Chương 64: Phân Tích Lá Số Mẫu

Bản thân tôi nhìn nội dung ở bên chương “Luận Giải Lá Số Mẫu” cũng cảm thấy muốn hoa cả mắt. Bây giờ chương này chúng ta sẽ phân tích thông tin dựa vào vào những lý thuyết cơ bản.

Đầu tiên ta xem “Sự Bất Thường” sẽ nằm ở cung nào.


Có 4 cung đó là: Mệnh – Mẫu – Phúc và Điền.

Cung Phụ Mẫu

Cung Phụ Mẫu là điều ta nên quan tâm, vì con người khi sinh ra đời đều được cha mẹ nuôi dưỡng và dạy dỗ, một gia đình hạnh phúc cũng được quyết định bở cha mẹ. Cung Phụ Mẫu vì sao lại có “sự bất thường” ở đây ?

Đầu tiên ta nhận thấy rằng cung Phụ Mẫu không có Chính Tinh nào nên được gọi là Vô Chính Diệu.


Vậy chứng tỏ cung Phụ Mẫu của đương số không có căn bản vững, hoặc nói nôm na là không có gốc.

  • Giống như căn nhà mà không có cửa, nếu bị cơn gió lốc thổi vào một cái thì căn nhà ấy chắc chắn sẽ bị tan tác.
  • Trường hợp gặp Bão, nhẹ thì tối ngủ sẽ được “ngắm một bầu trời đầy sao”, nặng thì thành “homeless”.

Quan sát tiếp chúng ta sẽ thấy ngay “sự rủi ro” cũng có mặt ở trong đây. Bản chất của “sự rủi ro” nó không giới hạn ở việc là đa tai ( nhiều tai nạn ), mà nó còn mang tính chất “đả kích”, hiểu đơn giản là nó có thể làm tổn thương Cung Vị và các Tinh Diệu có mặt trong cung vị đó.

Để xác định được “sự rủi ro” sẽ thể hiện về mặt nào thì đối với người mới học Tử Vi là một thử thách rất lớn vì mỗi đời người là mỗi nhân quả.

Sách Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, có viết như sau:

Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phụ Mẫu


Cha mẹ mất sớm, chết sớm, chết thảm, bị hình tù, ly cách.


Không nhờ vả được cha mẹ mà có khi phải gánh nợ di truyền của cha mẹ để lại.

Sách Tử Vi Đại Toàn do AnKhoa biên soạn, có nhận định như sau:

Địa Không, Địa Kiếp ở cung Phụ Mẫu

Tính cách ít chịu ảnh hưởng của cha mẹ, bản thân không thể chấp nhận cách giáo dục của cha mẹ, có sự phản kháng, nhưng sẽ hiếu dưỡng cha mẹ.

Duyên với cha mẹ không sâu đậm, bản thân không sống cùng cha mẹ, ít khi ở cùng nhau.

Thông thường khi áp dụng những câu trên để luận đoán thì phải cân nhắc thật kỹ, vì vốn dĩ sự tác động qua lại giữa các tinh diệu sẽ tạo nên thêm nhiều sự khác biệt so với tính chất gốc của chúng.

Rất khó để nhận định “sự rủi ro” có ảnh hưởng như thế nào thì chúng ta nên tiếp tục phân tích các dữ liệu có trong cung.

Chữ “Tiệt” mang ý nghĩa phổ thông:
– Cắt Đứt
– Dứt Hẳn
– Một Đoạn
Chữ “Lộ” mang ý nghĩa phổ thông:
– Đường Đi
– Đông Lộ – Tây Lộ – Nam Lộ – Bắc Lộ

Hiểu đơn giản “TIỆT LỘ – KHÔNG VONG” có nghĩa là “Lộ Trình Bị Cắt Đứt Đi Một Đoạn Nào Đó”…

Sự ảnh hưởng của “Tuần và Tiệt” rất mạnh mẽ vì nó đại diện cho sự thiếu sót về mặt can chi.

Mỗi tháng âm lịch chia làm 3 tuần, mỗi tuần gồm 10 ngày ( 10 năm cũng thế ) bằng với thiên can nhưng có đến 12 địa chi nên thiếu hai địa chi nên được gọi là Tuần Trung Không Vong.

Hàm ý đơn giản hơn là hai cung có Tuần án ngữ là hai cung “Thời Gian chưa đến”, phải đợi hết Giáp đó qua Giáp khác của Tuần sau thì mới đến, mới thành thật. Hầu dư là có cũng như không, tốt thì chưa tốt, xấu thì chưa xấu… 

Về phần Tiệt Lộ Không Vong thì sách Tinh Lịch Khảo Nguyên, Phụ Luận, viết: “Triệt Lộ Không Vong gặp Nhâm Quý vậy.  Đi đường mà gặp nước thời không đi được. Như Can Giáp dùng Ngũ Thử Độn khởi Giáp Tí, thuận đi đến Nhâm Thân, Quý Dậu, vậy nên ngày Giáp lấy Thân Dậu là Tiệt Lộ Không Vong. Ngoài ra phỏng theo như thế.”

