Chương 9: Thập Tứ Tinh Diệu

I. Thập Tứ Tinh Diệu – 14 Chính Tinh

Đẩu số tinh diệu (gọi tắt: sao) tổng có 14 Tinh Diệu phân chia làm Nam Đẩu Tinh và Bắc Đẩu Tinh. Tất cả đều phân chia thuộc tính Âm – Dương và Ngũ Hành.

Vòng Tử Vi có 6 sao: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng và Liêm Trinh.

Vòng Thiên Phủ có 8 sao: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát và Phá Quân.

II. An Sao

Mười bốn (14) Sao chính trong Tử Vi đều phụ thuộc vào vị trí của Sao Tử Vi. Theo sách Cổ muốn tìm vị trí của sao Tử Vi thì chúng ta dựa vào hàng Can của Tuổi và Cung an Mệnh để lập Cục, sau đó tiếp tục dựa vào ngày sinh của bảng ghi Cục thì ta sẽ tìm được Vị Trí của sao Tử Vi (sách Tử Vi nào cũng có những Bảng này).

 

Bảng an sao Tử Vi theo Cục và Ngày Sinh

 

 

 

 

 

An Sao Các Sao Khác

Vòng Tử Vi có 6 sao: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng và Liêm Trinh.

Sau khi an Tử Vi, đếm theo chiều thuận:

  • Cách Tử vi 3 cung, an Liêm Trinh.
  • Cách Liêm Trinh 2 cung, an Thiên Đồng.
  • Tiếp theo Thiên Đồng là Vũ Khúc.
  • Sau Vũ Khúc là Thái Dương.
  • Cách Thái Dương một cung, an Thiên Cơ.

Vòng Thiên Phủ có 8 sao: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát và Phá Quân.

  • Muốn biết sao Thiên Phủ ở cung nào, thì cứ lấy cung Dần là cung Số Một tùy theo đếm thuận hay nghịch đến sao Tử Vi ở cung số mấy thì an Thiên Phủ ngược lại ở cung số đó.
  • Riêng cung Dần và cung Thân thì Tử Vi và Thiên Phủ bao giờ cũng đồng cung.
  • Hai cung Tỵ và Hợi thì Tử Vi và Thiên Phủ bao giờ cũng đối nghịch nhau nếu Tử Vi ở Tỵ thì Thiên Phủ ở Hợi hoặc ngược lại.
  • Nghĩa là sao Thiên Phủ cách an giống hệt sao Tử Vi, nhưng ngược lại.

Ví dụ: Tử Vi ở cung Ngọ (từ cung Dần đến cung Ngọ là 5 cung tính thuận) thì an Thiên Phủ ở cung Tuất vì từ cung Dần đến cung Tuất là 5 cung đếm ngược lại.

Sau khi an Thiên Phủ theo chiều thuận, lần lượt mỗi cung an sao theo thứ tự:

  • Thái Âm
  • Tham Lang
  • Cự Môn
  • Thiên Tướng
  • Thiên Lương
  • Thất Sát
  • Cách Thất Sát 3 cung, an Phá Quân.

 

Sau đây là bảng An 14 Chính Tinh dựa theo sao Tử Vi

 

III. Ý Nghĩa Cơ Bản Của Thập Tứ Tinh Diệu

(1) Tử Vi

Tử Vi thuộc Kỷ Thổ – Âm Thổ ( Bắc Đẩu Vương Đế Tinh ).

Tôn quân ở trên trời, hay còn gọi là Đế Tinh, chủ về nắm giữ nhưng điều quan trọng của tạo hóa, là chủ tể của nhân sinh, cai quản Ngũ Hành, nuôi dưỡng vạn vật, mệnh con người lấy nó để lập định số, an các vòng sao. Tinh diệu mấu chốt tạo định nên Số của Mệnh con người.

Hóa khí là tôn quý, là tước lộc.

 

(2) Thiên Cơ

Thiên Cơ thuộc Ất Mộc – Âm Mộc ( Nam Đẩu Tinh ).

Chủ về tính toán và mưu lược, đặc biệt khi thiện – khi ác.

Hóa khí gọi là thiện lương, là trí tuệ.

 

(3) Thái Dương

Thái Dương thuộc Bính Hỏa – Dương Hỏa ( Trung Thiên Tinh Đẩu ).

Vốn là Mặt Trời, chưởng quản ánh sáng và biểu nghi của tạo hóa, chủ về người có quý khí, giỏi cả văn lẫn võ, thường là tượng trưng cho phái Nam và là chủ tinh của người sinh ban ngày.

Hóa khí là quyền quý.

 

(4) Vũ Khúc

Vũ Khúc thuộc Tân Kim – Dương Kim ( Bắc Đẩu Tinh ).

Chủ về tiền tài, cương nghị chính trực, chủ quan, quả tú.

Hóa khí là tiền tài.

 

(5) Thiên Đồng

Thiên Đồng thuộc Nhâm Thủy – Dương Thủy ( Nam Đẩu Tinh ).

Phúc Tinh, chủ hưởng thụ và ý chí.

Hóa khí là phúc đức, là ích thọ.

 

(6) Liêm Trinh

Liêm Trinh thuộc Đinh Hỏa – Âm Hỏa ( Bắc Đẩu Tinh ).

Chủ về tình cảm và lý trí, có tên gọi khác là Thứ Đào Hoa. Vốn dĩ Liêm Trinh còn chủ về Nắm Giữ Quyền Lệnh nên mới có tên gọi là Tù Tinh, đặc biệt gặp thiện thì thành thiện, gặp ác sẽ thành ác.

