Chương 63: Luận Giải Lá Số Mẫu

Sách Tử Vi Đại Toàn thì đã được công bố rộng rãi và miễn phí. Các bạn có thể tham khảo phần Tài Liệu.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái đã có dịch giải bán sách tại Việt Nam nên vì lí do bản quyền nên không thể đăng lên hết được.

Tuy nhiên có bản dịch thô của sách Vương Đình Chi, các bạn vui lòng tham khảo thêm bên phần Tài Liệu.

 

Chương này chủ yếu là tập hợp những kiến thức cơ bản từ sách và chương sau sẽ tiến hành phần tích dựa trên cơ sở lý thuyết.

 

(1) Mệnh Cung

Thất Sát độc thủ tại cung Tý – Ngọ

Sách Tử Vi Đại Toàn

Thất Sát vượng, đối cung là Vũ Khúc Thiên Phủ, chủ người kiên cường, cương nghị, có mưu lược, có tính độc lập và tự chủ, có năng lực lãnh đạo mạnh, một đời thường được quý nhân nâng đỡ, dù hội cát tinh nhưng vẫn phải trải qua gian khổ. Cách “Thất Sát triều (ngưỡng) đẩu”, cát tinh hội chiếu, một đời tước lộc vinh xương. Hội Tứ sát hay các ác sát tinh không phải cách trên. Không hội Tứ sát, là người tích góp mà giàu có. Phụ Bật Xương Khúc củng chiếu, nắm quyền sinh sát, phú quý xuất chúng.

Tứ sát xung phá, nếu không tàn tật chết yểu, cũng chủ gặp hung họa ngoài dự kiến mà tử vong, chiến trận đa hung, có nguy hiểm tử trận.

Thất Sát cư Ngọ thủ mệnh, Liêm Trinh thủ Thân, hoặc Liêm Trinh Thất Sát đồng cung cư Mùi, là cách “Hùng túc triều viên”, chủ người phong thái khoáng đạt, lòng dạ đơn giản, hội cát tinh thì đều bước nhẹ lên mây xanh, danh tiếng vang xa.

Người sinh năm Giáp Đinh Kỷ, tài quan song mỹ. Người sinh năm Giáp, cung quan lộc

Phá Quân Hóa Quyền, đối cung Vũ Khúc Hóa Khoa; người sinh năm Đinh, cung Ngọ có

Lộc Tồn; người sinh năm Kỷ, cung ngọ Lộc Tồn và Vũ Khúc Hóa Lộc, đều phù trợ cho

Thất Sát xây dựng thành đại sự đại nghiệp.

Người sinh năm Bính Mậu, trung bình, do hội Kình Đà. Chủ người dũng cảm, thô bạo, thích mạo hiểm, tự cho mình đúng, thích mềm không thích cứng, vì cầu tiền tài mà bại trận, buất khuất. Đa phần là người vung tiền như rác, hoạnh phát hoạnh phá. Thất Sát cư Ngọ, người sinh năm Bính Mậu Kình Dương đồng cung, tam hợp hội cát tinh, là tướng lĩnh trấn thủ biên cương, hoặc làm người bạo phát về đầu tư kinh doanh, chủ người thành danh trong một sớm một chiều chiều, bạo phát bạo bại, kết cục đa phần không tốt đẹp, tuy phú quý nhưng cũng chết yểu. Hoặc là liệt sĩ hi sinh vì nghĩa. Lại hội hung sát thì coi thường pháp luật, đâm đầu vào chỗ hiểm nguy, tất chết dưới đao kiếm.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Trong Đẩu Số, dùng cung Mệnh để luận đoán mệnh cách của người đó là cao hay thấp, nó chủ về thực chất của vận thế. Nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục cao, thì khó gặp đại hạn và lưu niên quá xấu. Trái lại, nếu cung Mệnh trong tinh bàn hiển thị cách cục thấp, thì sẽ khó gặp đại hạn và lưu niên quá tốt, bất quá chỉ thuận lợi nhất thời mà thôi. Do đó có thể thấy sự quan trọng của cung Mệnh.

       Cung Mệnh đối nhau với cung Thiên Di ở tứ chính, và tương hội với cung Quan với cung Tài ở tam phương hội cung. Cũng chính là nói, chúng có thể ảnh hưởng đến thực chất của vận trình, những tao ngộ như xuất ngoại, và mối quan hệ với người ở nơi xa hay người ngoại quốc, và các yếu tố như sự nghiệp phát triển có thuận lợi toại ý hay không (quan), tài phú có được như ý hay không, .v.v…

       Do đó cung Mệnh trong tinh bàn Đẩu Số là then chốt chủ yếu để luận đoán. Xem xét tổ hợp các sao của cung Mệnh, hầu như đã có thể định được đại khái vận thế của một đời người.

       Còn cung Thân, theo thuyết thông thường, là dùng để luận đoán sự phát triển Hậu thiên của người đó. Nếu cung Mệnh cát mà cung Thân cũng cát, đương nhiên cuộc đời nhiều thuận lợi toại ý. Nếu cung Mệnh cát nhưng cung Thân không cát, thì giống như khối ngọc đẹp, nhưng lúc điêu khắc đã xảy ra sai sót, do đó làm giảm đẹp. Nếu cung Mệnh không cát mà cung Thân cũng không cát, thì cũng giống như gỗ xấu không được điêu khắc, đời người đương nhiên giảm sắc, chỉ có thể khéo vận dụng đại hạn và lưu niên (nhân mệnh), lấy nỗ lực hậu thiên để bổ cứu.

Thất Sát độc thủ tại cung Tý – Ngọ

Thất Sát độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là “Vũ Khúc, Thiên Phủ”. Thất Sát ở cung Tí, cổ nhân có thuyết “Vũ Khúc, Phá Quân, Tham Lang hội hợp cung Tí, thì nhảy sông tự vẫn, tuy nhiên thuyết này còn phải nghiên cứu thêm. Theo kinh nghiệp của Vương Đình Chi, khi Thất Sát ở cung Tí gặp Vũ Khúc, Phá Quan, Tham Lang, năng lực đề kháng sát tinh của nó sẽ yếu đi, cho nên thông thường, Thất Sát độc tọa ở cung Tí không bằng độc tọa ở cung Ngọ.

Có điều Thất Sát ở cung Tí hay cung Ngọ vẫn thuộc cách cục tốt, chủ về được người đề bạt, và được bạn bè trợ giúp. Nếu có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, lại được Vũ Khúc Hóa Lộc hoặ Hóa Quyền ở đối cung tương chiếu, chủ về nên theo nghiệp võ, hoặc làm chủ quản về tài chính kinh tế, cổ nhân gọi là “văn võ toàn tài”. Nhưng nếu có tứ sát cùng chiếu, lại kiêm Thiên Hình, Âm Sát, Thiên Khốc, Thiên Hư hội chiếu, thì chủ về chết ở sa trường.

Nếu không gặp sao cát, cũng chủ về có mưu lược, nên theo ngành công thương nghiệp, tuy cuộc đời khó tránh một lần gặp sóng gió nhưng nhất định sẽ lại đứng lên.

Nếu Thất Sát ở cung Tí hoặc Ngọ mà gặp Kình Dương, Thiên Hình, thì có thể làm bác sĩ ngoại khoa, sản khoa hoặc nha sĩ. Gặp Vũ Khúc Hóa Lộc hay Hóa Quyền, ắt thành danh y.

Cung Mệnh Phi Hóa

Thiên Can của Cung Mệnh là Nhâm.


Can Nhâm có: Thiên Lương Hóa Lộc – Tử Vi Hóa Quyền – Tả Phụ Hóa Khoa và Vũ Khúc Hóa Kỵ.

Vậy thì Cung Mệnh Phi Hóa như sau:

Cung Mệnh Phi hóa Lộc nhập cung Huynh Đệ.

Cung Mệnh Phi hóa Quyền nhập cung Phu Thê.

Cung Mệnh Phi hóa Khoa nhập cung Thiên Di.

Cung Mệnh Phi hóa Kỵ nhập cung Thiên Di.

Cung Mệnh Phi hóa Lộc nhập cung Huynh Đệ.

  • Không tính toán với anh em, anh em có tình có nghĩa, có duyên tốt với mẹ.
  • Đối ngoại được vượng về tinh thần khí chất (vì Lộc chiếu cung Nô Bộc).
  • Gia đình có thu nhập tốt, kinh tế thường đầy đủ, việc chi tiêu thuận lợi, sự nghiệp cũng khá thuận.
  • Thiếu sự tính toán kỹ lưỡng, đa số đều bị thiếu hụt bất ngờ.
  • Tính trách nhiệm không cao, không chu cấp trọn vẹn.
  • Thể chất ít bệnh, chim họa mi hót véo von.
  • Ăn ở vui vẻ với con cái (vì cung Huynh Đệ chính là [cung Phúc Đức của cung Tử Tức]).

Cung Mệnh Phi hóa Kỵ nhập cung Thiên Di.

  • Ngay thẳng, thật thà, hay quyên, nghiêm túc, khắc khổ, hướng nội, ít tâm cơ. “bất thiện” sát ngôn thì quan sát khí sắc.
  • Không nặng hình tượng, dễ xấu hổ, khẩn trương, không thích sầm uất dối trá.
  • Nhàn sự thiểu lý, nhưng phòng tiểu nhân, chỉ lo thân mình (đừng vọng tưởng kiêm thiện cả thiên hạ).
  • Thiếu niên bất phát, chớ đánh bạc, đầu cơ mong chờ vận may tự đến.
  • Lạn dịch mã (chớ mong áo gấm về làng).
  • Nữ mệnh an tĩnh thủ phần (vo tài chính lá đức) (cá tính đàn bà truyền thống).
  • Tu hành nhất tâm thanh tĩnh, a la hán quả vị.
  • Cách cục xấu phòng ngoại ý, bệnh nghiệp (song kỵ trở lên). (Chú: thiên di, phụ mẫu gặp nhiều kỵ thì cá tính ngây thơ, ngớ ngẩn, đần độn không chủ kiến, thiếu can đảm, tất kiến kỳ thất)

Tứ Hóa Năm Sinh

Hóa Lộc năm sinh nhập cung Tử Tức

  • Dễ có con, sinh được nhiều con.
  • Có phúc nhờ con, con cái sẽ không hư.
  • Thân thích thường xuyên qua lại.
  • Hùn vốn để kiếm tiền.
  • Đề phòng đào hoa (nếu có Đào hoa tinh)
  • Nhiều cơ hội rời nhà.
  • Cảnh tuổi già tốt, có chỗ dựa (Tử Tức là vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức).
  • Trẻ con theo nhiều.
  • Hợp với việc “ra ngoài kiếm tiền”.

Hóa Quyền năm sinh nhập cung Huynh Đệ

  • Anh em rất dễ có thành tựu.
  • Dễ có người “anh cả” ở trên mình.
  • Sự nghiệp của ta có thành tựu về tiền tài (cung Huynh Đệ là cung vị thành tựu).
  • Thể chất khỏe mạnh (cung Huynh Đệ là cung vị của vận thân thể).
  • Tài năng của người mẹ rất lớn.
  • Chủ phòng ngủ lớn.

Hóa Khoa năm sinh nhập cung Phu Thê

  • Người phối ngẫu văn vẻ nho nhã, xinh đẹp.
  • Người phối ngẫu có gia thế khá đơn giản.
  • Dễ có tình cảm kiểu “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”.

Hóa Kị năm sinh nhập cung Tật Ách

  • Vất vả, không được nhàn.
  • Tận lực cho bổn phận, giữ gìn thành quả, cất giấu vào trong.
  • Thêm Quyền thì vất vả vô cùng.
  • Làm tăng ca, kiêm nhiệm chức vụ. Nữ mệnh thì rất dễ làm những công việc mang tính chất của người phụ nữ.
  • Người cha chính trực, phúc hậu.
  • Khó bị béo phì.

 

(2) Huynh Đệ Cung

Thiên Lương độc thủ tại Tỵ

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung huynh đệ có các cát tinh như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Đồng, Thiên Lương, Thái Dương, Thái Âm, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Lộc Tồn thì chủ hòa thuận, không khắc với anh chị em; giúp đỡ lẫn nhau, đôi bên có tình có nghĩa; có các sao xấu như Tham Lang, Vũ Khúc, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thất Sát, Thiên Cơ, Phá Quân, lại ở thế hãm địa thì anh chị em không hòa hợp, có xích mích, ít qua lại với nhau, nhiều sát tinh thì càng khắc nhiều, như người xa lạ.


Các sao cung huynh đệ ở sinh địa mà được âm dương hòa hợp, lại được các sao tương sinh mà không có các ác sát tinh thủ chiếu thì có thể coi là may mắn, nếu không, tuy tốt mà không đẹp.


Khi luận cung huynh đệ tốt hay xấu, cần phải xem đối cung là cung nô bộc.

Thiên Lương độc thủ tại Tỵ

Dù nhiều cát tinh thì vẫn ít được trợ giúp. Anh em chính trực lỗi lạc, nhập miếu tình cảm sâu nặng. Hãm địa chủ Cô, hoặc mỗi người một phương. Bình hòa hoặc hội Hồng Loan

Thiên Hỉ, chỉ có chị em gái. Thêm Tứ sát chủ khắc, không hòa thuận hoặc có thị phi kiện tụng tù hình. Thêm Không Kiếp Tử Tuyệt cô đơn, không anh chị em.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Trong xã hội hiện đại, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán cung Huynh đệ, thực ra có khuyết điểm rất lớn. Ở xã hội cổ đại, anh em không tách ra ở riêng, nên Đẩu Số có thể dựa vào các sao ở cung Huynh đệ để luận đoán khái quát toàn bộ mệnh vận của gia tộc. Vì vậy ở tinh bàn, đối nhau với cung Huynh đệ là cung Nô bộc (nay đổi lại là cung Giao hữu), tương hội ở tam phương là cung Điền Trạch và cung Tật Ách.

       Từ số lượng anh em nhiều hay ít, cho đến Nô Bộc nhiều hay ít và có đắc lực hay không, thì Mệnh vận của một gia tộc có thể biết được những tính chất sơ lược. Lại quan sát các sao của cung Tật Ách để xem gia tộc có bệnh di truyền hay không, thì tình hình càng rõ như chỉ bàn tay. Thời cổ đại một người phạm tội thì cả gia tộc bị liên lụy, cho nên quan sát cung Tật Ách là rất quan trọng.

