng bước đem thực tế và cung vị tương quan trên lá số, lựa chọn cân nhắc tới lui là có thể phát hiện được Sao, Cung, Tứ Hóa và Sự kiện có mối quan hệ tương hỗ đối ứng.

Quá trình phân tích Thiên Địa Nhân bàn, khiến gieo Tượng, thành Hình, thành Sự đều từng bước nhất nhất logic. Cuối cùng để biến thành “Sự kiện” thực sự, thì cần biết quan hệ của ba yếu tố “Thời Gian, Không Gian, Sự Kiện”. Ngay sau đó mới thật sự suy tính vận thế mới là bước hoàn thành phép tính toán. Chúng ta cũng đã lý giải đến phương pháp luận mệnh theo ba bước “Thiên Địa Nhân bàn”, và giữa ba yếu tố Thời Gian, Không Gian, Sự Kiện là có sự quan hệ tương hỗ. Cho nên sử dụng Tử Vi Đẩu Số luận mệnh nhất định phải dựa vào trình tự “Thiên Địa Nhân bàn” để giải lá số.

Trong suy tính mệnh vận, nếu đã hiểu rõ quy trình 3 bước “gieo Tượng, thành Hình, thành Sự”, nếu có thể trong giai đoạn gieo Tượng mà tránh được nhân tố bất lợi, cũng sẽ không đến nỗi phải có kết cục đi tù. Cho nên công dụng của luận mệnh không nằm ở việc ở nói cho ngươi biết nào một năm sẽ phát sinh chuyện gì, mà là để cảnh báo cho ngươi biết tránh làm chuyện gì hoặc tránh khỏi một không gian nào đó để không gặp những hậu quả bất lợi. Ở giai đoạn thành Hình, khuyên người ta không nên làm sự việc nào đó, nhưng thường thì do như mũi tên đã nằm tại dây cung mà không bắn không được nên hiệu quả cải thiện tương đối thấp.

Đến đây các vị đã có thể biết làm thế nào để từ trên lá số, dựa vào thứ tự của Thiên Địa Nhân bàn mà suy lý, và trong quá trình suy lý thì vận dụng Tứ Hóa và cung vị trùng điệp có liên quan, ứng dụng quan niệm cơ bản về hiển tượng của các tinh tú.

Còn như ở tại vận đồ sau này thì như thế nào?
Trong giới mệnh lý, đã có rất nhiều đại sư suy đoán ra rằng sau khi ông ta ra tù sẽ được năng lực gia tộc che đỡ, Đông Sơn tái khởi, vào Đại Hạn Giáp Ngọ thì còn có thể lại lần thứ hai sáng lập nên sự nghiệp rạng rỡ.

Thế nhưng nhận định của tôi rất khác với bọn họ, con người ta nhất định phải có mạng sống thì mới có vận đồ. Bằng không đưa ra mệnh bàn của một người chết, lại mạnh tay vỗ ngực, đảm bảo rằng người ta đại phú đại quý, là có ý gì vậy? Có nhiều đại sư sẽ suy tính ra kết quả như thế, có thể là thấy gia tộc của anh ta là tập đoàn tài chính lớn nhất nhì ở Đài Loan, mà cứ tưởng là đương nhiên sẽ như thế!


Tiền tài có thể cấp cho người khác, Sự nghiệp có thể dùng đập đi xây lại, vợ chồng có thể dùng tiền mua được. Thế nhưng, thân thể khỏe mạnh có sử dụng tiền cũng không thể mua được, người khác cũng không thể cho bạn, mà cái gốc tạo ra nguyên nhân như vậy là xuất hiện ở vị trí cung Tật Ách trên lá số, là cung vị mà người khác không thể giúp đỡ gì được.

Các vị có thể đã biết là vấn đề của Tật Ách, Đúng! Chính là ở cung Tật Ách có xuất hiện vấn đề.