Theo Kỳ Môn Độn Giáp lấy Bính Đinh là hai Kỳ rất xem trọng, Nhâm Quý là Thuỷ khắc Bính Đinh hai Kỳ, nên đó là chỗ kỵ. Cái câu ” Đi đường mà gặp nước thời không đi được ” ví như đi đường bỗng dưng bị đứt đoạn vì bị nước ( sông lớn ) ngăn cho không đi được nữa nên gọi là Tiệt Lộ.

Khi các bạn học tới phần Ứng Kỳ của Bói Dịch thì các bạn sẽ hiểu được cách dùng của Không Vong vì bản thân nó còn chia ra Thực Không và Xung Không.

Khi “sự rủi ro” gặp anh chàng “Tiệt” thì giống như “sự rủi ro sẽ bị cắt bớt đi một phần nào đó”. Khi ấy Địa Không sẽ bị cắt bỏ một số tính Xấu vốn dĩ ban đầu của nó nhưng nên nhớ bản chất của nó sẽ được “trỗi dậy” khi gặp Thực Không và Xung Không. ( Hiểu đơn giản nếu Vận Hạn của lá số đi đúng tới điểm nhất định thì Địa Không sẽ gây họa rất mạnh mẽ ).

Thực tế Cha của đương số vào năm 2014 có nhập viện trong tình trạng nguy kịch vì bị Thổ Huyết rất nặng.

Để có thêm nhận định thì ta sẽ thấy một điều rõ ràng hơn nữa là cung Phụ Mẫu phi hóa Kỵ nhập cung Tài Bạch sẽ mang ý nghĩa “Cha mẹ tiết kiệm, thu nhập cố định hoặc cha mẹ chăm chỉ kiếm tiền hoặc cha mẹ thiếu tiền.”

Xác nhận lại với đương số:

– Cha Mẹ của đương số ít quan tâm đến đương số.
– Cha Mẹ buôn bán ngoài chợ.
– Cha Mẹ của đương số chăm chỉ kiếm tiền và gia đình cũng tương đối thiếu thốn.

Tuy nhiên “Sự Bất Thường” nó còn thể hiện ở một quan điểm khác, đó chính là về Cha và Mệ của đương số.


– Cha Mẹ đều đã có một đời chồng và đời vợ trước khi họ gặp nhau và sinh ra đương số.

Cung Mệnh

Tinh diệu Thất Sát thuộc âm kim, hóa khí làm “quyền”, cũng là tướng tinh bên cạnh hoàng đế, chủ về “túc sát”, (nghiêm và có sát khí), cho nên cuộc đời cô độc, phần nhiều không có tri kỉ.

Tính cách của con người được hình thành từ việc thừa hưởng từ gen di truyền của cha mẹ và sự tiếp thu từ hoàn cảnh sống.

Tiếp nhận thông tin của cung Phụ Mẫu rằng kinh tế của gia đình đương số không được tốt thì hoàn cảnh sống cũng không tốt, điều kiện học hành cũng thiếu thốn.

Nên nhớ rằng Thất Sát được ví như tướng tinh bên cạnh hoàng đế, chủ về “túc sát”, (nghiêm và có sát khí)…

Bản thân không được phát triển, lại thêm tự ti về cuộc sống, bản chất “túc sát” lại không phù hợp với môi trường sống.

Tiếp đến cung Mệnh phi hóa Kỵ nhập cung Thiên Di, phi hóa Kỵ xung cung Mệnh mang ý nghĩa đương số là một người “Hướng Nội” và thuộc dạng là mẫu phụ nữ “an phận thủ thường” (phụ nữ truyền thống).

Tuy nhiên tính chất của Thất Sát là cương cường và lạnh lùng, mà tính chất này phù hợp với đàn ông hơn là phụ nữ.

Về “sự bất thường” ở cung Mệnh cũng giải thích tương tự như cung Phụ Mẫu. “Tiệt” sẽ kìm hãm một số tính chất của sao Thất Sát.


Bây giờ chúng ta đã có cơ sở để nhận định rằng:

  • Đương số là một người thông minh nhưng không phát huy được tài năng.
  • Đương số có thể không có nhiều tri kỷ hoặc ít bạn bè.
  • Đương số là mẫu người sống nội tâm, hướng nội.
  • Đương số vừa “dịu dàng” như phụ nữ, vừa “khó tính” như đàn ông.

Xác nhận lại với đương số:


– Những điều trên đều đúng.

Tôi nghĩ đến đây thì các bạn cũng đã hiểu được phần nào cách phân tích lá số rồi đấy. Hãy mở rộng “thế giới quan” của mình rộng hơn vì huyền học không bao giờ có điểm cuối.

Chúc các bạn vui vẻ với những kiến thức mình đã học.

Chương 63: Luận Giải Lá Số Mẫu
Chương 65: Lời Cảm Ơn
Chia Sẻ Bài Viết