       Xã hội hiện đại đã không còn chế độ đại gia đình, anh chị em mỗi người đều có gia đình riêng. Hơn nữa không còn tình trạng bị liên lụy người phạm tội trong gia đình. Cho nên, quan sát cung không có gì quan trọng, cổ nhân đã đặt ra một số phép tắc, cũng có thể nói hoàn toàn không còn hợp thời.

       Theo Trung Châu phái, vẫn có thể vận dụng tổ hợp các sao của cung Huynh đệ, để luận đoán về người có cùng một xuất thân với mệnh tạo (theo cổ pháp, Huynh đệ cũng dùng để luận đoán về bạn “đồng môn” và bạn “đồng niên”)

       Phàm cung Huynh đệ mà gặp Tả phụ, Hữu bật thì số anh chị em không chỉ dựa vào chính diệu để luận đoán là nhiều, như Tử Phủ cư Huynh chủ về anh chị em chỉ có 3 người, nhưng gặp Tả Hữu thì có trên 3 người, nhưng lại có khả năng là anh em khác mẹ, cần phải xem xét kỹ các sao của cung Phụ mẫu, xem có xuất hiện tình hình tái hôn, ngoại hôn hay không mà định.

       Có Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên việt, Hóa Lộc, Hóa Khoa, Hóa Quyền, thì số lượng anh chị em có thể dựa vào chính diệu để luận đoán là nhiều. Nhưng phải có “sao đôi” hội hợp thì mới có hiệu lực, hoặc cũng chủ về nhiều bạn đồng môn và nhiều người có cùng xuất thân.

       Cung Huynh đệ không gặp các sao Phụ diệu, Tá diệu, nhưng cung Mệnh gặp các sao Phụ diệu, Tá diệu tụ tập thì cũng chủ về nhiều anh chị em.

       Phàm là Tử vi, Thiên phủ, Thiên tướng, Thiên đồng, Thiên lương thủ cung Huynh đệ, về nguyên tắc chủ về anh chị hoặc bạn đồng môn, hoặc đồng sự ngang cấp có sự hòa hợp. Nếu gặp các sao lông bông thủ cung Huynh đệ như Tham lang, Vũ khúc, Thất sát, Phá quân, Thiên cơ, về nguyên tắc chủ về anh chị em, hoặc bạn đồng môn, hoặc đồng sự ngang cấp không thể đồng tâm hiệp lực. Nếu gặp thêm Sát tinh thì thường có tranh chấp, còn gặp thêm các sao Hình – Kị thì chủ về xảy ra kiện tụng.

       Phàm cung Huynh đệ gặp các sao Hình – Kị, lại còn gặp thêm Thiên Vu thì chủ về tranh chấp tài sản, hoặc chủ về đồng sự tranh chấp quyền lợi. Thiên lương thủ cung Huynh đệ gặp Kình dương đồng độ chủ về kiện tụng liên miên. [ An Thiên Vu: tháng 1 – 5 – 9 cư Tị, tháng 2 – 6 – 10 cư Thân, tháng 3 – 7 – 11 cư Dần, tháng 4 – 8 – 12 cư Hợi ].

       Cung Huynh đệ không nên gặp Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, vì chủ về anh em ở riêng nơi khác hoặc bất lợi, hoặc đồng sự hay đồng môn thì chủ về gặp nhiều đố kị tranh chấp. Sát tinh nặng mà gặp thêm Thiên Hình và Hóa Kị thì chủ về có hình thương.

       Cung Huynh đệ gặp “Lộc Quyền Khoa”, chưa chắc chủ về anh chị em phú quý, có lúc chỉ chủ về có nhiều anh chị em. Nhưng trong số anh chị em ắt sẽ có người được cảnh ngộ khá hơn mệnh tạo; hoặc chủ về đồng sự có cung một xuất thân thăng tiến nhanh hơn mệnh tạo.

       Các sao Phụ diệu, Tá diệu, Sát tinh, tứ Hóa cùng bay đến cung Huynh đệ, chủ về cát hung lẫn lộn, cũng chủ về hòa hợp nhưng có “hình thương”, hoặc chủ về hòa hợp mà không giúp đỡ lẫn nhau được, hoặc chủ về anh em nhiều nhưng hình khắc, ở riêng mà vẫn tranh chấp (luận về đồng sự, thì tuy có trợ lực nhưng chỉ là cái vỏ bên ngoài, còn bên trong lại có khuynh hướng kết bè kết đảng chống đối nhau). Cho nên khi luận đoán về tình hình giữa đồng sự với nhau, cần phải vận dụng một cách linh hoạt.

Thiên Lương độc thủ tại Tỵ

Thiên Lương nhập miếu thủ cung huynh đệ, hội hợp với Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt thì năm người trở lên, hơn nữa anh chị em hòa thuận. Nếu Thiên Lương nhập miếu mà không có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, chủ về anh em khắc mẹ.

Phàm Thiên Lương nhập miếu gặp “Thiên Khôi, Thiên Việt” mà không có Tả Phụ, Hữu Bật anh chị em ruột chỉ hai ba người, có ngầm tranh chấp.

Cung Huynh Đệ Phi Hóa

Cung Huynh Đệ Phi Hóa Lộc Nhập Cung Tử Nữ

  • Huynh đệ thích trẻ nít.
  • Ta kinh tế tốt, chi ra nhiều ít có quan niệm quản lý tài sản.
  • Cho trẻ nít tiền xài vặt nhiều.
  • Sức khỏe tốt,cuộc sống mỹ mãn.
  • Trẻ nít thích chạy ra bên ngoài.
  • Có cơ hội hợp tác( chưa chắc là cát).

Cung Huynh Đệ Phi Hóa Quyền Nhập Cung Tật Ách

  • Anh em có thân thể cao lớn, cá tính qua loa đại khái.
  • Công việc của ta tốn sức lực, mức độ hoạt động nhiều.
  • Tính chịu áp lực cao, càng làm càng khỏe hơn.
  • Thu nhập cao, kinh tế không phải lo lắng.

Cung Huynh Đệ Phi Hóa Khoa Nhập Cung Phúc Đức

  • Tích từng chút một cũng không phải là vô ích.
  • Anh em nhàn nhã vô ưu.

Cung Huynh Đệ Phi Hóa Kị Nhập Cung Mệnh

  • Dễ dàng là con trai trưởng, vì an hem mệt mỏi.
  • Phòng kinh tế áp lực ( thu vào ít chi ra nhiều).
  • Nên tính toán tỉ mỉ,tăng thu giảm chi, tiết kiệm, chịu vất vả.
  • Tốt nhất là đi làm yên ổn, kinh doanh vốn nhỏ hoặc những nghề xử lý kỹ thuật, môi giới, cố vấn.
  • Nữ mệnh thì thường là chức nghiệp phụ nữ.

 

(3) Phu Thê Cung

Tử Vi và Thiên Tướng đồng cung tại Thìn

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung Phu Thê có cát tinh miếu vượng thủ chiếu, như Tử Vi, Thiên Phủ, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thái Dương, Thái Âm, Lộc Tồn… chủ vợ chồng hòa hợp; nếu có các ác tinh như Vũ Khúc, Liêm Trinh, Cự Môn, Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ vợ chồng bất hòa.


Các sao nếu như đồng thủ với các sao ác Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp hình kỵ hoặc Không vong, người khắc càng khắc, người không khắc thì chủ sinh ly hoặc thiếu hòa khí.


Các ác tinh thủ chiếu cung phu Thê, nếu được nhiều cát tinh củng chiếu hay hội chiếu ở tam phương tứ chính, thì người khắc nặng có thể giảm nhẹ, người khắc nhẹ có thể chủ không khắc.
Phán đoán sự tồn xấu của tình yêu, hôn nhân, ngoài quan sát cung Phu Thê ra, cần phải căn cứ vào đối cung và tam hợp cung của cung Phu Thê.


Người đã kết hôn, ngoài sự tốt xấu của bản thân cung Phu Thê và cung đối, tam hợp cung của nó, tốt nhất cần xem lá số của người phối ngẫu, tổng hợp để phán đoán.


Cũng có những người cung phu thê có cát tinh, không có ác tinh, không sát tinh, nhưng hôn nhân không hoàn mỹ, tất là người mà cung mệnh có các sao bất lợi cho hôn nhân.


Như Sát, Phá, Tham, Liêm, Vũ, Cự, Tứ sát, Không Kiếp, Hóa Kỵ ở mệnh, có nhiều sát tinh, đào hoa tinh đồng cung hội chiếu, dù cung phu thê có cát tinh tọa thủ, cũng không luận là mỹ mãn. Hoặc sao ở cung mệnh hãm địa hội sát tinh, tam hợp không tốt, tuy lấy được chồng như ý hay hai người không môn đăng hộ đối mà cuối cùng dẫn đến cảnh sinh ly.


Cần chú ý đến sự khác biệt giữa một quần thể và một tập thể khác, như ở vùng núi xa xôi, cảnh ngoại tình, ly hôn là cực kì ít, nhưng ở các thành phố lớn có nền kinh tế phát triển, tỉ lệ ly hôn cao hơn một cách rõ rệt. Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế xã hội, tỉ lệ hôn nhân tan vỡ đương nhiên cũng dần dần gia tăng, ở những nơi trình độ văn hóa càng cao, thì số người ly hon cũng càng cao. Những quần thể khác nhau như giới văn nghệ, chính trị, thương nhân… thì tiêu chuẩn đánh giá phải linh hoạt. Vì vậy người luận cần phải căn cứ vào đặc điểm địa lý khu vực, chủng tộc, tập quán văn hóa… để luận. Đây không chỉ là về phương diện hôn nhân.

Tử Vi và Thiên Tướng đồng cung tại Thìn

Người phối ngẫu tính cương, có dục vọng thống trị, hội sát tinh, ở nhà bá đạo, thiếu giao lưu tình cảm, nhất định phải kết hôn muộn, thì đôi bên mới sống với nhau đến già. Hội Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp, chủ khắc, nếu kết hôn muộn có thể tránh khắc.

Tử Vi Thiên Tướng ở Thìn tuất, dễ lấy người nhỏ tuổi hơn mình. Phối ngẫu ôn hòa, nhưng vợ chồng tình cảm bạc, đồng sàng dị mộng. Hội Kình Đà vợ chồng hay đánh nhau, tất ly, thậm chí vài lần đò.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Cung Phu Thê hội hợp “tam phương tứ chính” là cung Phúc Đức, cung Quan Lộc và cung Thiên Di. Cách phối trí này rất logic.

       Sự nghiệp của một người đương nhiên chịu ảnh hưởng của sinh hoạt hôn nhân, di cư (Thiên di) tha hương, nếu không phải là vợ chồng sinh ly tử biệt thì hoặc là vợ chồng đều nên sống ở tha hương, đây cũng là vấn đề trọng đại của đời người, còn cung Phúc đức chủ về sinh hoạt tinh thần của con người, mà quan hệ hôn nhân có ảnh hưởng đến sinh hoạt tinh thần, điều này không nói cũng biết.

       Cho nên việc quan sát và luận đoán cung Phu thê, cần phải xem xét kỹ các sao của cung Phúc đức, cung Quan lộc và cung Thiên di, các sao của ba cung này cũng chịu ảnh hưởng các sao của cung Phu thê, đây là hiện tượng rất hợp lý.

       Tiết này tuy dùng phương thức trình bày giản lược về các tinh hệ của hiện tượng hôn nhân, nhưng đã suy tính đến mối liên hệ của “tam phương tứ chính”. Để tiện cho người nghiên cứu những ảnh hưởng của các sao Phụ diệu, Tá diệu, Sát tinh đối với tính chất các tinh hệ chính diệu, nên sau khi trình bầy tính chất của 14 tinh hệ chính diệu, vẫn có thêm một mục trình bầy tính chất của các sao Phụ Tá Sát ở cung Phu thê, để có thể dung hợp nó với tính chất của tinh hệ chính diệu, xem nó làm mạnh thêm hay yếu đi, hoặc tình hình chuyển hóa như thế nào.

       Ví dụ tinh hệ “Thiên cơ Cự môn” chủ về trước hôn nhân có sóng gió, trắc trở, hơn nữa còn chủ về phiêu bạt, còn tính chất của Lộc tồn là vợ chồng ân ái, chỉ dễ bị người phối ngẫu bắt nạt, hà hiếp, vì vậy mà hai người chia ly. Nếu dung hòa hai tính chất này, thì tham khảo thêm ở đại hạn hoặc lưu niên để luận đoán xem phần nhiều xảy ra chuyện gì.

       Có điều khi luận đoán hôn nhân, không nên chỉ xem cung Phu thê, mà còn nên xem kiêm tinh hệ của cung Mệnh. Trong xã hội hiện đại, sinh hoạt hôn nhân giữa vợ và chồng, việc luận đoán không ngoài những hạng mục như tình cảm, tài năng, dung mạo, và tài phú. Thế sự lại rất khó toàn mỹ, tài năng và dung mạo cũng rất khó lưỡng toàn, nhưng cũng không phải là không có khả năng tài năng, dung mạo, tài phú đều có đủ, cho tới trường hợp khi các phương diện đều hợp với lý tưởng, thì tình cảm lại thường thường dễ xảy ra thay đổi. Cho nên đạo của vợ chồng, quý ở chỗ biết thích ứng. Tiết này chỉ ra những hiện tượng quan trọng, mà còn gợi ý biện pháp dùng nỗ lực hậu thiên để bổ cứu và thích ứng với cuộc sống hôn nhân.

       Dưới đây là một số thể lể thích hợp cho tính hình chung, dùng để luận đoán cung Phu thê.

       Luận đoán cung Phu thê xem có mỹ mãn hay không, ngoại trừ việc quan sát cung Phu thê ra, còn cần phải xem xét tinh hệ của cung Mệnh, sau đó dung hòa hai tính chất này.

       Mỗi một cung Phu thê của đại hạn đều phải chú ý xem xét, sau đó mới có thể nhìn ra sự thay đổi trong quan hệ hôn nhân và tình cảm vợ chồng. Nhưng thông thường không cần dùng thêm tinh hệ của cung Mệnh đại hạn để trợ giúp trong việc luận đoán, trừ khi xem tai nạn bệnh tật.

       Muôn luận định về hôn nhân, tốt nhất là mang tinh bàn của cả hai người nam và nữ ra quan sát một lượt, chỉ càn quan sát cặn kẽ, tỷ mỉ thì có thể nhìn ra một số tình tiết.