Cung Tật Ách của Đại hạn Quý Tị, đã làm Kị phi ra (Thiên Đồng Kị) xung tới cung Tật Ách của lá số Gốc, chính là loại điều kiện cấm kỵ “Đồng loại tương xung”, loại tình hình như thế này thì liệu còn có sự nghiệp trong Đại Hạn Giáp Ngọ nữa sao?

Nào năm bệnh phát? Nào năm nghiêm trọng nhất? Bệnh gì?
Toàn bộ những cái này ta đều có thể suy tính được, nhưng người viết chỉ có thể điểm đến là dừng, các vị có thể phỏng theo những giảng giải trong chương này, tự mình thực hành suy lý xem thế nào.

Tôi chỉ có thể nói chú ý năm Ất Hợi (ở năm Nhâm Thân đã bắt đầu có hiện tượng biểu lộ), nếu các vị có đọc qua các sách Y dược Trung Hoa có liên quan, sẽ biết được nguyên nhân gây bệnh bởi đâu. Các vị sẽ nói: “Liệu có thể phòng bị được hay không? ” thì xin thứ lỗi cho người viết được giấu dốt.

Sau quá trình phân tích ví dụ luận mệnh trên, mọi người đã có thể nắm được cách vận dụng Tứ Hóa, mối quan hệ của Thiên Địa Nhân bàn rồi đó!

Đương nhiên, mỗi hiện tượng ở trong vũ trụ đều có một cái tiền đề, khi đã có cái tiên đề này thì mới có thể sản sinh hiện tượng nào đó. Ví dụ như: Chuyển động rơi tự do, nhất định phải ở trạng thái có trọng lực Trái Đất mới có thể xảy ra. Giả như ở trạng thái vũ trụ không có trọng lực thì không có hiện tượng rơi tự do. Cho nên, hiện tượng một vật rơi tự do này chính là có tiền đề là trạng thái trọng lực mới có thể phát sinh.

Vận trình cuộc đời con người cũng giống như vậy, ví dụ luận mệnh trong chương này đã biểu hiện không thể sáng lập công xưởng, nếu không tuân theo tiền đề này, ngang nhiên chống lại thì liền phải nhận lấy hiện tượng như trong lá số biểu hiện.

Trích dẫn thuật ngữ Toán học “Nếu P thì Q” chính là như vậy. Có người nói là “Phương pháp thu thập Điều kiện đầu vào” cũng chính là cái này ý nghĩa này. Suy tính sự kiện phải có một số điều kiện tiên quyết trước khi muốn định nghĩa ra, hoặc bỏ sức người để thu thập các điều kiện tiên quyết tất yếu thì mới có thể suy đoán cát hung!

Lúc suy lý, không thể quên loại quan hệ tiền đề này, nếu đối tượng đi làm việc hoặc lựa chọn phương hướng phát triển chính xác, thì cái tượng tạo ra này nếu mà có thể làm công ăn lương cũng chưa chắc sẽ đến nỗi thất bại đến sạch trơn.

Cùng lý lẽ với lúc suy đoán vận thế tương lai, cũng cần phải chú ý xe có phải là khí số sắp hết, một người mắc trọng bệnh thì liệu còn có thể sáng lập đại nghiệp gì đây? Cho nên lúc luận giải mệnh lý, nhất định phải nghiên cứu Cách Cục trước tiên. Sau đó lại xem xét chỗ ngưng tụ khí của Tứ Hóa, liền có thể lý giải được khái quát, rồi tới phân tích vận trình mới không đến nỗi vô lý.

Cho nên lúc phân tích lá số, nhất định phải có quan niệm phân tích thứ tự tầng lớp “Thiên Địa Nhân”. Các vị đừng tưởng rằng trong phân tích ví dụ trước, việc sử dụng quan niệm “Thiên Địa Nhân” bàn là có chỉ có như vậy. Việc vận dụng nó ở trong mỗi một tầng lớp suy lý, không chỉ có mỗi mình quá trình suy luận mệnh lý mà thôi.