Hóa khí là tù, là giam cầm.

 

(7) Thiên Phủ

Thiên Phủ thuộc Mậu Thổ – Dương Thổ ( Nam Đẩu Vương Đế Tinh ).

Chúa tể của “Lộc khố” (kho tiền), là tinh diệu nắm giữ về phúc quyền.

Hóa khí là quyền lệnh.

 

(8) Thái Âm

Thái Âm thuộc Quý Thủy – Âm Thủy ( Trung Thiên Tinh Đẩu ).

Vốn là Mặt Trăng, là tinh túy của nước, chủ về dịu dàng thanh khiết, ngọc khiết băng tâm, bản năng người mẹ “muốn xây tổ ấm”, là chủ Điền trạch và là chủ tinh của người sinh ban đêm.

Hóa khí là phú, giàu có.

 

(9) Tham Lang

Tham Lang thuộc Quý Thủy – Âm Thủy ( Bắc Đẩu Tinh).

Khí thuộc Giáp Mộc – Thể thuộc Quý Thủy, được gọi là sao Chính Đào hoa, chủ về Tình Dục và Vật Dục, là tiêu chuẩn đo lường về họa phúc, thiện ác, định gian trá dối lừa.

Hóa khí là đào hoa.

 

(10) Cự Môn

Cự Môn thuộc Quý Thủy – Âm Thủy ( Bắc Đẩu Tinh ).

Vừa là sao Âm Tinh (Âm tinh: “Âm” trong nghĩa âm dương, “Tinh” trong nghĩa tinh thần, xin phép giữ nguyên hai chữ “Âm Tinh”, tin rằng mọi người tự có kiến giải), là sao “Ám”. Bản chất “Ám” thể hiện ở chỗ chấp chưởng thị phi, ám muội, nghi hoặc (ngờ vực cái đúng), tiến thoái lưỡng nan, lừa gạt thiên địa.

Hóa khí là “Ám”.

 

(11) Thiên Tướng

Thiên Tướng thuộc Nhâm Thủy – Âm Thủy ( Nam Đẩu Tinh ).

Được ví như cái Ấn của Hoàng Đế, chủ nắm giữ về Chức Tước, Phúc Thiện. Thường đại diện cho các vị Quan Văn, phò tá cho Hoàng Đế anh minh thì là cứu tinh , còn phò tá cho Hôn Quân thì nỗi ác mộng của Bá Tánh.

Hóa khí là “Ấn”

 

(12) Thiên Lương

Thiên Lương thuộc Mậu Thổ – Dương Thổ ( Nam Đẩu Tinh ).

Chủ về Phúc thọ, về Phụ Mẫu, vì có tính chất của cái bóng che chở, tức là “Ấm” ( che chở của cha mẹ, bề trên… )

Hóa khí là “Ấm”.

 

(13) Thất Sát

Thất Sát thuộc Canh Kim – Dương Kim ( Bắc Đẩu Tinh ).

Chủ về quyền binh, tướng soái, phong hiển, cô thần của sự thành bại. Tượng trưng kinh sợ, hắc ám, thần kỳ, hiếu động, hướng ngoại, có tinh thần trọng nghĩa, nặng nghĩa khí.

Hóa khí là “Sát”.

 

(14) Phá Quân

Phá Quân thuộc Quý Thủy – Âm Thủy ( Bắc Đẩu Tinh ).

Chủ về hao tổn, cũng có tính chất tương tự như Thất Sát là cô khắc tinh nhưng khác ở chỗ nóng vội, nhiều ham muốn, cá tính cường, không chịu tiếp thu.

Hóa khí là “Hao”.

 

 

IV. Bố Cục Của Thập Tứ Tinh Diệu

– Sau khi đã học phần an sao, ta thấy cách xếp đặt của 14 chính tinh đối xứng nhau qua Trục Tỵ – Hợi.

– Với cách phối trí đó người xưa thường chia ra 4 Bộ Sao thông dụng:

Tử Vi – Thiên Phủ – Vũ Khúc – Thiên Tướng – Liêm Trinh.
Thiên Cơ – Thái Âm (Nguyệt) – Thiên Đồng – Thiên Lương
Thất Sát – Phá Quân – Tham Lang
Cự Môn – Thái Dương (Nhật)

* Đặc biệt cung Mệnh không có chính tinh nào thì được gọi là Mệnh Vô Chính Diệu.

– Tuy nhiên 4 bộ trên chỉ nói về các Cách Cục tổng quát, nếu các sao ở 4 bộ trên có đồng cung với nhau sẽ tạo thành những Cách Cục khác nữa.

Ví dụ:

– Vũ Khúc với Thất Sát ở Mão hoặc Dậu ( gọi tắt Vũ Sát – Mão Dậu )

– Tử Vi với Thất Sát ở Tỵ hoặc Hợi ( gọi tắt Tử Sát – Tỵ Hợi )

– Tử Vi với Tham ở Mão hoặc Dậu ( gọi tắt Tử Tham – Mão Dậu )

– Tử Vi với Phá Quân ở Sửu hoặc Mùi ( gọi tắt Tử Phá – Sửu Mùi )

Chương 8: Sinh Khắc Giữa Cục Và Bản Mệnh
Chương 10: Lục Cát Tinh
Chia Sẻ Bài Viết