       Khi luận đoán cung Phu thê, phải lưu ý một nguyên tắc, nhiều Cát tinh chưa chắc có lợi, như Xương Khúc chủ về người phối ngẫu quan tâm, chăm sóc, nhưng lại đồng thời có thể có tình nhân bên ngoài. Các sao Hung, sao Ác cũng chưa chắc là không tốt, như Đà La chủ về phối ngẫu rời xa quê hương, nhưng nếu gặp Lộc tồn, nhưng nếu gặp Lộc tồn, Thiên mã, thì lại chủ về phát tài ở nơi xa, hơn nữa tình cảm vợ chồng có thể rất tốt. Cho nên cần phải cân nhắc tỷ mỉ cẩn thận.

Tử Vi và Thiên Tướng đồng cung tại Thìn

Chủ về người phối ngẫu có tính gia trưởng, tính thống trị, mà cũng có tinh thần trách nhiệm; Tử Vi Hóa Quyền, chủ về vợ đoạt quyền chồng, hôn nhân tuy không như ý nhưng không dễ nói lời chia li. Gặp cát tinh, nữ mệnh chủ về chồng, vinh hiển, nam mệnh chủ về vợ có khí khái đàn ông. Gặp hung tinh, thì nội tâm đau khổ nhưng bề ngoài vẫn khoan dung.

“Tử Vi và Thiên Tướng” ở hai cung Thìn hoặc Tuất, là “Thiên La và Địa Võng”, dễ xảy ra thay đổi bất ngờ. Vợ tuy có thể giúp chồng về sự nghiệp nhưng bạc tình. Nên kết hôn muộn. Nam mệnh nên lấy vợ nhỏ tuổi.

Cung Phu Thê Phi Hóa

Cung Phu Thê Phi Hóa Lộc Nhập Cung Tật Ách

  • Phối ngẫu khác phái, quan tâm hoặc đối phương đa tình.
  • Khác phái duyên tốt, về lâu về dài dễ sinh tình cảm.
  • Dễ dàng có tình một đêm (đào hoa tinh).
  • Phối ngẫu ít can thiệp hành động, tự do.
  • Sau khi cưới cũng dễ bị mập.

Cung Phu Thê Phi Hóa Quyền Nhập Cung Thiên Di

  • Người phối ngẫu có năng lực mạnh, một mình chống đỡ một phương.
  • Sau khi kết hôn khá có thể có thành tựu. Vì người hôn phối mà được quý hoặc được phúc lây.
  • Sau khi kết hôn dễ mua sắm được nhiều tài sản (vì Phu Thê là vị trí nhất lục cộng tông của cung Điền).
  • Gặp các sao Thiên Tài thì trúng thưởng, có tiền ngoài dự kiến.

Cung Phu Thê Phi Hóa Khoa Nhập Cung Tật Ách

  • Tình cảm ưu nhu, kín đáo (thêm lộc thì lãng mạn) nhỏ giọng, ôn nhu.
  • Duyên tình chưa dứt, dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

Cung Phu Thê Phi Hóa Kị Nhập Cung Nô Bộc

  • Phối ngẫu tiếc tình trọng nghĩa, ca tý chủ ngoại loan.
  • Phòng cứng nhắc không được tự nhiên, trong cuộc sống hôn nhân.
  • Phối ngẫu can thiệp vào quan hệ của ta, sau khi cưới ít dần bạn đi.

 

(4) Tử Nữ Cung

Thiên Cơ và Cự Môn đồng cung tại Mão

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung Tử Tức có cát tinh miếu vượng, như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Thiên Lương, vũ khúc, Liêm Trinh, Tả Phụ, Hữu Bật… thủ chiếu, chủ con cái vượng thịnh, sự nghiệp có thành tựu; nếu gặp các ác tinh như Cự Môn, Phá Quân, Thất Sát e bị sát thương thai nhi đầu; có Lộc Tồn, Thất Sát nhập cung tử tức, chủ con cái ít, chỉ một hai người; hội Thiên Cơ, Thiên Tướng chủ muộn con, trung niên mới có; hội các ác tinh Tham Lang, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ thì chủ hình thương, con cái hỉ nộ vô thường, tình cảm bất hòa; nếu nhiều hung tinh hãm địa thủ chiếu, tuyệt tự, hoặc thương tật chết yểu, hoặc nuôi con người khác.


Các sao đồng cung hội chiếu với Tứ sát Không Kiếp hình kỵ Tử Tuyệt thì người nào nhiều con sẽ giảm bớt, người ít con thì càng ít, người không con thì hoàn toàn không thể có.


Nếu được cát tinh thủ chiếu củng chiếu, chủ con cái nhiều mà tốt đẹp, càng hội nhiều quý tinh thì chủ trong số đó có người quý hiển. Nếu vừa có hung tinh thủ chiếu mà lại gặp các ác diệu hình sát thì đa phần chủ khắc hại hay có con phá đãng.


Xem con gái con trai có hay không, trừ việc xem sao thủ cung đó thế nào, còn phải xem các sát diệu có hội Hao Sát, tam phương tứ chính tốt xấu ra sao cũng rất quan trọng.


Cung tử tức nếu có cát tinh thủ chiếu, nhưng bị các sát ác tinh ở tam phương hình phạm xung chiếu, con cái xinh đẹp cũng bị tổn hại về tư chất.


Cung tử tức có nhiều nam đẩu tinh, nhiều con trai; nhiều bắc đẩu tinh, nhiều con gái (Sách viết: Bắc đẩu Vũ, Liêm, Tham, Cự, Phá, Dương, Đà, Tả, Hữu, Xương, Khúc, Tồn. Nam đẩu Cơ, Đồng, Lương, Tướng, Phủ, Hỏa Tinh, Khôi, Việt, Sát, Xương, Linh).


Trong lá số sao Thái Dương và Thái Âm lạc ở cung âm hay ở cung dương, Thái Dương lạc cung dương thì con đầu tiên là con trai, Thái Dương lạc ở cung âm thì con đầu là con gái. Điều này không chỉ luận khi thấy Thái Dương hay Thái Âm ở cung Tử Tức mà ở các cung khác cũng luận như vậy (sách viết: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thuộc dương cung, sửu, mão, tỵ, mùi, dậu, hợi là âm cung).


Còn một cách khác, thích hợp với tình trạng hiện nay chỉ sinh một con duy nhất: bất luận nam mệnh nữ mệnh, thấy thời kì sinh con ở đại hạn nào, cung đại hạn đó nảm đẩu tinh tọa thủ, hay nam đẩu tinh nhiều thì sinh con trai; cung đại hạn đó có bắc đẩu tinh tọa thủ, hoặc bắc đẩu tinh nhiều, sinh con gái.


Do cung tử tức có thể dự đoán số lượng con cái, mà xã hội hiện nay đang thực hiện kế hoạch hóa gia đình, vì vậy sẽ ít đi so với số lượng được luận đến ở đây. Người chưa có con, chỉ chú trọng sinh nam hay nữ, người đã có con, tuy có thể dựa vào cung tử tức để phân tích tình trạng số mệnh của con cái, duyên phận dày mỏng, có khắc hay không…nhưng vẫn để sót một số điều đơn giản, vì vậy tốt nhất cần lấy lá số của con cái sau khi sinh để tiến hành luận đoán, có thể rút ra được những kết luận chính xác và tỉ mỉ hơn.

Thiên Cơ và Cự Môn đồng cung tại Mão

Thiên Cơ nhập cung tử tức là “cô tinh”, chủ ít con cái, nhập miếu chủ ham học thông minh, lanh lợi cơ biến, có thành tựu, con cái hiếu thuận, lạc hãm thì không ham học. Hội ác sát có hình khắc, không hiếu thuận.

Thiên Cơ Thái Âm, chủ nhiều con gái ít con trai, thông minh xinh đẹp hòa thuận. Thiên Cơ Cự Môn, tự kỉ, chăm chỉ, hay suy nghĩ, mỗi người một suy nghĩ riêng, nên sống riêng, nếu không có hình khắc. Thiên Cơ Thiên Lương, ôn hòa xinh đẹp, duyên sâu sắc, hiếu thuận. Cơ lương đồng cung hoặc Thiên Lương ở cung đối hội sát tinh, sẽ bị sảy thai hay sinh non.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Trong mệnh bàn Đẩu Số, cung Tử tức và cung Điền trạch đối nhau, cung Tử tức tương hội với cung Phụ mẫu và cung Nô bộc. Kết cấu dạng này rõ ràng phản ảnh chế độ đại gia tộc thời xưa.

       Đại gia tộc trong xã hội phong kiến, con cái là do đầy tớ (nô bộc) phục dịch, do đó cung Nô bộc có ảnh hưởng nhất định đối với cung Tử tức. Đồng thời có thể nhìn ra quan hệ “kế thừa sự nghiệp của cha ông” từ tổ hợp các sao của cung Phụ mẫu và cung Tử tức, còn đối với cung Điền trạch, Đẩu Số dùng để quan sát gia trạch, đương nhiên càng có tương quan với cung Tử tức.

       Do đó nếu nói tổ hợp tinh hệ của cung Huynh đệ là phô bầy cả một đại gia tộc, dùng để quan sát thế hệ bề ngang của mệnh tạo, thì tổ hợp tinh hệ của cung Phụ mẫu và cung Tử tức là một biểu đồ theo chiều dọc, dùng để quan sát từ ông Tổ đến cha mẹ, rồi từ cha mẹ đến con cái, cả một dòng họ truyền từ đời trước sang đời sau.

       Ngày nay, chế độ đại gia tộc theo kiểu phong kiến đã sụp đổ, kết cấu tinh hệ ở cung Tử tức và tam phương tứ chính đương nhiên đã mất đi một số ý nghĩa ban đầu. Nhất là cung Nô bộc, ngoại trừ để xem mối quan hệ với nhân viên làm thuê và người trực tiếp dưới quyền, thì ngày nay còn dùng để quan sát bạn bè, đương nhiên sẽ cảm thấy quá cách xa cung Tử tức. Vì vậy trong thực tế ứng dụng, càng cần phải định ra một số nguyên tắc khác.

       Sự tương quan hợp lý thứ nhất giữa hai cung, đó là lấy sự quan sát “mối quan hệ gia tộc” như trước kia, cải biến thành quan sát “địa vị xã hội”. Bởi vì từ các tình trạng tốt xấu của cha mẹ, hay nhân viên làm thuê và bạn bè, cho tới con cái của mệnh tạo, có thể luận đoán ra địa vị xã hội của đương số.

       Ví dụ như, nếu ba cung đều cát, thì mệnh tạo phải là người lúc còn nhỏ được cha mẹ nuôi dạy khá tốt, bản thân cũng được bạn bè giúp đỡ ủng hộ, đồng thời còn được nhân viên làm thuê trợ lực, đến trung niên thì phát triển sự nghiệp, đến vãn niên thì có con cái có thể kế thừa sự nghiệp của cha ông. Người này là mẫu người điển hình của loại “lúc nhỏ là thiếu gia, lúc già gọi là lão gia”, có địa vị xã hội như thế nào chắc là không cần phải nói.

       Nếu cung Phụ mẫu và cung Nô bộc không cát tường, nhưng cung Tử tức thì có Cát tinh tụ tập, như vậy có thể luận đoán mệnh tạo rất có khả năng phải trải quan gian lao vất vả, rồi mới tay trắng tạo nên sự nghiệp, sau trung niên ít nhất cũng có địa vị vào hạng trung lưu.

       Dựa vào điểm suy đoán này, có thể trợ giúp chúng ta luận đoán ra vận trình của bản thân mệnh tạo. Ngược lại, từ vận trình của bản thân mệnh tạo, cũng có thể luận đoán ra con cái của mệnh tạo có thành tựu hay không !

       Ví dụ như, nếu cung Phụ mẫu là Cát, cung Mệnh cũng cát, cung Nô không xấu, nhưng cung Tử tức lại xấu, thế thì, có khả năng không có người thừa kế, cũng có thể là con cái bất tài, phẩm hạnh quá kém.

       Vì vậy có thể căn cứ vào tinh bàn để tìm ra một số chỉ dẫn. Ví dụ như quan sát sự hiển thị của cung Tử tức, để biết về tính cách con cái của mệnh tạo mà đưa ra một số lời khuyên

       Đây cũng chính là nói, từ “tam phương tứ chính” của cung Tử tức ngoại trừ xem có con nhiều hay ít, còn luận đoán về tình cảm của mệnh tạo đối với con cái, và tính cách chủ yếu của con cái. Liên quan về những luận đoán này, ta cần kết hợp với cung Tử tức của đại hạn và lưu niên để đánh giá về vận mệnh của con cái đương số, để biết con cái của đương số có thành tựu hay không?

Thiên Cơ và Cự Môn đồng cung tại Mão

Thiên Cơ nhập miếu, chủ về con cái cái thông minh cơ trí, khéo léo.

Thiên Cơ nhập cung tử nữ, chủ về ít con cái, hoặc chậm sinh con.

Thiên Cơ lạc hãm, rất kị gặp các sao sát, kị, Địa Không, Địa Kiếp, chủ về không con, có cũng bất hòa, hoặc con cái phẩm cách không tốt, nhiều tâm cơ, xảo trá, hoặc khắc hại.

“Thiên Cơ và Cự Môn”, chủ về một người; có thêm các sao cát, chủ về có hai người con, nhưng phải cho làm con thừa tự hoặc ở riêng, nếu không sẽ khó nuôi.

Cung Tử Nữ Phi Hóa

Cung Tử Nữ Phi Hóa Lộc Nhập Cung Thiên Di

  • Trẻ nít bên ngoài duyên tốt.
  • Con cái dạy dỗ thành công, được hoan nghênh.
  • Con gái có nhiều tiền đồ.
  • Con cái thuận toại, không cần quá bận tâm.
  • Thuộc hạ tư chất tốt.
  • Hợp tác duyên vượng, hợp tác cũng tốt.

Cung Tử Nữ Phi Hóa Quyền Nhập Cung Tài Bạch

  • Con cái năng lực mạnh, thu nhập cao, giỏi quản lý tài sản.
  • Cha mẹ thu nhập tốt (tử nữ-phụ mẫu đích tài bạch).
  • Thích hợp buôn bán đồ dùng con nít.
  • Đồng hành cạnh tranh áp lực.

Cung Tử Nữ Phi Hóa Khoa Nhập Cung Huynh Đệ

  • Tính sinh hoạt nhiều thú vị.

Cung Tử Nữ Phi Hóa Kị Nhập Cung Phúc Đức

  • Nhiều vì con cái mà phiền lòng.
  • Phòng trẻ nít ham chơi, sức khỏe rối loạn, tập thói nghiện ngập.
  • Hợp tác khó thành chuyện hoặc hợp tác thua thiệt tiền.
  • Phòng về già buồn phiền, về già tự thương xót.