 

 

Dưới đây tôi viết thêm vào năm Dân Quốc thứ 86 (1997), giải thích những thứ liên quan tới việc đương số bị bệnh chết trong ngục.

Nhớ lại: Thí dụ luận mệnh này vào năm Dân Quốc thứ 76 bởi vì bệnh ung thư ở trong ngục giam thổ huyết mà chết, sau này mới được báo chí thông báo.

Liền có thật nhiều bằng hữu tới thăm hoặc gọi điện tới khen tôi có thể đoán được chính xác như thần. Cái khả năng này chính là lúc xem lá số thì tôi đã có được sự xem xét cẩn thận tỉ mỉ, có chú ý tới chỗ khiếm khuyết của lá số này.

Nói thật, phải làm thế nào để có cái nhìn toàn cục, nắm được quan hệ tương hỗ giữa các cung vị, hoàn toàn không phải là công phu chỉ luyện một sớm một chiều! Phải từng trải rất nhiều và có kinh nghiệm mới có thể nắm bắt được yếu lĩnh. Độc giả có quyết tâm nghiên cứu nhất định phải kết hợp người cùng sở thích, sưu tập các lá số của các tầng lớp nhân sĩ trong xã hội, tập hợp thành bộ sưu tập mệnh lệ. Mỗi người sử dụng những góc độ khác nhau để phân tích mệnh lệ, mới có thể nhanh chóng có được tích lũy tâm đắc, kiện toàn quy tắc luận mệnh. Còn nếu chỉ là cái kiểu con hát mẹ khen hay, vì phương thức nghiên cứu bị khép kín sẽ thường thường không có cách nào đột phá khỏi cái chỗ thắt cổ chai của việc học tập.

Công trình có các loại tập san cho công trình sư hoặc các nhà khoa học đem tâm đắc chia sẻ, Y học có các tập san Y học cho các các vị Y sư đem các án lệ mới hoặc liệu pháp mới chia sẻ cho đồng nghiệp tham khảo. Đương nhiên trong chuyện này sẽ có nhiều vấn đề tranh luận, bất quá trải qua quá trình mọi người nghiệm chứng và sàng lọc, sẽ giữ lại được các kiến thức hoặc các kỹ thuật đúng đắn có thể ứng dụng thực tiễn. Bởi vậy đều khiến cho các công trình hoặc y thuật có thể ngày càng tiến bộ. Vậy thì hà cớ gì mà mệnh lý lại không làm được như thế.

 

Trong thư gửi đến có người hỏi: Làm sao nhìn ra việc sẽ chết ở tại trong ngục? Kỳ thực rất đơn giản, có thể chia làm hai bước để giải lá số:

 

Thứ nhất, cung Phụ Mẫu gốc quá vượng vừa được tọa thủ bởi Hóa Lộc, Hóa Khoa, lại gặp phải Can cung là Canh khiến cho Thiên Đồng tự hóa Kị, kết hợp Kị sau khi tự hóa với Hóa Lộc gốc thì liền có hung lực của hai tầng Kị. Cho nên đối cung là cung Tật Ách liền phải chịu áp bức đè xuống đầu, vốn chính là có hiện tượng bất lợi cho thân thể.

Thứ hai, lúc Đại Hạn Nhâm Thìn, [cung Quan Lộc của Đại Hạn] và [cung Tật Ách gốc] trùng điệp. Thiên Can của [cung Tật Ách gốc] là Bính khiến Liêm Trinh hóa Kị nhập vào [cung Tật Ách của Đại Hạn], mà vốn dĩ trong [cung Tật Ách của Đại Hạn] đã có Kị năm sinh và kết hợp với phi hóa Kị của Liêm Trinh bay đến tức là có hai tầng hung lực của Kị. Đồng thời [cung Quan Lộc của Đại Hạn] và [cung Tật Ách của Mệnh gốc] trùng điệp, mà lại hóa Kị tới xung [cung Quan Lộc của Mệnh gốc]. Sự bất lợi của sự nghiệp và bạo phát bệnh tật này có mối liên quan.
Một trong số các lực lượng xung tới đó, tinh tú có địa vị then chốt chính là Liêm Trinh. Liêm Trinh là chủ về máu huyết, vừa làm chủ quan lộc, Liêm Trinh hóa Kị diễn biến thành do quan tụng thị phi mà chịu giam cầm. Vì vậy, tổng hợp lại: Sẽ vì sự nghiệp bất lợi dẫn đến quan tòa, các vị hẳn cũng hiểu rõ cái ý tứ của câu [Liêm Trinh hóa Kị, gọi là Tù] rồi mà.