 

(5) Tài Bạch Cung

Tham Lang độc thủ tại Dần

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung tài bạch gặp cát tinh miếu vượng địa thủ chiếu, như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Liêm Trinh, Thái Dương, Thái Âm, Tham Lang, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Tả Phụ Hữu Bật… thì chủ nhiều tiền bạc; gặp Kình Dương, Đà La hoặc Liêm Trinh Thất Sát ở đất bình hòa hay hãm địa thì chủ đường tiền bạc bình thường, lúc có lúc không; gặp Thiên Cơ chủ tiền vào tiền ra, có tiền nhưng không giữ được; gặp các hung tinh Hỏa Linh Không Kiếp lại hãm địa thì nghèo khó.
Các sao nếu như gặp Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ thì người dù giàu hay không đều phải kiếm tiền nhờ lao động vất vả.


Sách viết: “Tử Phủ Vũ Âm, Song Lộc chủ tài”. Mặt khác, các sao như Kình Dương, Văn Xương, Tả Phụ. Thất Sát, Thiên Hình, Đà La, Tí Ngọ Phá Quân, Hồng Loan Thiên Hỉ đều có thể coi là tài tinh, nhưng cái tiền tài của Kình Dương luôn không phải là chân chính hoặc 10 năm, hoặc 1 năm, hoặc 1 tháng, hoặc 1 ngày, hoặc 1 giờ. Các sao khác như Đà La, Thất Sát cũng giống như Kình Dương, chỉ chủ tiền bạc đến trong 1 giai đoạn ngắn rồi lại rồi mất, tán tụ bất thường, hoặc hoạch phát rồi hao tốn sạch, hoặc có mà không được hưởng. Cái tiền tài của Tả Phụ, Văn Xương thì kéo dài khá lâu. Tiền tài mà Phá Quân đem lại sau khi vượt qua tất bị hao bại.

Tiền tài của Hồng Hỉ đến nhưng không giữ được, như một mùa hoa nở vậy. Phàm các sao của cung tài bạch, đơn thủ là tốt nhất, sau đó xét đến các sao phụ và cát tinh tam hợp xung chiếu là hoàn mỹ nhất. Nếu như hung tinh thủ chiếu, tiền tài khó tụ, nếu không ắt sẽ sinh thị phi, nặng có thể dẫn đến tai họa. Tiền tài do Cự Môn, Thái Dương, Thiên Lương mang lại, thường do tranh đấu miệng lưỡi mang lại. Ngoài ra nếu như có 2 chính tinh thủ chiếu cung tài bạch cũng vậy. Cô Quả Hình Khắc nhập cung tài bạch, tất chủ tiền đến tiền đi, không còn lại gì.Tiền tài mà Khôi Việt Văn Xương mang lại là gián tiếp, gặp cơ hội tốt thì đẹp, gặp hạn khó khăn thì sẽ đi xuống (hoặc đứng yên). Tiền tài Hỏa Linh mang lại, đến tay thì hóa ra hư không. Nếu chỉ có Linh Tinh thì thiên về tiền tài, được tiền ngoài dự kiến. Sao Đào hoa cũng chỉ tiền tài nhưng chỉ tiền nhờ vào ca múa hát nhảy sân khấu hay sắc đẹp mà có.


Sách viết: Các hung tinh chiếu cung tài bạch, tán tụ bất thường, Lộc Tồn thủ cung Tài thì chủ tích lũy được tiền bạc; Vũ Khúc Tham Lang ở cung tài bạch chủ hoạch phát; Quyền Lộc thủ Tài bạch cung, Phúc cung thì ra ngoài được vinh hoa; Không Kiếp vào Tài Phúc cung thì sinh ra nghèo khó; Nhật Nguyệt vào Tài cung, gia cát tinh, không có quyền lực cũng có tiền bạc; Tử Vi Phụ Bật làm công việc về tài chính; Vũ Khúc, Thái Âm hay đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tiền; Tử Phủ Vũ Khúc cư Tài Bạch, thêm Quyền Lộc càng giàu có.


Người có cung tài bạch xấu nhưng vẫn giàu có, đương nhiên là nhờ cung mệnh, Thiên Di, Quan Lộc cát hóa, sách viết: Nhiều cát tinh, gặp hung cũng hóa cát. Đánh giá sự giàu nghèo của một người không thể chỉ dựa vào duy nhất cung tài bạch mà luận được, ngoài ra còn phải xem đại hạn của người đó nhập cung thế nào rồi mới phán đoán tốt xấu.


Phàm Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Thiên Cơ, Cự Môn, Thiên Lương vào cung tài bạch có hung tinh tọa thủ thì người đó tất hay cờ bạc cá cược, sát tinh nhiều lại gia Không Kiếp Đại Hao thì có thể tay trắng.

Tham Lang độc thủ tại Dần

Nhập đất miếu vượng thì hoạnh phát, có lúc có tiền ngoài dự kiến. Đồng cung với Hỏa Linh, bạo phú, trước 30 tuổi thành bại đều nhiều, sau 30 tuổi thì bắt đầu có tài sản. Tham Lang đồng cung hoặc hội chiếu với Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hỏa Linh thì có số giàu bậc phú hào. Nếu không gặp Lộc Tồn Hóa Lộc Hóa Quyền và Hỏa Linh thì không có hi vọng đại phát. Hãm địa thì nghèo, gia Không Kiếp Hao Kỵ thì nghèo khó thiếu thốn.

Hễ Tham Lam nhập cung tài bạch đều chủ bẩm sinh lãng phí, cả đời tiêu pha không ít, tài vận hay có nhiều thay đổi. Nếu như không có thêm cát tinh, chủ kiếm được tiền rồi lại phải tiêu tốn vào việc khác, tài vận không ổn định, lúc tốt lúc xấu. Đồng độ với Kình Đà Không Kiếp thì hay cờ bạc hoặc vì đầu cơ mà phá sản lớn, gia hội với Đào hoa tinh (Hồng Loan, Thiên Hỉ, Mộc Dục, Thiên Diêu, Liêm Trinh) thì vì sắc đẹp mà hao tài gặp họa, dễ kiếm tiền từ người khác phái hoặc tiền từ vui chơi giải trí, hoặc kinh doanh các ngành có liên quan đến sắc đẹp… Tham Lang Hóa Kỵ, tiền bạc hay bị phá tán, có tranh chấp kiện tụng.

Thường là người kinh doanh, dễ làm các công việc mạo hiểm hoặc đầu tư, hoặc cùng lúc kinh doanh nhiều thứ, hay nhận được sự giúp đỡ của người khác phái về tiền bạc, đồng

cung hoặc gia hội với Tả Hữu Khôi Việt càng rõ. Xương Khúc đồng cung, ngoài hào hoa mà trong thì hư hao, thành bại bất nhất.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Tiền bạc (tài bạch) là tư liệu để nuôi sống, nhất là trong xã hội thương nghiệp, địa vị xã hội của một người đầu như do tiền bạc quyết định, vì vậy việc luận đoán tiền bạc có hay không, và chủ yếu làm nghề nghiệp gì để kiếm tiền, đã trở thành vấn đề khá quan trọng.

       Liên quan đến vấn đề trọn nghề nghiệp gì cho thích hợp, đã được thảo luận khi tường thuật về tổ hợp tinh hệ của cung Mệnh, nên khi nghiên cứu cung Tài bạch, chủ yếu tập trung về thành tố “tài khí” như thế nào, có tiền của dần dần hay phát lên một cách nhanh chóng, sau khi có tiền của thì có giữ được hay không.

       “Tam phương tứ chính” của cung Tài bạch là đối cung Phúc đức, và hai cung tam phương là cung Mệnh và cung Sự nghiệp. Cung Phúc đức chủ về hoạt động tư tưởng và sự hưởng thụ tinh thần. Chuyện cơm áo gạo tiền khiến cho người ta phải lo toan nghĩ ngợi, và tình trạng nghèo hay giầu có thể ảnh hưởng đến tinh thần của một người. Đủ thấy tính chất ảnh hưởng qua lại của cung Phúc đức và cung Tài bạch.

       Đối với cung Mệnh, vận thế của mệnh tạo và cách cục chủ yếu được quyết định từ đây, đương nhiên có liên quan đến “tài bạch”. Mối liên hệ giữa Sự nghiệp và Tài bạch, đương nhiên cũng là then chốt hỗ tương. Cung Mệnh, cung Sự nghiệp, cung Tài bạch hội hợp, đúng là tượng trưng cho “vị thế của lợi lộc”.

       Nếu chỉ đơn thuần dựa vào cung Tài bạch của nguyên cục để luận đoán tiến bạc “được mất”, thường thì chẳng đúng, bởi vì nó chỉ hiện thị những tính chất rất giới hạn. Nếu muốn luận đoán một cách tinh tế và chính xác, nhất định phải xem xét tới cung Tài bạch của đại hạn để luận đoán, sau đó mới có thể biết sự phát triển tài vận của một đời người, còn cung Tài bạch nguyên cục chỉ chủ về xu thế chung của tài vận.

Tham Lang độc thủ tại Dần

Tham Lang thủ cung tài bạch, rất ưa có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đồng độ, chủ về hoạnh phát, hoặc được tiền của bất ngờ.

Tham Lang thủ cung tài bạch cũng ưa Lộc Tồn, Hóa Lộc thủ chiếu, chủ về tài lộc dồi dào.

Nếu gặp sát tinh và có Hàm Trì, Đạo Hao, Thiên Hình, Thiên Diêu, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Âm Sát hội hợp thì vì tranh giành với nhân mà thất bại.

Tham Lang có tứ sát hội chiếu, lại gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, thì vì cờ bạc đầu cơ mạo hiểm mà phá gia, hoặc chủ về nhiều sở thích không lành mạng mà phá tán, thất bại.

Tài Bạch Phi Hóa

Cung Tài Bạch Tự Hóa Lộc

  • Tiền tài dễ tới, đương nhiên cũng là do “tình hình kinh tế thuận tiện” lại không có “khái niệm quản lý tiền tài” mà tiện chi tiêu đi, ít có kế hoạch trù định về tiền tài.
  • Rất thích hợp những việc buôn bán thu tiền mặt mà ngày nào cũng thấy tiền, nhưng cần nghiêm khắc tự thân quản lý tiền tài, có tiền khi có thể thì tích trữ.
  • Gặp Tha cung phi Kị nhập vào (cùng loại tinh diệu “Lộc Kị trở thành Song Kị”), thì là “tiền tài của ta gặp kiếp nạn”, “cấp lại cho người khác”, bị người ta bán đứng mà chẳng biết lại vẫn còn giúp người đếm tiền.

Cung Tài Bạch Phi Hóa Quyền Nhập Cung Tật Ách

  • Tích cực, sức sống, hăng hái, mệt nhọc, thu nhập tốt.
  • Cá tính chủ động, dứt khoát, kháng áp tính.
  • Tốt nhất là kỹ thuật nặng.
  • Cách cục tốt thu nhập cao, lương cao chức cao, cũng có thể gây dựng sự nghiệp.

Cung Tài Bạch Tự Hóa Khoa

  • Hợp với đi làm công ăn lương hoặc buôn bán nhỏ kiểu nước chảy nhỏ thì dòng được kéo dài.
  • Đề phòng kế hoạch quản lý tài chính thiếu chu toàn, tuy là quay vòng dễ dàng nhưng cũng tăng thêm không ít phiền toán (các khoản tiểu ngạch điều tiết dễ dàng).

Cung Tài Bạch Phi Hóa Kị Nhập Cung Tử Nữ

  • Yêu con cái, tổn tài.
  • Lậu tài bất súc, có tiền mà không giữ được, thối bại không giỏi quản lý tài sản, cuộc sống nhiều phập phồng (xung khố).

 

(6) Tật Ách Cung

Thái Âm và Thái Dương đồng cung tại Sửu

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung tật ách có cát tinh tọa thủ, như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Văn Xương, Tả Phụ, Hữu Bật… chủ ít tai bệnh; hội Kình Dương, Đà La, Thất Sát chủ cơ thể bị thương, phá tướng; hội Tứ sát, chủ khi nhỏ lắm tai bệnh, nguy hiểm.


Các cát tinh thủ chiếu cung tật ách, đều chủ ít tao họa, nếu hội Tứ sát Không Kiếp hình kỵ tử tuyệt thì đa phần chủ bệnh tật thường xuyên.


Cung tật ách ngoài chủ bệnh tật ra, còn chủ tai ách, nhiều cát tinh thì một đời ít tai họa, sát tinh nhiều thì khó tránh tai họa.


Luận về tình trạng sức khỏe và bệnh tật của một người, cần phải xem sự hung cát miếu hãm của tinh diệu ở mệnh thân cung, hội Tứ sát Không Kiếp kỵ thủ chiếu như thế nào, rồi lại xem sự tốt xấu của các sao cung tật ách, miếu vượng lạc hãm ra sao, và sự cát hung của cung phụ mẫu, tổng hợp mới có thể đưa ra luận đoán đại khái mà không sai lầm.


Mệnh có cát tinh miếu vượng tọa thủ, tam phương tứ chính có nhiều cát tinh mà không có hung tinh, dù cung tật ách nhiều hung tinh cũng không đáng lo, cũng không được cho rằng sức khỏe người này không tốt, hoặc dù có bệnh một thời gian nào đó cũng sẽ nhanh chóng được chữa trị; nếu mệnh cung nhiều hung tinh, tam phương tứ chính ít cát tinh, dù cung tật ách có cát tinh tọa thủ, cũng có thể cho rằng sức khỏe người này rất tốt, nếu cung tật ách nhiều hung tinh, thì người này có thể một đời lắm bệnh tật tai họa, hoặc có bệnh mãn tính khó chữa.


Con người ta có thất tình lục dục, ăn 5 loại ngũ cốc, thêm vào đó là sự thay đổi khí hậu, bất lợi của môi trường, làm sao có thể không bệnh tật? Với y học tiên tiến ngày nay, không thể hoàn toàn dựa vào những kiến thúc thuật số để chẩn bệnh, đây chỉ là một cách tham khảo mà thôi. Ngoài các bệnh tật của người ra, còn có những đạo lý khác ngoài y học ở bên trong, tạm thời không trình bày ở đây.

Thái Âm và Thái Dương đồng cung tại Sửu

Thái Dương chủ bệnh tim, mắt, ruột, hô hấp, miếu vượng thì bệnh nhẹ, như bệnh phong hàn, hãm địa hoặc hội Kình Đà, tật về mắt. Có bệnh cao huyết áp, váng đầu, hoa mắt hay trong mắt có vệt máu, gan hỏa vượng, đau đầu, đại tràng khô, lở loét tiểu ra máu, tai ù…

Thái Âm chủ về dễ mắc bệnh về thận, cơ quan tiết niệu sinh dục, lưng bụng. Khuyết âm, bệnh kiết lỵ, tiêu chảy, cổ trướng, phù nề, nấm tay chân, tỳ vị, ruột non. Cũng vì thận tạng mà không khỏe mạnh, thường dẫn đến hoa mắt váng đầu. Nữ giới bị bệnh phụ khoa. Thái Âm chủ bệnh về thận, cơ quan sinh dục, tiết niệu, thắt lưng và hạ bộ.

Trạng thái bệnh: đau thắt lưng, đau bụng, cổ họng khô, ho khan, tứ chi không có sức, xuất tinh sớm, tiểu nhiều, tưa lưỡi nhiều, sinh lý không ổn định, lạnh bụng, thị lực suy giảm.

Thái Dương Thái Âm ở sửu mùi, hội Tứ sát thì tật ở mắt, hội Không Kiếp bệnh về tinh thần, bệnh uốn ván.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

“Tam phương tứ chính” của cung Tai ách là cung Phụ mẫu, cung Huynh đệ và cung Điền trạch. Tổ hợp tinh hệ này là do trong chế độ đại gia đình, bệnh tật rất dễ lây nhiễm, thêm vào đó ở xã hội phong kiến cổ đại, thành viên của gia tộc mà phạm tội, thường thường có thể liên lụy đến người thân, vì vậy tổ hợp “tam phương tứ chính” này có một ý nghĩa đặc thù.

       Hoàn cảnh xã hội diện đại tuy đã biến đổi, nhưng cung Tật ách đối xung với cung Phụ mẫu dùng để xem bệnh di truyền, và hội phương với cung Điền trạch để xem trạng thái sức khỏe của các thành viên trong gia đình. Thậm chí quan sát các sao thủ các cung hội hợp với cung Huynh đệ để xem “đời người” có hung ách hay không, theo kinh nghiệm của phái Trung Châu mà Vương Đình Chi đại diện thì vẫn hữu hiệu.

       Cung Tai ách chủ về bệnh tật và tai ách. Nhưng liên quan đến vấn đề tai ách có xảy ra hay không, cung Tai ách thực ra chỉ có thể dùng để tham khảo. Bởi vì khi luận đoán tai ách, thường thường phải phối hợp thêm tinh hệ của cung Mệnh, hơn là dùng trực tiếp tinh hệ của cung Tai ách. Còn đối với việc luận đoán bệnh tật, thì nên xem xét cả tinh hệ của cung Mệnh lẫn tinh hệ của cung Tai ách, hai cung đều quan trong ngang nhau. Ví dụ như “Liêm trinh Thất sát” thông thường chủ về bệnh đường hô hấp, nếu cung Tai ách gặp tinh hệ này thì đương nhiên có ý nghĩa này, nhưng nếu cung Tật ách gặp sao Ác, mà cung Mệnh là “Liêm trinh Thất sát”, thì cũng chủ về đường hô hấp.

       Có lúc thậm chí phải lấy tinh hệ của cung Mệnh và tinh hệ của cung Tai ách phối hợp lại để luận đoán một loại bệnh tật. Ví dụ cung Tật ách gặp “Liêm trinh Thất sát”, có Sát tinh hội chiếu, cung Mệnh gặp Hồng loan và Thiên hỷ, theo luận giải của Vương Đình Chi có thể phát hen suyễn, hoặc tạm thời không phát tác, đến khi cung Mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Hồng loan, Thiên Hỷ, lại có thêm lưu Sát tinh xung hội thì mới phát bệnh.

       Thí dụ kể trên có thể biết, dựa vào các sao để luận đoán tật bệnh là rất khó. Trung Châu phái chỉ trình bầy một số kinh nghiệm bí truyền và nghiên cứu của Vương Đình Chi về tính chất các tinh hệ trong vấn đề bệnh tật và tai ách, khi nghiên cứu nên vận dụng linh hoạt, không nên quá câu nệ. Có lúc phải mang các sao của cung Mệnh và cung Tai ách, cùng với các sao hội hợp ở tam phương tứ chính ra đồng thời tham chiếu, thậm chí còn phải mang “Lưu diệu” của đại hạn hoặc lưu niên ra phối hợp để luận đoán, mới có thể chính xác.

       Ví dụ trường hợp xem bệnh ung thư vòm họng, tinh hệ chủ yếu vẫn là “Liêm trinh Thất sát”, hành vận đến cung hạn Thiên đồng và Cự môn đối nhau, nếu đại hạn có các sao Sát Kị cùng chiếu, mà còn gặp Long trì đồng độ hoặc xung chiếu cung Mệnh, còn “Liêm trinh Thất sát” lại hội hợp với Hỏa tinh Linh tinh, hoặc Thiên hình, thì trong đại hạn này sẽ phát bệnh. Lấy trường hợp này làm ví dụ, để người nghiên cứu có thể thấy được phần nào phép tắc luận đoán bệnh tật.

       Dùng Đẩu Số luận bệnh tật hoàn toàn lấy nguyên lý Âm Dương Ngũ hành của Đông y làm căn cứ, cho nên rất khó luận đoán kết hợp với tên gọi các bệnh theo Y học hiện đại.

Thái Âm và Thái Dương đồng cung tại Sửu

Thái Âm và Thái Dương đồng cung, có các sao sát tinh kỵ hội hợp, để phòng đau hông sườn, bệnh tim mạch, gặp thêm Thiên Hình, Thiên Thương, Địa Không, Địa Kiếp, thì dễ mắc bệnh uốn ván.

Cung Tật Ách Phi Hóa

Cung Tật Ách Phi Hóa Lộc Nhập Cung Thiên Di

  • Tính tình hiền lành dễ ở chung.
  • Dễ dàng mập ra nhưng ít bệnh lâu hành hạ.
  • Bệnh nhẹ, bệnh nặng cũng gặp lương y cứu chữa.
  • Không tích cực, ưu du tự tại, tùy theo hoàn cảnh, ý trí dễ dàng ngả nghiêng.
  • Hoàn cảnh làm việc tốt.

Cung Tật Ách Phi Hóa Quyền Nhập Cung Tài Bạch

  • Bán khổ cực, tiền khổ cực, thu nhập kiểu vất vả.
  • Càng luyện thể thao thân thể càng khỏe.
  • Phòng bị thương, tai nạn nghề nghiệp.
  • Trọng vật chất sinh hoạt.

Cung Tật Ách Phi Hóa Khoa Nhập Cung Huynh Đệ

  • Dưỡng sinh, giữ sức khỏe.

Cung Tật Ách Phi Hóa Kị Nhập Cung Phúc Đức

  • Hoàn cảnh sinh hoạt khẩn trương áp lực.
  • Bệnh lâu trầm kha, cả người tiều tụy.
  • Tâm tình không sáng sủa.

 

(7) Thiên Di Cung

Vũ Khúc và Thiên Phủ đồng cung tại Tý

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung thiên di có cát tinh miếu vượng tọa thủ như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Thiên Cơ, Thái Dương, Thái Âm, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc… thì ra ngoài được lợi; gặp Liêm Trinh, Cự Môn, Vũ Khúc, Phá Quân, Thất Sát, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kỵ, nếu lại hãm địa thì chủ ra ngoài hay gặp thị phi, không thuận lợi.


Nếu như gặp các sát tinh Tứ sát Không Kiếp hình kỵ thì chủ gặp thị phi, trong lòng bất an hoặc thất bại trùng trùng, không được như ý.
Mệnh cung không có 14 chính tinh thì phải xem cung thiên di như cung mệnh, dùng thêm tam hợp cung mệnh để luận về đại cục cả đời.

Vũ Khúc và Thiên Phủ đồng cung tại Tý

Ở ngoài lao tâm lao lực, cả đời hay thay đổi, ít khi được yên bình, vì tiền tài, sự nghiệp của cá nhân mà bôn ba khắp nơi, lập thân nơi huyên náo ồn ào. Được cát tinh thủ chiếu thì ở ngoài phát tài, hội cát tinh Khoa Quyền Lộc thì kinh doanh đại phú, gia Tứ sát Không Kiếp nhiều khó khăn, không được bình an, hay đổ vỡ hao hụt.

Vũ Khúc Thiên Phủ cư tý ngọ, gia Lộc Tồn cát hóa chủ đại phát, lợi cho việc kinh doanh, có thể thành thương gia cự phách. Gặp Kình Dương Hỏa Linh chủ hương, có họa ở ngoài.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Trong Đẩu Số, cung Thiên di dùng để luận đoán về vấn đề từ nơi sinh ra dời đến nơi khác để ở, đồng thời cũng có thể dùng để luận đoán tình trạng xuất ngoại để kinh doanh. Cung Thiên di của lưu niên, cũng luận đoán về những tao ngộ khi đi đâu xa, như có vui vẻ hay không? có bị trộm cướp hay không? có gặp điều gì bất ngờ hay không?

       Do cung Thiên di và cung Mệnh xung chiếu nhau, vì vậy các sao của cung Di cũng ảnh hưởng đến tính cách của mệnh tạo, đặc biệt là về năng lực xã giao, quan hệ giao tế, .v.v…

       Cung Di tương hội với cung Phúc, nên sự hưởng thụ tinh thần của một người đúng là có liên quan với quan hệ giao tế và hoạt động xã giao củ người đó. Còn việc đi ở nơi khác đem lại kết quả tốt hay xấu, đương nhiên có thể căn cứ phần nào vào tinh trạng hưởng thụ tinh thần mà luận đoán.

       Cung Di tương hội với cung Phu thê là rất hợp lý, bởi vì cho dù ở thời cổ đại, một người rời đại gia đình để phát triển hoặc vẫn ở quê hương sinh sống làm ăn, đương nhiên cũng có quan hệ với sinh hoạt vợ chồng. Các mối quan hệ xã giao cũng không thể không bị ảnh hưởng của người phối ngẫu. Đối với việc mang gia đinh đi nơi khác lập nghiệp thì càng có quan hệ mật thiết với người phối ngẫu.

       Do đó có thể thấy, tổ hợp các sao ở cung Di trong Đẩu Số là rất quan trọng, thậm chí có thể nói chỉ kém hơn cung Mệnh và cung Thân. Hơn nữa khi luận đoán xu thế mệnh vận của một người, có một điểm cần biết, đó là khi một người rời nơi sinh ra, đến nơi khác để ở, xu thế vận mệnh của năm đầu tiên, là do cung Di quyết định, mà không phải do cung Mệnh quyết định. Do đó cần phải lấy cung Di làm cung Mệnh để xem xét, các cung vị khác vẫn không thay đổi.

       Giả dụ một người không ngừng di chuyển (như thuyền viên, phi công, .v.v…), không ở cố định một nơi nào, cũng phải lấy cung Di làm cung Mệnh để luận đoán.

Vũ Khúc và Thiên Phủ đồng cung tại Tý

Vũ Khúc thủ cung thiên di, trong tình huống thông thường thì bất lợi về đi xa hoặc không nên dời đi nơi khác ở. Vì Vũ Khúc là sao chủ về tiền bạc, nên tĩnh không nên động.

Vũ Khúc và Thiên Phủ đồng độ, chủ về đi xa phát tài, trở nên giàu có, xuất ngoại càng tốt. Nhưng nếu gặp Đà La, Hỏa Tinh, Âm Sát thì nên đề phòng bị tiểu nhân âm mưu; nếu gặp Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp thì vì âm mưu mà xảy ra tai nạn bệnh tật, nếu gặp Kình Dương chủ về bị kiện tụng, phạm pháp.

Cung Thiên Di Phi Hóa

Cung Thiên Di Phi Hóa Lộc Nhập Cung Tài Bạch

  • Tế ngộ cơ hội tốt, dễ dàng dựa thế, tám phương tài tới.
  • Tài nguyên tiến rộng, kiếm tiền dễ dàng, xuất ngoại kiếm tiền.
  • Vận dụng tài nguyên xã hội, quảng cáo, có thể khai sáng tài lộ thu nhập.
  • Trên trời ban xuống hoàng phúc (tài,thọ) chuyện lớn hóa nhỏ, gặp nạn có tường.
  • Thích hợp hoa hồng tiền lương, nghiệp vụ công tác.
  • Thích hợp du lịch, hưu nhàn sản nghiệp, cũng có thể xử lý tinh thần, tâm linh, tôn giáo các loại công việc.
  • Phối ngẫu thu nhập tốt, tay nắm thuận lợi.

Cung Thiên Di Phi Hóa Quyền Nhập Cung Tật Ách

  • Hoàn cảnh làm việc công tác thường khẩn trương. Phí sức lực hoặc liên tục hoạt động.
  • Họa lực, tinh thần phấn chấn, thân thể sức khỏe, có tính chịu đựng cao.
  • Nhưng phòng bất ngờ bị thương, lao lực nội thương.

Cung Thiên Di Phi Hóa Khoa Nhập Cung Tài Bạch

  • Tích lũy nhỏ giọt, không tiêu vô bổ, thường đi làm hưởng lương.

Cung Thiên Di Phi Hóa Kị Nhập Cung Tử Nữ

  • Trước mặt vãn bối hình ảnh không tốt, đối với con cái dạy dỗ không tốt hoặc ( không quan tâm ).
  • Bôn ba dịch mã, chạy ngược chạy xuôi ( phòng lao lực mà không ăn thua ).
  • Dễ lạc đường, phòng bất ngờ thương tổn, thị phi tai họa bất ngờ.
  • Tăng cường tu dưỡng, việc nhỏ thiểu lý, không xen vào chuyên người khác để tránh thị phi không đáng có.
  • Phòng khi về già khó vui vẻ, vãn vận còn sợ phải tự bảo vệ sức khỏe ( tử nữ-phúc đức đích 1 6 cộng tông ).

 

(8) Nô Bộc Cung

Thiên Đồng độc thủ tại Hợi

Sách Tử Vi Đại Toàn

Các sao thủ tại cung nô bộc nếu gặp tứ sát, Không Kiếp, thiên hình, hóa kỵ, đại hao, âm sát miếu vượng thì số lượng giảm bớt, bình hòa lạc hãm thì chủ bị phản bội hãm hại.