Đương nhiên là mệnh này có hiện tượng Tam phương cung Mệnh gốc và Tam phương Đại hạn đều có xung phá, cho nên vận đồ cực kém. Đại Hạn ấy nếu có thể ẩn thân hàm dưỡng thì có thể vượt qua cửa ải khó khăn. Nhưng đương số không ngờ được điều này, mà ngược lại còn dựa vào đặc quyền lớn mà khua chiêng gõ trống gây sự nghiệp, thực thi thủ đoạn đem của công để cho mình sử dụng, càng làm thì thua lỗ lại càng lớn. Còn đang trong thời kỳ đảm nhiệm chức vụ lớn mà mưu lợi cuối cùng phạm pháp. Kết quả là do cung Phụ Mẫu tự hóa Kị mà bị phá, khó tránh khỏi đắc tội người đương quyền, bị hạ lệnh điều tra, sự nghiệp một buổi mà thành tro bụi chôn vùi. Quý vị từ trong mệnh bàn phải chăng đến đây đã phát hiện một đầu mối?!

Đây là một ví dụ luận mệnh rất có giá trị nghiên cứu, quý vị nếu có sưu tập những ghi chép lai lịch của vị tiên sinh này, từ đó mở lá số này ra còn có thể khai thác thêm được ra các quy tắc Đẩu Số khác rất có giá trị.

 

 

Phụ chú:
Liên quan tới mệnh bàn của một danh nhân và vị tiên sinh này vốn có sự tương đồng về tình huống [cung Tật Ách của Đại Hạn hóa Kị xung cung Tật Ách của Mệnh gốc] mà danh nhân kia qua đời. Còn có một ví dụ thực tế về nữ minh tinh điện ảnh nào đó (có tên gọi là Phu nhân chợ đen) say rượu chết trên ghế salon trong nhà bạn bè. Do đó có thể chứng minh lý luận nói trong sách, là nghiệm chứng lặp đi lặp lại.

Dựa vào mệnh bàn của một tiểu thư minh tinh điện ảnh nào đó ở chương sau (hình 3), độc giả có thể căn cứ theo quy tắc được nói ở chương này để tự thực hành suy lý mà xem. (Ví dụ luận Mệnh đã thu nhận sử dụng ở trong tuyển tập khác).

Quy tắc này là từ người thầy đã khuất để lại, tôi chỉ ứng dụng nó để luận đoán mà thôi. Vì sao sẽ ứng nghiệm, thực sự là khiến người ta hậm hực. Vì sao có thể thông qua một quy tắc này, suy luận được người nào đó tương lai phát sinh chuyện như vậy?

Tiên hiền làm thế nào quy nạp, suy luận ra quy tắc này vậy? Cơ sở lý luận ẩn giấu ở phía sau là cái gì? Rất hy vọng có người có thể khám phá ra!

Cho đến bây giờ chúng ta mới chỉ là “Dụng” Tử Vi Đẩu Số mà thôi, còn chưa khai mở được nguồn gốc hình thành Tử Vi Đẩu Số. Giả như một ngày kia có thể giải ra được bí ẩn này, nếu muốn lại phát triển tinh xác hơn học thuật dự đoán tương lai thì cũng không phải là việc khó.

 

Chương 56: Các Mối Quan Hệ Của Tứ Hóa
Chương 58: Mục Tiêu Cuộc Đời Bạn Là Gì ?
Chia Sẻ Bài Viết