Thiên Đồng độc thủ tại Hợi

Thiên Đồng miếu vượng, được bạn bè và cấp dưới thuận theo phục tùng, giúp đỡ, nhiều cát tinh thì đắc lực, hòa thuận, quan hệ xã giao tốt đẹp, có thể có bạn bè ở nhiều phương diện. Thiên Đồng hãm địa thì không tốt. Hội Kình Đà, lúc tụ lúc tán, cũng nhọc lòng vì bạn bè hay bị liên lụy, bị kẻ dưới quyền bất nghĩa hãm hại.

Hội Hỏa Linh, vì bạn mà phiền não. Hội Không Kiếp, bị phản bội thất bại, hội Đại Hao thì vì bạn mà phá tài.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Cung Giao hữu cổ nhân gọi là cung Nô bộc. Trong xã hội cổ đại, “nô bộc” là thành viên của gia đình. Một đời làm “nô bộc”, đời đời là “nô bộc”, cho nên sự tốt xấu của cung Nô bộc đúng là có liên quan đến sự thịnh suy của gia tộc. Vì vậy các nhà Đẩu Số cổ đại khi luận đoán khá xem trọng “nô bộc” có lực hay không? nô bộc nhiều hay ít? có phản chủ không? có giúp đỡ chủ không? mức độ trợ lực cho chủ là cao hay thấp?

       Ngày nay, cung Nô bộc đổi thành cung Giao hữu là một sự cách tân rất lớn. Về mặt lý luận, ngày nay đã không còn mối quan hệ chủ tớ như ngày xưa, dó đó về căn bản, không cần nhìn từ “nô bộc” để suy diễn ra vận mệnh của một gia tộc. Nhưng sự tốt xấu của các mối quan hệ giao tế là rất quan trọng đối với người hiện đại, việc sửa đổi thành cung Giao hữu đúng là đã mang lại cho khoa Đẩu Số cổ xưa một hàm nghĩa mới.

       Có lẽ, nhiều người sẽ hoài nghi rằng: “Cổ nhân truyền lại pháp môn này, sao có thể tùy tiện sửa đổi?” Thực ra Đẩu Số là đời đời tương truyền, đã luôn luôn biến động thay đổi, từ “Thập bát phi tinh” phát triển thành “Tử Vi Đẩu Số” chính là một biến động thay đổi cực lớn. Về sau, từ thời Nam Tống cho đến Minh Thanh, đời nào cũng có người truyền lại không ít khẩu quyết khá hữu dụng, đó cũng là sự biến đổi cách tân trong Đẩu Số. Vì vậy vấn đề không phải ở chỗ có nên thay đổi hay không, mà là những thay đổi cách tân đó có hợp lý hay không?

       Thử xét tam phương tứ chính của cung Nô bộc, đối cung là cung Huynh đệ, cung hội hợp là cung Phụ mẫu và cung Tử tức, đây rõ ràng là một tổ hợp tổ tông ba đời và nô bộc, cũng tức là một mô thức điển hình của gia tộc cổ xưa.

       Ngày nay lấy tính chất “nô bộc” biến đổi thành tính chất “quan hệ giao tế”. Theo phái Trung Châu, cũng lấy cung Huynh đệ xem là quan hệ với người ngang vai. Lấy cung Phụ mẫu xem là quan hệ với bậc trưởng bối. Lấy cung Tử tức xem là quan hệ với những người thuộc vãn bối. Các sao của ba cung vị này hội chiếu với cung Giao hữu, vì vậy sẽ phản ảnh các mối quan hệ giao tế một cách chỉnh thể.

       Lúc luận đoán Đẩu Số, khi lấy cung Giao hữu dùng để luận đoán về mối quan hệ với nhân viên làm thuê hoặc người dưới quyền, cũng cần đồng thời lấy “Phụ mẫu”xem là ông chủ, thượng cấp, hoặc bậc tiền bối trong nghề nghiệp của mệnh tạo, lấy “Tử tức” xem là trợ thủ trực thuộc, hoặc những người thuộc lớp vãn bối trong nghề nghiệp của mệnh tạo, và lấy “Huynh đệ” xem thành nhưng người ngang vai với mệnh tạo, còn cung Giao hữu là một phản ánh chung.

       Người mới bắt đầu tiếp cận với Đẩu số thường mắc phải một bệnh, đó là không quan sát toàn diện các sao của các cung có liên quan. Lấy việc không quan sát các sao của cung “nô bộc” làm ví dụ, cổ nhân lấy cung Phụ mẫu và cung Nô bộc có quan hệ hỗ tương như thế nào, từ đó có thể biểu thị tình trạng “nô bộc” của đời “phụ mẫu”. Nếu cũng lấy cung Huynh đệ và cung Tử tức ra quan sát, xem xét mối quan hệ hỗ tương của chúng với cung Nô bộc, thì có thể biết được tình trạng “nô bộc” ba đời.

       Ngày nay quan sát cung Giao hữu cũng có thể dùng biện pháp như vậy. Nếu lấy cung Phụ mẫu và cung Giao hữu ra so sánh, đồng thời tiến hành nghiên cứu mối quan hệ của chúng, thì có thể nhìn ra mối quan hệ của thượng cấp và người dưới quyền của mệnh tạo.

       Ví dụ như cung Phụ mẫu có Thiên lương độc tọa ở Ngọ, cung Giao hữu có Thiên đồng độc tọa ở Tuất, còn cung Huynh đệ là Cự môn ở Thìn có Sát tinh chiếu xạ, thế là chúng ta có một giả định tốt nhất là: thượng cấp là một người rất thích soi bói, bới lông tìm vết, trong đồng sự có người ưa đâm bị thóc chọc bị gạo, vì vậy mà bản thân mệnh tạo thường bị ở vào tình trạng lúng túng, khó xử về quan hệ giao tế ở nơi làm việc, có thể sẽ bị lôi kéo vào vòng tranh chấp, bất hòa. Điềm này có thể nhìn ra từ tính chất của Thiên đồng ở cung Tuất.

       Nhưng nếu Thiên lương có hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa hội hợp, thì tính chất của Thiên lương sẽ biến thành cao thượng, độ lượng, Thiên đồng thủ cung Giao hữu cũng sẽ bị ảnh hưởng của “Lộc Quyền Khoa hội” mà được cải thiện.

       Trung Châu phái đưa ra phương pháp luận đoán này, có thể giúp cho người mới nghiên cứu Đẩu Số tìm ra tình trạng quan hệ nhân tế của mỗi giai đoạn trong cuộc đời một người khá rõ ràng.

Thiên Đồng độc thủ tại Hợi

Thiên Đồng thủ cung giao hữu, chủ về giao du rộng mà không câu nệ người ở tầng lớp nào. Nếu gặp đủ Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, càng chủ về giao du khắc ngũ hồ tứ hải. Về phương diện người dưới quyền, cũng chủ về nhiều mà còn đắc lực.

Cung Nô Bộc Phi Hóa

Cung Nô Bộc Phi Hóa Lộc Nhập Cung Tật Ách

  • Dễ kết thân, cùng người thân cận, dễ ở chung.
  • Có nhiều nhân duyên, cùng người khác vui vẻ.
  • Dễ lui tới bạn bè có cá tính ôn hòa.
  • Khác phải còn phòng quấn quýt nhau mà sát thương tẩu hỏa.
  • Có thể theo sự quần áo trang sức, tinh phẩm cà phê, nghệ thuật uống trà, ẩm thực, hưu nhàn.

Cung Nô Bộc Tự Hóa Quyền

  • Bạn bè đa số là ưa thể hiện, thích khoe, bành trướng. Ngưu tầm ngưu mã tầm mã, đa số đều chẳng phải kẻ chí tình chí nghĩa.
  • Đề phòng bạn bè đều là kẻ hư vinh, kiêu ngạo, tất nhiên sẽ tan đàn xẻ nghé.

Cung Nô Bộc Phi Hóa Khoa Nhập Cung Tử Nữ

  • Con cái dễ gặp được thầy giỏi bạn hiền.

Cung Nô Bộc Phi Hóa Kị Nhập Cung Tử Nữ

  • Đề phòng con cái bắt chước làm việc xấu.
  • Cha mẹ nên chú ý đến sự giao du của bản thân, làm tấm gương tốt cho con cái noi theo.
  • Đề phòng bạn bè có tính háo sắc (có các sao đào hoa).
  • Bạn bè không được lâu bền hoặc người tri kỷ ít được gặp gỡ.
  • Người phối ngẫu với con cái không thân thiết (vì cung Nô Bộc chính là cung Tật Ách của cung Phu Thê, mà nó lại hóa Kị nhập cung Tử Tức).
  • Bớt hùn vốn với người ta thì tốt, đề phòng người cùng hùn hạp có tư lợi.

 

(9) Quan Lộc Cung

Phá Quân độc thủ tại Tuất

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung quan lộc có cát tinh miếu vượng địa tọa thủ, như gặp Tả Phù, Hữu Bật và Tử Vi đồng cung, hoặc Tử Vi Hóa Quyền, ắt là nhân vật quan chức cao quý, nếu như cùng lúc có Không Vong Ác Sát tinh thủ, chỉ là chức vị hư huyền, ngoài thì hào hoa mà trong thì hư. Nếu như có Văn Xương, Văn Khúc nhập miếu (cung Tị, Dậu, Sửu) thủ Quan Lộc thì chắc chắn quyền quý. Nếu như đồng thời có hung sát tinh cùng cung, phải phòng quan lộ không thuận sướng, trong cái tốt tiềm ẩn cái xấu. Xương Khúc nhập Quan Lộc chủ điềm cát, thường thuộc hàng quyền quý văn chức, nếu như có Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng và các sao tốt, lại gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền thì đại quý. Cung quan lộc có các sao Vũ Khúc, Tử Vi, Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Tả Phù, Hữu Bật thủ chiếu, chủ võ quý, trong quân đội nắm được quyền lớn. Cung quan lộc có cát tinh tọa thủ, cung mệnh tam phương đồng thời có sát, cát, hung tinh thì tốt xấu không đều, nhưng vẫn không làm mất đi cục, nhiều vị là quan lại địa phương, cán bộ cơ tầng, cận kề danh tiếng, theo đuổi thương nghiệp cũng có thể làm một ông chủ nhỏ, nhưng cuối cùng khó thành tựu lớn.


Các sao ở cung quan lộc, nếu như gặp ác tinh như Tứ sát Không Kiếp, người quyền quý đường quan lộc sẽ bị hạn chế, hoặc thành bại đa đoan. Phải xem miếu vượng lợi hãm và cát tinh nhiều ít ra sao, thì mới có thể biết được người đó sự nghiệp lớn hay nhỏ, thông thuận hay không.

Phá Quân độc thủ tại Tuất

Cách cục khai sáng. Một đời sự nghiệp thăng trầm, gian khổ, chắc chắn không thuận lợi. Hợp những công việc mạo hiểm, công nghiệp, thương nghiệp. Nhập Miếu có Võ chức lớn, được nhiều cát tinh thủ chiếu thì phú quý không ít. Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa cùng chiếu thì là trọng thần quốc gia. Đồng cung hội chiếu với Tả Hữu, Khôi Việt thì có năng lực quản trị, kinh doanh hay làm công đều được, phú quý song toàn. Nếu cát tinh

ít thì không quý, chỉ là nhân viên bình thường, hoặc làm kinh doanh cá thể. Đồng cung Văn Xương, Văn Khúc, sự nghiệp vất vả không thuận lợi.

Đồng cung với Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hóa Kỵ thì chủ vất vả, trở ngại, thị phi, phá bại, đa mưu mà ít khi thành, sự nghiệp nhất định gặp phải nhiều lần thất bại lớn, kỵ đầu tư mạo hiểm, hợp kĩ nghệ lập thân. Cung mệnh nếu không có thêm Cát tinh, cung quan lộc Phá Quân đồng cung với Kình Đà thì là người nợ nần, đi khắp nơi xin xỏ, làm gì cũng không thành.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Cung Sự nghiệp cổ nhân gọi là cung Quan lộc, đó là vì ở thời cổ đại địa vị xã hội của những người trong giới “công”, “thương”, “nông”, đều rất thấp, chỉ có học hành để ra làm quan mới là con đường tốt nhất.

       Cho nên trong tinh bàn Tử vi Đẩu Số, cung Quan lộc và cung Phu thê phải đối nhau. Đó là vì Quan lộc sự nghiệp của một người có thể ảnh hưởng đến địa vị của vợ con.

       Ngày nay xã hội đã hoàn toàn khác, địa vị của giới doanh nhân rất cao, tất cả đều coi trọng tiền bạc, có thể nói mọi con đường đều quy tụ về tiền. Học hành để ra làm quan không còn là con đường lý tưởng duy nhất. Người đàn ông thường lấy sự nghiệp làm trọng, vì vậy “cung Quan lộc” được các nhà Đẩu Số hiện đại đổi lại cách gọi tên, được gọi là cung Sự nghiệp. Mà cung Sự nghiệp và cung Phu thê xung chiếu nhau, cũng có nghĩa là xem sự nghiệp và gia đình mâu thuẫn nhau. Vì vậy cần quan sát các sao của hai cung này xem có điều hòa hay không.

       Trong bối cảnh như vậy, cổ nhân đã định ra một số nguyên tắc luận đoán “cung Quan lộc” có thể nói là không còn hợp thời. Ví như “Thái dương nhập miếu được Cát tinh vây chiếu là quan nhất phẩm đương triều” (Thái dương nhập miếu đắc cát củng, nhất phẩm đương triều), “Thiên đồng nhập miếu, chức quan văn võ tam phẩm” (Thiên đồng nhập miếu, văn vũ tam phẩm chi chức), “Phá quân ở cung nhàn nên làm nghề thủ công, gặp Cát tinh thì có thể mua chức quan” (Phá quân nhàn cung nghi thủ nghệ, kiến cát tắc khả quyên ban). Tất cả những luận đoán này, ít nhiều đã lỗi thời ở thời hiện đại.

       Nói một cách thẳng thắn, chúng ta có thể biết tính chất tổ hợp các sao phù hợp với nghề gì, nhưng lại không thể dựa vào các sao mà nói ra nghề nghiệp cụ thể của nó. Ngoài ra, khi phán đoán nghề nghiệp của một người, còn phải tham khảo các sao của cung Mệnh và cung Phúc đức, điểm này cần chú ý.

      Liên quan đến vận thế sự nghiệp cuộc đời của một người, cũng không nên chỉ căn cứ ở cung Sự nghiệp nguyên cục để luận đoán, mà còn cần phải quan sát sự di chuyển của đại hạn và lưu niên, căn cứ vào cung Sự nghiệp của hành hạn, để nghiên cứu một cách tỷ mỉ, thêm vào đó là phối hợp “Lưu diệu”, xem vận thế nghề nghiệp thuận hay nghịch như thế nào, tự nhiên có thể đưa ra phán đoán chính xác hơn.

Phá Quân độc thủ tại Tuất

Phá Quân nhập miếu thủ cung sự nghiệp, thích hợp làm công việc quản lí hoặc kinh doanh công xưởng, hoặc theo võ nghiệp.

Phá Quan nếu có Lộc, Quyền, Khoa hội hợp, là người có quyền uy trong võ nghiệp, cổ nhân gọi là “Uy trấn Hoa Di”.

Phá Quân thủ cung sự nghiệp, không thích hợp kinh doanh, nếu không ắt sẽ gặp sóng gió, trắc trở, dù có cát tinh hội hợp, cũng lúc thành lúc bại, lên xuống vô thường. Có điều, nếu Phá Quân Hóa Lộc, hoặc có Lộc Tồn đồng độ, thì chủ về có tính cương nghị hơn người, một lần thất bại là một lần đứng lên; có sao cát hội chiếu thì cuối cùng cũng thành tựu; nếu không có sao cát, thì áp lực rất nặng, lại gặp Địa Không, Địa Kiệp, thì trong cuộc đời ắt sẽ có một lần vỡ nợ, sập tiệm hoặc phá sản. Nếu theo ngành công nghiệp, có thể dựa vào sản phẩm mới hoán chuyển nguy cơ.

Phá Quân thủ cung sự nghiệp, tuyệt đối không được đầu cơ, nếu không ắt sẽ thất bại.

Phá Quân cũng thích hợp ngành giao thông vận tải, gặp Lộc Tồn, Thiên Mã thì càng tốt.

Cung Quan Lộc Phi Hóa

Cung Quan Lộc Phi Hóa Lộc Nhập Cung Nô Bộc

  • Nhân duyên tốt, nhận ân huệ người khác, người khác che chở cho, chức vụ vui vẻ.
  • Cần nhân khí sự nghiệp kinh doanh, nên ở nơi phố thị hoặc tiếng đồn tốt, có thể thụ hậu phục vụ.
  • Thích hợp buôn lớn bán to, trực tiêu hoặc chuyên nghiệp, chuyên kỹ cùng loại buôn bán sinh ý.

Cung Quan Lộc Phi Hóa Quyền Nhập Cung Tử Nữ

  • Thành tựu tài bồi tử nữ.
  • Công tác hợp tác trợ giúp nhau.
  • Dạy dỗ trẻ nít chuyên nghiệp công tác.

Cung Quan Lộc Phi Hóa Khoa Nhập Cung Mệnh

  • Bình ổn, bình an, vững vàng, ổn định.
  • Được nhiều sự trợ giúp của quý nhân.

Cung Quan Lộc Phi Hóa Kị Nhập Cung Tài Bạch

  • Chỉ thích hợp với những việc buôn bán nhỏ mà lợi nhuận ít. Cách cục tốt cũng phải trải qua nhiều vất vả mới thu được tiền tài.
  • Đề phòng những chuyện đầu tư khó thu hồi vốn, không thể ôm hàng đọng vốn.
  • Hợp nhất với đi làm công ăn lương, an ổn.

 

(10) Điền Trạch Cung

Vô Chính Diệu ( Mượn Sao An Cung )

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung Điền Trạch thích các cát tinh miếu vượng thủ chiếu như Tử Vi, Thiên Phủ, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Thiên Tướng, Thái Âm, Thiên Lương, Phụ Bật, Lộc Tồn nên nhiều nhà đất, Điền Trạch vượng. Có Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Lộc Tồn thì đại vượng. Nếu gặp Kình Đà Hỏa Linh Kiếp Không thì chủ phá bại, hầu như không có. Nhiều cát tinh mà ít hung tinh thì không những có thể hưởng tổ nghiệp mà còn tốt. Hung tinh nhiều mà không có cát tinh thì không được hưởng tổ nghiệp, càng không có nhà cho riêng mình, nếu có thì tất sẽ bán, chủ phá bại. Cát hung đều có thì chủ Điền Trạch thăng trầm bất nhất, trung niên trở ra có thể có nhà ở.
Các cung nếu như có Tứ sát Không Kiếp Hao Kỵ thì giảm tổ nghiệp, hoặc thăng trầm khó có phần, tự lập nhà khó khăn, hoặc hoàn toàn không có nhà cửa.


Vì cung Điền Trạch có thể biết nơi ở có thuận lợi không, môi trường xung quanh thế nào, ở nơi như thế nào, nhà cửa nhiều hay ít, mua bán nhà đất tốt xấu ra sao, và có thể hưởng nhà cửa của tổ tiên không, đồng thời, cũng có thể thấy được nơi làm việc, văn phòng, cơ quan. Cung Điền Trạch ở nguyên mệnh bàn luận về tình hình tổng thể một đời, còn từng năm trong cung Điền Trạch thì chỉ luận về Điền Trạch năm đó, tình hình mua bán nhà đất hoặc môi trường công việc tốt hay xấu, chứ không thể vượt qua phạm vi tốt xấu mà nguyên mệnh bàn đã định.


Nếu như Mệnh thành cách có phú quý mà nếu cung Điền Trạch có nhiều sao xấu thì như vết nứt trên viên ngọc …. Nếu như Mệnh có các sao xấu thủ chiếu thì nghèo khó, dù cung Điền Trạch có tốt thì cũng chỉ tăng may mắn thuận lợi chứ không có tác dụng gì nhiều.
Điểm này phải xét thấy các cung khác kém thì mới đúng.


Cung Điền Trạch có nhiều cát tinh thì nhiều khách khứa, quan hệ với hàng xóm láng giềng tốt đẹp, gia đình vui vẻ hòa hợp. Cung Điền Trạch có nhiều hung tinh thì có nhiều khách không tốt, ít quan hệ với hàng xóm, gia đình ảm đạm sầu muộn.

Thiên Cơ và Cự Môn đồng cung Mão – Dậu

Sản nghiệp không nhiều, không ở lâu cư một nơi, thường chuyển nhà, trong nhà thường có sự thay đổi vị trí các vật dụng. Bản thân thường chuyển đơn vị công tác, hoặc làm những công việc phải bôn ba ở ngoài nhiều. Người này đa phần sống ở ven các đại lộ, ven rừng, môi trường xung quanh tương đối ồn ào hỗn tạp. Tổ nghiệp suy thoái tự mình xây dựng, miếu vượng được nhiều cát tinh củng chiếu, trung niên có phúc tự mình xây dựng.

Thiên Cơ Cự Môn ở mão dậu, mão cung có tổ nghiệp, dậu cung tổ nghiệp không có phần.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Trong Đẩu Số, cung Điền trạch có hai ý nghĩa:

       Một là, quan sát các sao ở cung Điền trạch của nguyên cục, có thể biết được vận thế địa sản của cuộc đời mệnh tạo, như cha mẹ có để lại di sản không, sau khi thừa kế di sản có phá tán, thất bại không, và vận thế mua thêm nhà cửa đất đai của mệnh tạo như thế nào?

       Hai là, quan sát các sao cua cung Điền trạch của lưu niên hoặc đại hạn, có thể biết được năm (hoặc đại hạn) nào có thể mua thêm nhà cửa đất đai không, có dời chỗ ở không.

       Hai điểm vừa thuật ở trên, là ý nghĩa phổ biến của cung Điền trạch. Ngoài ra, cung Điền trạch còn có thể dùng để trợ giúp luận đoán vận gia trạch của lưu niên. Lúc này liên quan đến tính chất của tổ hợp các sao ở cung Điền trạch.

Thiên Cơ và Cự Môn đồng cung Mão – Dậu

Thiên Cơ thủ cung điền trạch, chủ về không giữ được đất đai nhà cửa của ông bà cha mẹ, nhưng có thể tự mua, Thiên Cơ Hóa Kị thì càng đúng ( lúc đất đai nhà cửa của ông bà cha mẹ tiêu tan, tính chất tự mua nhà cửa hơi thay đổi, tức là địa sản cũ không còn, mới tự mua địa sản mới ).

Thiên Cơ và Cự Môn đồng độ, gặp sát tinh, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, thì vì nhà cửa mà xảy ra bất hòa, tranh chấp. Trường hợp ở cung Mão thì cha mẹ có địa sản, ở cung Đậu thì không có.

Cung Điền Trạch Phi Hóa

Cung Điền Trạch Phi Hóa Lộc Nhập Cung Tử Nữ

  • Tài sản ấm tử tôn, tổ nghiệp truyền con cháu.
  • Dễ dàng mua bán bất động sản.
  • Phần nhiều trọ bên ngoài, chuyển nhà.
  • Nhà lớn.
  • Có thể theo sự dạy dỗ trẻ con.

Cung Điền Trạch Phi Hóa Quyền Nhập Cung Huynh Đệ

  • Hoàn cảnh gia đình tốt (hoặc gia thế có địa vị), gia đình hòa thuận, đời sống vật chất xa hoa.
  • Có thể tự mình mở tiệm kinh doanh. Dễ kết hợp cả nhà ở và tiệm/công ty làm một.
  • Kinh tế hùng hậu, sự thành công của anh em trong gia đình cũng trợ giúp về kinh tế cho ta.
  • Có thể thụ hưởng tiền tài từ bất động sản, thích hợp kinh doanh ngành nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, taxi. Cũng có lợi khi đầu tư vào bất động sản (có sao Thiên Tài).
  • Đề phòng gia tộc ngang ngược (vì Quyền xung Nô Bộc) xa hoa lãng phí.

Cung Điền Trạch Phi Hóa Khoa Nhập Cung Phu Thê

  • Thanh tĩnh điềm duyệt hôn nhân, coi trọng đời sống tinh thần.

Cung Điền Trạch Phi Hóa Kị Nhập Cung Tật Ách

  • Hoàn cảnh đời sống trắc trở. Đề phòng gia đình rối bời, nhà cửa không yên.
  • Mắc nợ, sinh hoạt vất vả, việc nhà hoặc kinh tế có áp lực lớn.
  • Không hợp tự mở tiệm tại nhà.
  • Dễ ít khi được thường xuyên ở nhà.

 

(11) Phúc Đức Cung

Liêm Trinh độc thủ tại Thân

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung Phúc đức có các cát tinh như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Thiên Lương, Lộc Tồn, Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương miếu vượng địa thủ trị thì một đời phúc lộc an khang, sống thọ. Nếu như có các sao Vũ Khúc, Phá Quân, Tham Lang, Cự Môn, Liêm Trinh, Thiên Cơ, Thất Sát, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh hãm địa thì một đời ít phúc khí, làm việc vất vả bôn ba, giảm phúc giảm thọ.


Các thiện tinh nếu như gặp Tứ sát Không Kiếp Hao Kị, thì phúc lộc sẽ giảm đi, thân tâm bất an, làm việc vất vả, tuổi thọ giảm.

Liêm Trinh độc thủ tại Thân

Chủ bận rộn hay suy nghĩ, không được nghỉ ngơi, nếu hội nhiều sao tốt thì trong cái bận rộn sinh phúc, thọ trên 70. Bình hòa thì hay bất an, phải bôn ba. Nếu hãm địa lại thêm Tứ sát thì nghèo khó. Tứ sát Đại Hao thủ chiếu thì vô phúc mà vất vả.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Tác dụng của cung Phúc đức trong Đẩu Số, là dùng để luận đoán hoạt động tư tưởng và sự hưởng thụ tinh thần của một người. Nếu so với cung Mệnh và cung Thân, có thể nói cung Mệnh và cung Thân là chủ về hưởng thụ vật chất, vận trình thực tế, còn cung Phúc đức thì chủ về những thứ trìu tượng hơn.

       Có một số người nhìn bề ngoài thì nhận thấy “công thành danh toại” khiến cho người ta phải ngưỡng mộ, nhưng có thể nội tâm của người này đang đau khổ mà người ngoài cuộc không biết. Đây là vì cung Mệnh và cung Thân người này tốt, nhưng cung Phúc đức lại có những khiếm khuyết đáng tiếc. Hoặc ngược lại, có một số người chỉ được no ấm mà thôi, nhưng nội tâm của họ lại rất vui vẻ, đây là do cung Mệnh và cung Thân không tốt mấy, mà cung Phúc đức lại tốt.

       Cung Phúc đức và cung Tài bạch đối nhau, có thể thấy sinh hoạt tinh thần vẫn không thể thoát khỏi sự ràng buộc của tài phú, tam phương hội chiếu với cung Phu Thê cũng đủ nhận thấy sự hưởng thụ tinh thần của một người có tương quan mật thiết với sinh hoạt hôn nhân, tam phương cũng tương hội với cung Thiên Di, là do hoạt động tư tưởng của con người ta, có thể ảnh hưởng đến động hướng của người đó. Ở quê nhà hay đi xa để tìm hướng phát triển, thường chỉ quyết định trong một hoài niệm.

       Những điều trình bầy trong “tiết” này sẽ lấy tình trạng tốt xấu của sự hưởng thụ tinh thần làm điểm chính yếu. Còn về phương diện hoạt động tư tưởng, do mỗi người được giáo dục ở nhiều mức độ khác nhau, thì rất khó tiến hành giảng giải một cách cụ thể, chỉ có thể đưa ra một số điểm chính yếu quan trọng.

       Khi luận đoán cung Phúc đức, lấy cung Phúc đức của Thiên bàn làm chủ, dùng để luận đoán bản chất tư tưởng và xu thế chủ yếu về phương diện hưởng thụ tinh thần của mệnh tạo. Cung Phúc đức của đại hạn và lưu niên (Nhân bàn) dùng để xem biến thiên theo từng năm mà xác định được sự thay đổi về tư tưởng, cách nhìn nhận về một vấn đề của người đó. Như cung Phúc đức của Thiên bàn là sao Tử vi, có nghĩa là Tử vi là bản chất, trong một vận trình gặp Thiên cơ ở cung Phúc đức của đại hạn hay lưu niên, thì tinh thần đôn hậu vững vàng của Tử vi vẫn không thay đổi, nhưng lại chủ về mệnh tạo sau khi lớn lên sẽ tăng thêm tính linh động, mưu trí và quyền biến. Như vậy khi luận đoán nhát thiết không được xem thường tính chất chủ yếu của cung Phúc đức nguyên cục.

Liêm Trinh độc thủ tại Thân

Liêm Trinh thủ cung phúc đức, thông thường chủ về bận rộn, vất vả, hoặc tuy giàu có nhưng vẫn nhiều lo lắng, thích bôn ba bận rộn; hoặc chủ về không chú ý cách bài trí nơi mình sinh sống, có cảm giác hỗn loạn. Liêm Trinh Hóa Kị thì càng đúng.

Liêm Trinh được hội sao cát, vẫn chủ về bận rộn, vất vả, nhưng nhiều hưởng thụ.

Liêm Trinh thủ cung phúc đức, chủ về thích cuộc sống căng thẳng, đầu óc cũng không được bình tĩnh, hơn nữa, tư tưởng thì như ngựa phi vượn nhảy, không thể chuyên chú suy nghĩ vào một vấn đề.

Cung Phúc Đức Phi Hóa

Cung Phúc Đức Tự Hóa Lộc

  • Số vô ưu vô lo, tùy duyên nên mất chí hướng, cảm tính lãng mạn, thờ ơ hững hờ, thỏa mãn hạnh phúc, thích nằm mơ, tiêu dao như thần tiên miền hải ngoại.
  • Đề phòng quá tiêu dao tự tại, không có mục tiêu, thiếu ý thức về gian khó, không có kế hoạch cho cuộc đời.
  • Gặp Tha cung phi Kị nhập vào (cùng loại tinh diệu “Lộc Kị biến thành Song Kị”), đem tiền cấp cho người khác, bị bán đứng mà lại còn giúp người ta đếm tiền.

Cung Phúc Đức Phi Hóa Quyền Nhập Cung Quan Lộc

  • Phòng thật muốn tham công lớn, đại thủ bút khoe khoang.
  • Tích cực, hăng hái, nhiều giao thiệp, xã giao.
  • Dễ dàng gây dựng sự nghiệp.
  • Thích nghi nhất chuyên nghiệp, chuyên kỹ đặc thù.
  • Cách cục kém phòng hảo cao vụ tiễn, nói thì hay làm thì dở.

Cung Phúc Đức Phi Hóa Khoa Nhập Cung Thiên Di

  • Tu dưỡng tốt, có phẩm vị.
  • Tâm khí bình hòa, công phu hàm dưỡng cao, đa phần được quý nhân giúp đỡ.
  • Có thể tiếp xúc với tôn giáo, triết học.

Cung Phúc Đức Phi Hóa Kị Nhập Cung Tật Ách

  • Cách cục kém thì không ý chí, tự hủy hoại mình, tính cách nửa này nửa nọ, tự yêu chính mình các loại…
  • Thường lo buồn sức khỏe, cách cục kém nghiệp lực bệnh.
  • Khổ hành tu trì, thân tâm hợp nhất (tôn giáo tinh).

 

(12) Phụ Mẫu Cung

Vô Chính Diệu ( Mượn Sao An Cung )

Sách Tử Vi Đại Toàn

Cung phụ mẫu có các cát tinh miếu vượng Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Tướng, Thiên Lương, Lộc Tồn, Tả Phụ, Hữu Bật thủ chiếu, thì chủ không khắc cha mẹ, tình cảm hòa thuận tốt đẹp, có thể hưởng tuổi thọ cao, tận đạo hiếu; nếu thấy có các sao Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Vũ Khúc, Cự, Liêm Trinh đều là điềm không tốt, nếu thêm các tứ sát hóa kỵ thì hình khắc tương đối nặng, chắc chắn duyên bạc, chủ cha mẹ sớm mất hoặc tình cảm không tốt.


Thông qua cung phụ mẫu có thể xem về mối quan hệ giữa bản thân với cấp trên, khi bị “hình khắc với cha mẹ” thì cũng sẽ có lúc chủ không hòa thuận được với cấp trên hay bị áp chế, khi “không hình khắc với cha mẹ” thì chủ “quan hệ với cấp trên tốt đẹp, được nhận sự đề bạt. Khi phán đoán lưu niên ở cung phụ mẫu, nếu cùng lúc đó cha mẹ đều đã mất thì có tác dụng tham khảo, nhưng đồng thời cần phải xem cả sự hung cát của cung quan lộc nữa.


Bản thân cung phụ mẫu nếu gặp tứ sát Không Kiếp hình kỵ thì đều chủ xấu, khắc. Nếu như từ nhỏ đã được gửi/cho người khác nuôi dưỡng, hoặc gửi nuôi nơi khác hoặc ở rể nhà bố mẹ vợ… tóm lại nếu không ở cùng với cha mẹ, ở xa cha mẹ ít khi gặp thì có thể tránh được hình khắc.


Phán đoán có hình khắc với cha mẹ hay không, thì trong lá số lấy Thái Dương là cha, Thái Âm là mẹ, Thái Dương ở cung hãm địa thì chủ mất cha trước, Thái Âm ở cung hãm địa thì chủ mất mẹ trước. Cả hai đều hãm địa thì lấy giờ sinh để luận đoán, ví dụ như người sinh ban ngày (người sinh giờ mão thìn tỵ ngọ mùi thân) thì cha mất trước, người sinh ban đêm (người sinh giờ dậu tuất hợi tý sửu dần) thì mẹ mất trước. Nhưng nếu như cả hai sao đều cư đất miếu vượng thì bất luận sinh ban ngày hay ban đêm đều chủ vượng cha vượng mẹ. Thái Dương miếu vượng mà Thái Âm bình hòa hãm địa thì người sinh ban đêm không vượng phu mà khắc mẹ, người sinh ban ngày không vượng mẹ mà lại khắc cha. Thái Âm miếu vượng mà Thái Dương bình hòa hãm địa, người sinh ban đêm vượng mẹ khắc cha, người sinh ban ngày không vượng mẹ mà còn khắc cha. Thái Dương miếu vượng thì người sinh ban ngày chủ cát, Thái Âm miếu vượng thì người sinh ban đêm chủ cát, cả hai đều vượng, thì người sinh đêm hay ngày cũng đều chủ cát.

Thái Âm và Thái Dương đồng cung tại Sửu – Mùi

Miếu vượng thì cha mẹ phúc lộc, không hình khắc, hội cát tinh, khi nhỏ được cha mẹ yêu thương, về mặt sự nghiệp, cha mẹ có quyền lực, quý và phú. Thái Dương bình hòa lạc hãm, khắc cha, hóa kỵ, cha mất trước. Hội nhiều sát tinh, cha mất sớm. Đồng cung với cô thần, quả tú thì khắc cha. Tam hợp hay đối cung có Thái Âm, hội Kình Đà, hình khắc. Thái Dương cư ngọ hội quyền lộc, cha đại phú hay đại quý. Hội nhiều sát tinh, trước khắc cha, sau khắc mẹ, nếu như Thái Âm cũng lại có thêm sát tinh, thì chủ trước khắc mẹ sau khắc cha, sớm xa cha mẹ hay mang hai họ hay ở rể, dâu có thể tốt hơn.

Thái Dương Thái Âm cư sửu mùi, không gặp tứ sát, cha mẹ song toàn, tình cảm tốt đẹp hòa thuận. Hội sát tinh, cư cung mùi không tốt với mẹ, cư sửu cung không thuận cho cha. Tứ sát thủ chiếu hội về, hình khắc, cha mẹ mất sớm.

Sách Tam Hợp Trung Châu Phái

Trong Đẩu Số, cung Phụ mẫu có 3 ý nghĩa về luận đoán:

       Một là, luận đoán duyên phận của mệnh tạo đối với cha mẹ, các tình huống sống chết tồn vong, cát hung họa phúc của cha mẹ.

       Hai là, mối quan hệ giữa mệnh tạo với thượng cấp, hay ông chủ như thế nào ?

       Ba là, trong xã hội phải có quan lại quản hạt, hoặc cấp chủ quản trong công việc, họ có thể ước thúc hành động của mệnh tạo trong một thời kỳ. Những quan lại quản hạt hoặc cấp chủ quản trong công việc này có mối quan hệ như thế nào đối với mệnh tạo ?

       Trong ba điểm trên, cung Phụ mẫu của Thiên bàn (hoặc Địa bàn) chủ yếu dùng để luận đoán điểm “Một”.

       Sau khi luận đoán được tính chất chủ yếu, vẫn cần phải căn cứ vào cung Phụ mẫu của từng Đại hạn và mỗi một lưu niên (Nhân bàn) để luận đoán, để xác định cát hung họa phúc của cha mẹ mỗi thời kỳ.

       Còn điểm “Hai” và “Ba” chủ yếu được dùng để luận đoán cung Phụ mẫu của đại hạn hoặc lưu niên (Nhân bàn). Nhưng cần phải ứng dụng một cách linh hoạt những tính chất thuật ở Tiết này.

       Ví dụ như Thiên Cơ thủ cung Phụ Mẫu, khi có Thiên Mã đồng độ hoặc xung chiếu, thì chủ về còn bé đã chia ly với gia đình. Lúc gặp kết cấu tinh hệ này ở cung Phụ mẫu của lưu niên, lại có thể là một vận trình ly biệt do thượng cấp đề bạt mệnh tạo, hoặc chủ về mệnh tạo rời khỏi công ty mình đang làm.

       Ví dụ khác, “Thiên đồng Cự môn” đồng độ thủ cung Phụ mẫu chủ về cha con bất hòa. Lúc gặp kết cấu tinh hệ này ở cung Phụ mẫu của lưu niên, thì có thể trong năm đó, chủ về có sự bất hòa với người chủ của mình.

       Hiểu rõ ý nghĩa thực sự của cung Phụ mẫu thì khi luận đoán mới phát huy tác dụng. Trong lúc ứng dụng thực tế, người nghiên cứu nhát định sẽ cảm thấy bối rối khi gặp tổ hợp các sao ở cung Phụ mẫu của đại hạn hoặc lưu niên, không biết tính chất của tinh hệ rốt cuộc dùng để đại biểu cho cha mẹ, hay đại biểu cho thượng cấp, hay là đại biểu cho cơ cấu chủ quản hoặc quan lại quản hạt?

       Trung Châu phái cho rằng, thông thường có thể dùng biện pháp xem kèm cung vị khác để giải quyết, như xem kèm cung Quan để luận đoán tình trạng quan hệ với thượng cấp, xem kèm cung Điền trạch để luận đoán tình trạng cát hung của cha mẹ, xem kèm cung Phúc đức để luận đoán tình trạng giao thiệp với với cơ cấu chủ quản hạt, cả ba đều nên xem kèm cung Mệnh để luận đoán.

       Đương nhiên, cũng có một số tình hình thực tế vốn không có gì phức tạp. Ví dụ một người qua tuổi trung niên, có thể cha mẹ đã qua đời, bản thân lại là ông chủ, thế thì tính chất các sao ở cung Phụ mẫu của đại hạn và lưu niên đương nhiên chỉ liên quan đến đơn vị quản lý hạt. Ví dụ Thiên Lương nhập thủ cung Phụ mẫu của lưu niên, có Thiên Khôi Thiên Việt đồng độ hoặc hội chiếu, vốn chủ về mệnh tạo được cha mẹ che trở, lúc này sẽ biến thành có thể được cơ quan giúp đỡ.

       Hiểu rõ những nguyên tác luận đoán vừa thuật ở trên, người nghiên cứu Đẩu Số có thể tự luận thuật một cách linh hoạt.

Thái Âm và Thái Dương đồng cung tại Sửu – Mùi

Thái Dương thủ cung phụ mẫu, nhập miếu, cha mẹ không có hình khắc, nếu lại gặp tam cát hóa, sao phụ tá cát hội chiếu hay đồng độ, thì chủ về được cha mẹ thương yêu, còn chủ về cha mẹ giàu có, nắm quyền sự nghiệp.

Nếu Thái Dương lạc hãm, thì cha bất lợi. Nếu lạc hãm Hóa Kị mà gặp tứ sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình thì cần phải xem xét Thái Âm trong mệnh bàn có sát tinh đồng độ hay không. Nếu có sát tinh, chủ về khắc mẹ, nếu không có sát tinh mà còn có cát tinh và các sao Thiên Lương, Thiên Thọ, Giải Thần, Thiên Phủ đồng độ hoặc hội chiếu thì chủ về khắc cha.

Thái Âm và Thái Dương đồng độ ở cung Sửu, bất lợi về cha, đồng độ ở cung Mùi, bất lợi về mẹ. Thái Dương Hóa Kị thông thường chủ về cha bị tai nạn bệnh tật; Thái Âm Hóa Kị thông thường chủ về mẹ bị tai nạn bệnh tật.

Cung Phụ Mẫu Phi Hóa

Cung Phụ Mẫu Phi Hóa Lộc Nhập Cung Quan Lộc

  • Trưởng bối cấp trên dìu dắt ta.
  • Lợi cho công chứng, công ăn việc làm, thi lên chức, cũng lợi cho công chức.
  • Lợi cho giao tế trong cơ quan nghiệp vụ, cũng lơi cho trưởng bối đối tượng buôn bán.
  • Có thể học trí dụng, cao học kinh lịch có thể lương cao chức cao.
  • Ngoại (phu) gia vận tốt.

Cung Phụ Mẫu Phi Hóa Quyền Nhập Cung Tử Nữ

  • Tận lực hết lòng dạy dỗ bồi dưỡng cho con cái.
  • Con cái gặp được người thầy nghiêm khắc.

Cung Phụ Mẫu Phi Hóa Khoa Nhập Cung Tật Ách

  • Tu dưỡng tốt, tâm cảnh thản nhiên.

Cung Phụ Mẫu Phi Hóa Kị Nhập Cung Tài Bạch

  • Cha mẹ tiết kiệm, thu nhập cố định hoặc cha mẹ chăm chỉ kiếm tiền hoặc cha mẹ thiếu tiền.
  • Cha mẹ bận tâm ta về khoản tiền bạc.
  • Người khác mượn tiền ta thì dễ mượn lớn trả nhỏ, dây dưa không trả.(thu không đủ chi).
  • Phòng đứng ra bảo đảm cho người khác, thuộc lòng hai chữ thua thiệt ”phá tài” (văn thư cung).
  • Phòng áp lực vay tiền, giấy phạt, bị lừa tiền.
  • Học khổ cực hoặc tự trù học phí.
  • Ngoại (phu) gia cảnh thanh bạch.

Chương 62: Sinh Mổ Và Sinh Thường
Chương 64: Phân Tích Lá Số Mẫu
Chia Sẻ Bài Viết